A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: Only variable references should be returned by reference

Filename: core/Common.php

Line Number: 257

Phần 2 - Quy hoạch chung xây dựng thủ đô HN đến năm 2030, tầm nhìn 2050

Phần 2 - Quy hoạch chung xây dựng thủ đô HN đến năm 2030, tầm nhìn 2050

 
Phần 2 - Quy hoạch chung xây dựng thủ đô HN đến năm 2030, tầm nhìn 2050

Tác giả:

Nhà xuất bản: --

Mã sách: QH TT HN3-P2

Quy hoạch chung xây dựng thủ đô HN đến năm 2030, tầm nhìn 2050


Tài liệu gồm 5 phần:

Phần 1: Từ chương 1 đến chương 5.

Phần 2: Từ chương 6 đến chương 9.

Phần 3: Chương 10.

Phần 4; Chương 11 đến chương 14.

Phần 5: Chương 15 đến chương 16; Danh mục hồ sơ bản vẽ thu nhỏ.

Tổng quan về tài liệu: Xem tại đây.

 


MỤC LỤC (Phần 2: Từ chương 6 đến chương 9)

VI.         ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN

6.1.        Định hướng phát triển tổng thể không gian đô thị

6.1.1.    Chiến lược phát triển không gian Thủ đô Hà Nội

6.1.2.    Hà Nội trong mô hình cấu trúc phát triển không gian Vùng Thủ đô Hà Nội

6.1.3.    Mô hình phát triển không gian Thủ đô Hà Nội

6.1.4.    Định hướng phát triển không gian tổng thể.

6.1.4.1. Phân bố mạng lưới không gian đô thị-nông thôn

6.1.4.2. Phát triển hệ thống giao thông đô thị đồng bộ và hiện đại

6.1.4.3. Phân bố hệ thống trung tâm đô thị

6.1.4.4. Liên kết các không gian xanh

6.1.4.5. Các trục không gian chủ đạo

6.1.4.7. Quy hoạch hai bên sông Hồng

6.2.        Đô thị trung tâm

6.2.1.    Khu vực nội đô

6.2.2.    Chuỗi khu đô thị phía Đông vành đai 4 (khu vực phía Nam sông Hồng)

6.2.3.    Chuỗi khu đô thị phía Bắc sông Hồng:

6.3.        Đô thị vệ tinh

6.3.1.    Đô thị vệ tinh Sóc Sơn:

6.3.2.    Đô thị vệ tinh Sơn Tây

6.3.3.    Đô thị vệ tinh Hòa Lạc

6.3.4.    Đô thị vệ tinh Xuân Mai

6.3.5.    Đô thị vệ tinh Phú Xuyên

6.4.        Thị trấn

6.4.1.    Tổng quan chung

6.4.2.    Định hướng phát triển chung

6.4.3.    Các thị trấn nằm trong vùng đô thị hóa

6.4.4.    Thị trấn sinh thái

6.4.4.1. Thị trấn sinh thái Phúc Thọ

6.4.4.2. Thị trấn sinh thái Quốc Oai

6.4.4.3. Thị trấn sinh thái Chúc Sơn

6.4.5.    Các thị trấn huyện lỵ.

VII.       QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

7.1.        Quan điểm sử dụng đất

7.2.        Chỉ tiêu sử dụng đất

7.2.1.    Nguyên tắc

7.2.2.    Căn cứ xác định chỉ tiêu sử dụng đất

7.3.        Quy hoạch sử dụng đất

7.3.1.    Nhu cầu mở rộng quỹ đất phát triển đô thị

7.3.2.    Tổng hợp đất xây dựng tại thành thị - nông thôn

VIII.           ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH HỆ THỐNG HẠ TẦNG KINH TẾ VÀ HẠ TẦNG XÃ HỘI

8.1.        Định hướng quy hoạch hệ thống hạ tầng kinh tế

8.1.1.    Định hướng quy hoạch hệ thống công nghiệp

8.1.2.    Định hướng quy hoạch hệ thống dịch vụ thương mại

8.1.3.    Định hướng quy hoạch hệ thống dịch vụ du lịch

8.1.4.    Định hướng quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp

8.2.        Định hướng quy hoạch hạ tầng xã hội

8.2.1.    Định hướng quy hoạch hệ thống công sở

8.2.2.    Định hướng phát triển nhà ở

8.2.3.    Định hướng hệ thống các viện, trung tâm nghiên cứu,văn phòng làm việc

8.2.4.    Định hướng phát triển khu vực an ninh quốc phòng

8.2.5.    Định hướng quy hoạch hệ thống giáo dục đào tạo

8.2.5.1. Mạng lưới các trường đại học và cao đẳng:

8.2.5.2. Hệ thống giáo dục phổ thông

8.2.6.    Định hướng quy hoạch hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng

8.2.7.    Định hướng quy hoạch hệ thống công trình văn hóa

8.2.8.    Định hướng quy hoạch hệ thống thể dục thể thao

IX.         ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

9.1.        Tổng quan chung

9.2.        Những vấn đề cần giải quyết

9.3.        Nguyên tắc phát triển

9.4.        Định hướng chung

9.5.        Định hướng cụ thể

9.5.1.    Về dân cư – Lao động

9.5.2.    Mô hình điểm dân cư nông thôn

9.5.3.    Về nhà ở nông thôn

9.5.4.    Về hạ tầng xã hội

9.5.5.    Về hạ tầng kỹ thuật

9.5.6.    Về giải quyết môi trường nông thôn


 

 

VI.              ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN

6.1.            Định hướng phát triển tổng thể không gian đô thị

6.1.1.      Chiến lược phát triển không gian Thủ đô Hà Nội

Một loạt các chiến lược phát triển Thủ đô Hà Nội được đặt ra để đưa Hà Nội trở thành thành phố Xanh-Văn hiến-Văn minh-Hiện đại và đạt được các mục tiêu xây dựng Thủ đô theo Pháp lệnh Thủ đô.  

Chiến lược 1: Thiết lập lại cấu trúc đô thị

Phát triển hệ thống đô thị vệ tinh và các thị trấn sinh thái có ranh giới rõ ràng nhằm đáp ứng sự tăng trưởng dân số và việc làm trong thời gian tới của Hà Nội. Bằng mọi cách hạn chế sự phát triển lan rộng và thiếu kiểm soát thông qua việc xây dựng các vành đai xanh có ranh giới rõ ràng xung quanh khu vực thành phố.

Chiến lược 2: Tăng cường phát triển hệ thống giao thông

Phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, trong đó sử dụng giao thông công cộng là phương tiện chủ yếu để kết nối đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh nhằm đảm bảo hoạt động kinh tế - xã hội thuận lợi, tính cạnh tranh cũng như bảo vệ môi trường.

Chiến lược 3: Phát triển hệ thống trung tâm đô thị hiện đại, năng động và hiệu quả

Phát triển hệ thống các trung tâm đô thị hiện đại, có tính cạnh tranh để thu hút đầu tư đa dạng và chất lượng là động lực chính cho các đô thị vệ tinh. Đồng thời đây cũng là nơi tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho Thành phố và hạn chế tốc độ di dân tới đô thị trung tâm.

Chiến lược 4: Tăng cường bản sắc, hình ảnh riêng về Thành phố

Tăng cường bản sắc, hình ảnh riêng về bằng cách thiết lập trục không gian gồm “mặt nước”, “cây xanh” và “văn hoá”, phấn đấu 70% diện tích mở rộng của Thành phố được dành cho không gian xanh kết hợp phát triển nông lâm nghiệp theo hướng chất lượng cao và công nghiệp hóa.

Chiến lược 5: Nâng cấp khu vực đô thị cũ

Nâng cấp và khôi phục khu vực đô thị trung tâm (nội đô) và cả những khu vực ngoại vi. Tăng cường kiểm soát phát triển dân số và xây dựng khu vực này.

Chiến lược 6: Ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ thiên tai và các thảm hoạ khác do con người gây ra.

Chiến lược 7: Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản

Chiến lược 8: Tăng cường thể chế quản lý đô thị và xây dựng năng lực quản lý đô thị hiệu quả.

Chiến lược 9: Tạo dựng và tăng cường nguồn  lực phát triển đô thị.

Các chiến lược sẽ được cụ thể hóa bằng các giải pháp về: Phân bố các không gian đô thị , nông thôn; giải pháp về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bảo tồn di sản, kiểm soát môi trường sau đây:

6.1.2.      Hà Nội trong mô hình cấu trúc phát triển không gian Vùng Thủ đô Hà Nội

Vùng Thủ đô Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 05/5/2008 là vùng đô thị đa cực tập trung: liên kết không gian giữa thành phố Hà Nội (đô thị trung tâm) với các vùng, các tỉnh xung quanh (vùng phát triển đối trọng), trong đó các đô thị tỉnh lỵ (đô thị đối trọng) là các hạt nhân của vùng phát triển đối trọng.

Đô thị trung tâm[1] đóng vai trò chủ đạo của vùng, chủ yếu tập trung các trung tâm chính quan trọng như Trung tâm chính trị, hành chính, văn hoá, thương mại, tài chính, dịch vụ, công nghệ cao, các cơ quan nghiên cứu và là một trung tâm du lịch của toàn vùng và quốc gia.

Vùng phụ cận đô thị trung tâm trong phạm vi 25 - 30 km có chức năng hỗ trợ phát triển và mở rộng đô thị trung tâm, là các vùng giao thoa, lan toả sự phát triển giữa Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Vai trò của khu vực này là hình thành vành đai xanh, duy trì vùng nông nghiệp-nông thôn, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm cho Thủ đô, phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống và dịch vụ du lịch văn hoá, sinh thái v.v..., phát triển các đô thị vệ tinh nhằm chia sẻ với đô thị trung tâm các chức năng về dịch vụ, giáo dục, y tế, nhà ở …

Đô thị đối trọng là thủ phủ của các tỉnh liền kề xung quanh Hà Nội (như Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phủ lý, Hòa Bình) sẽ cạnh tranh phát triển với đô thị trung tâm và hoạt động theo mô hình độc lập nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh nhằm phát huy vai trò, tiềm năng, thông qua việc phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội, giảm sự tập trung quá tải vào thành phố Hà Nội.

Phía Đông và Bắc Hà Nội hướng cảng Hải Phòng (Lạch Huyện), cảng Cái Lân và chùm cảng lân cận (Quảng Ninh) phát triển công nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu khối lượng lớn gắn với hệ thống quốc lộ 2, xa lộ xuyên Á và sân bay quốc tế Nội Bài. Phía Tây Hà Nội là vùng địa hình bán sơn địa dọc trên tuyến đường Hồ Chí Minh, QL21, có rừng Quốc gia Ba Vì, Hương Tích phát triển du lịch nghỉ dưỡng, khu công nghệ cao, 1 số công trình đầu mối hạ tầng kĩ thuật lớn; Phía Nam Hà Nội đảm nhận các chức năng về dịch vụ chuyển tải hàng hóa của vùng phía Tây và Tây Bắc với 1 số khu vực phía Nam Bắc Bộ với hệ thống cảng, thông qua tuyến đường 5 – đường Đỗ Xá, Quan Sơn dự kiến mới.

6.1.3.      Mô hình phát triển không gian Thủ đô Hà Nội

Thủ đô Hà Nội phát triển theo mô hình chùm đô thị, gồm đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh, được liên kết bằng hệ thống giao thông vành đai kết hợp các trục hướng tâm, có mối liên kết với mạng lưới giao thông vùng Thủ đô và Quốc gia. Đây là mô hình phù hợp với xu hướng chung của các nước đang phát triển, phù hợp với thực tế phát triển của Thủ đô Hà Nội hiện nay và tương lai, đó là:

  1. Đổi mới cấu trúc đô thị từ "Đơn cực" sang "Đa cực", Thủ đô Hà Nội - mô hình chùm đô thị

Kế thừa các mô hình đã nghiên cứu đề xuất tại đồ án Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tạo ra cơ hội đổi mới cấu trúc đô thị từ: “Đơn cực” sang “Đa cực”; đảm bảo cho đô thị trung tâm sẽ được giảm tải căn bản với một số chức năng đang bị dồn nén quá mức như công nghiệp, dịch vụ, thương mại, giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao... khi các chức năng này được phân bớt, hoặc chuyển hẳn vào các đô thị vệ tinh và tạo nên các trung tâm mới.

Hình thành mới hệ thống đô thị trung tâm và các thành phố vệ tinh được gắn kết với nhau và với đô thị trung tâm bằng các kết nối nhanh thông qua hệ thống giao thông công cộng mạnh, viễn thông và các hạ tầng kỹ thuật khác. Đảm bảo tính hoạt động độc lập của các đô thị trong mạng lưới.

Xác định rõ ranh giới các đô thị (còn gọi là ranh giới phát triển đô thị) trong mạng lưới, khoảng cách ly giữa các đô thị là các khoảng không gian đệm gắn vùng cảnh quan sinh thái nông nghiệp, không gian văn hóa, giải trí .v.v…

 

Hình Cấu trúc đô thị

 

 

Hình : Ý tưởng phát triển chiến lược

 

 

Hệ thống các đô thị và nông thôn của Hà Nội sẽ phát triển dựa trên các phân vùng phát triển như sau:

  • Khu vực đô thị hiện hữu chủ yếu thực hiện công tác bảo tồn đối với khu phố cổ, phố cũ thời Pháp thuôc; cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật, là khu vực có ý nghĩa về văn hóa-lịch sử và đóng vai trò là trung tâm hành chính - chính trị của quốc gia và của thủ đô Hà Nội. Hình thành hệ thống đa trung tâm về văn hóa, kinh tế, khoa học công nghệ... gắn với các không gian chức năng khác trong đô thị.
  • Phía Bắc sông Hồng gắn với sân bay quốc tế Nội Bài, hành lang kinh tế dọc quốc lộ 18A, quốc lộ 3 được phát triển công nghiệp, dịch vụ thương mại tài chính, dịch vụ du lịch với hạt nhận dịch vụ là khu đô thị Mê Linh-Đông Anh, Khu đô thị Đông Anh và Đô thị vệ tinh Sóc Sơn. Các không gian xanh bao gồm khu vực bảo tồn núi Sóc, đầm Vân Trì, sông Cà Lồ, vùng bảo vệ thành Cổ Loa, các khu vực bảo tồn vùng nông nghiệp nông thôn sẽ đóng vai là các không gian đệm, giới hạn sự phát triển của các khu vực đô thị.
  • Phía Đông gắn với khu vực Gia Lâm – Long Biên được tiếp tục phát triển các công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ phát triển  hành lang kinh tế Hà Nội – Hải Phòng với các dịch vụ logictic, dịch vụ thương mại, dịch vụ đào tạo, tiện ích công cộng, công nghệ cao . . . Tại khu vực này cần phải tăng cường cải tạo đô thị hiện hữu và nhu cầu phát triển mới trở thành không gian đô thị thống nhất.
  • Phía Nam gắn với hành lang kinh tế Bắc Nam dọc trục quốc lộ 1A được phát triển công nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ gắn với vùng nông nghiệp phía nam Thủ đô với trung tâm dịch vụ là đô thị vệ tinh Phú Xuyên – Phú Minh.
  • Phía Tây là vùng phát triển gắn với bảo tồn, được phát triển các loại hình công nghệ cao, đào tạo chất lượng cao, dịch vụ y tế và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Tại đây hình thành chuỗi đô thị vệ tinh phía Tây ( Sơn Tây – Hòa Lạc – Xuân Mai ), hành lang xanh để bảo tồn vùng nông thôn và giới hạn sự phát triển của đô thị trung tâm.
  • Kết nối các vùng chức năng bằng hệ thống giao thông liên kết đường bộ, đường sắt và đường thủy theo mạng hướng tâm và đường vành đai. Trong đó việc tăng cường hệ thống giao thông công cộng hiện đại và cấu trúc lại đô thị sẽ đảm bảo sự liên kết trong tương lai được thuận lợi, dễ dàng, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững.
  • Khu vực núi Sóc, rừng quốc gia Ba Vì và vùng Quan Sơn – Hương Tích là 3 vùng cảnh quan tự nhiên rất có giá trị của thủ đô được bảo vệ thành các vùng du lịch sinh thái kết hợp với văn hóa tín ngưỡng phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi của nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước.

Dựa trên các cơ sở về phân vùng chức năng nêu trên, dự kiến phân bố mạng lưới đô thị - nông thôn và phân vùng kiến trúc cảnh quan như sau:

  • Đô thị trung tâm
  • Khu vực nội đô (từ bờ Nam sông Hồng đến vành đai xanh dọc sông Nhuệ), gồm 2 khu vực chính:

Khu vực nội đô lịch sử ( 4 quận nội thành, từ bờ Nam sông Hồng đến đường vành đai 2)

Khu vực nội đô mở rộng ( từ đường vành đai 2 đến vành đai xanh dọc sông Nhuệ)

  • Chuỗi khu đô thị phía đông đường vành đai 4 ( Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Đông , Thường Tín )
  • Chuỗi khu đô thị phía bắc sông Hồng ( Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh, Yên Viên, Long Biên, Gia Lâm)
  • Trục cảnh quan sông Hồng ( đoạn qua đô thị trung tâm)
  • Vành đai xanh dọc sông Nhuệ, các nêm xanh
  • 5 đô thị vệ tinh
  • Đô thị vệ tinh Sóc Sơn
  • Đô thị vệ tinh Sơn Tây
  • Đô thị vệ tinh Hòa Lạc
  • Đô thị vệ tinh Xuân Mai
  • Đô thị vệ tinh Phú Xuyên
  • Khu vực nông thôn (hành lang xanh):
  • 3 Thị trấn sinh thái: Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn.
  • 8 Thị trấn huyện lỵ: Tây Đằng, Phúc Thọ, Liên Quan, Phùng, Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa, Thường Tín.
  • Các thị trấn, thị tứ khác, dự án sinh thái, các khu vực chức năng đặc thù.
  • Làng xóm, điểm dân cư nông thôn, công nghiệp, làng nghề, di tích.
  • Công viên cây xanh, sông hồ, khu vực sản xuất nông nghiệp, rừng quốc gia, đồi núi.
  • Các yếu tố khác.
  • Định hướng tầng cao, mật độ công trình.
  • Khu vực nội đô lịch sử là khu vực bảo tồn các giá trị truyền thống cần hạn chế các công trình xây dựng cao tầng và hạn chế gia tăng mật độ xây dựng. Các dự án cải tạo các khu tập thể cũ, các khu công nghiệp sau khi di dời được chuyển đổi sang chức năng đô thị sẽ khống chế tầng cao và mật độ xây dựng phù hợp với từng khu vực cụ thể.
  • Khu vực nội đô mở rộng cho phép phát triển tầng cao gắn với các tuyến giao thông hướng tâm và các tuyến đường vành đai để tạo điểm nhấn không gian đô thị. Các khu vực còn lại cần phải kiểm soát tầng cao trung bình theo từng khu vực, hạn chế tối đa các công trình cao tầng xen cấy trong các khu dân cư hiện hữu. Tại các khu vực này hiện có mật độ xây dựng rất cao, nhiều khu vực thiếu hẳn các không gian xanh, không gian mở và đặc biệt là hệ thống bến bãi đỗ xe. Trong quá trình cải tạo đô thị cần hạn chế phát triển các dự án tiếp tục chất tải về mật độ và hạ tầng cho khu vực này.
  • Khu vực chuỗi khu đô thị mở rộng phía đông đường vành đai 4 và phía bắc sông Hồng khuyến khích phát triển nhà cao tầng để giảm mật độ xây dựng chung phục vụ cho các dịch vụ tiện ích, không gian xanh, không gian mở. Tại các khu vực các trục hướng tâm, các điểm giao cắt được xác định đô thị phát triển theo mô hình TOD sẽ phát triển các công trình cao tầng, tạo điểm nhấn về không gian đô thị và giảm dần tầng cao về các khu vực không gian xanh, vành đai xanh và nêm xanh. Hạn chế việc phát triển tầng cao tạo thành bức tường công trình cao tầng vây quanh khu vực nội đô. Các khu vực cao tầng và thấp tầng cần được kiểm soát theo diện rộng, cần khắc phục tình trạng phát triển các dự án đơn lẻ đan xen giữa công trình cao tầng và thấp tầng như hiện nay.
  • Khu vực các đô thị vệ tinh được quản lý tầng cao và mật độ theo từng khu vực chuyên biệt. Tại các khu vực này khuyến khích phát triển tầng cao công trình để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
  • Trong khu vực hành lang xanh sẽ hạn chế mật độ xây dựng và tầng cao công trình để phù hợp với đặc điểm sinh thái tại khu vực hành lang xanh.

b.Mô hình "Hành lang xanh" và "vành đai xanh"

Phát triển không gian dựa trên kết nối các yếu tố tự nhiên và văn hóa truyền thống (hệ thống sông hồ, đa dạng sinh học, làng mạc hiện hữu, giữ gìn các bản sắc văn hóa và làng nghề …). Phát triển mô hình "Hành lang xanh" và "vành đai xanh" trong cấu trúc không gian Thủ đô Hà Nội:

 

* Hành lang xanh

Thiết lập “Hành lang xanh” làm trung gian giữa bảo tồn và phát triển. Hành lang xanh sẽ là không gian bảo tồn vùng nông nghiệp – nông thôn và hạn chế sự phát triển lan tỏa của đô thị trung tâm, các đô thị vệ tinh và các thị trấn sinh thái nhằm đảm bảo phát triển Thủ đô trên cơ sở bảo tồn, cân bằng và bền vững.

Dành 70% tổng diện tích Thủ đô để phát triển hành lang xanh, đây là yếu tố then chốt đối với sự phát triển bền vững trong tương lai của Hà Nội là đảm bảo phát triển “cân bằng” dựa trên bảo tồn.

Dành 30% tổng diện tích Thủ đô Hà Nội mở rộng cho các khu vực phát triển đô thị, là động lực tiên quyết cho sự phát triển kinh tế đô thị vĩ mô của Hà Nội.

 

Hành lang xanh chiếm 70 % diện tích đất tự nhiên, bao gồm các khu vực bảo tồn và các khu vực phát triển dựa trên bảo tồn. Có khoảng 55-60% diện tích bảo tồn là các vùng đất nông nghiệp ổn định, vùng đa dạng sinh học, di tích tôn giáo và quần thể di tích, hệ thống sông hồ, mặt nước, hệ thống công viên cây xanh ven đô… Khoảng 10-15% quỹ đất còn lại là các làng xóm, làng nghề được duy trì và bảo tồn. Sự phát triển này được kiểm soát và quản lý, khuyến khích phát triển các hoạt động xanh thân thiện với môi trường như nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái. Trong các bước triển khai tiếp theo ở đồ án quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết sẽ có quy chế quản lý cụ thể cho từng khu vực trong hành lang xanh.

Hành lang xanh có diện tích khoảng 2.341km2 trong đó:

  • Diện tích bảo tồn khoảng 1.338km2 chiếm 55-60%
  • Diện tích nông nghiệp (đất lúa năng suất cao, trồng hoa…)
  • Đa dạng sinh học (vùng núi, vùng ngập thoát lũ…)
  • Di sản văn hóa (Khu du lịch, công trình văn hóa tín ngưỡng..)
  • Diện tích phát triển dựa trên bảo tồn khoảng 1.003km2 chiếm 10-15%
  • Khu vực nông thôn (làng nông nghiệp, làng nghề,..)

Hành lang xanh bao gồm các khu vực:

  • Hành lang xanh nằm dọc theo sông Đáy và sông Tích, giữa đường Vành đai 4 và các đô thị vệ tinh ở phía Tây; Mục đích cân bằng giữa phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, môi trường sinh thái nhân văn, cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ môi trường đa dạng sinh học kết hợp với vùng chậm lũ và không gian mặt nước cây xanh sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tích, sông Đuống. Đặc biệt coi trọng bảo tồn, bảo vệ và phát huy giá trị cảnh quan thiên nhiên dọc theo tuyến phía Tây từ Ba Vì đến Hương Tích.
  • Các vùng cảnh quan sinh thái có giá trị như Rừng quốc gia Ba Vì, Quan Sơn, Hương Tích, Tam Đảo- Sóc Sơn;
  • Các khu đất nông nghiệp năng suất ở phía Nam Phú Xuyên;
  • Làng thủ công truyền thống và các di sản văn hóa (các điểm văn hóa, lịch sử)

Hàng lang xanh không bao gồm:

  • Không gian xanh đô thị (các công viên, vườn hoa…)
  • Vành đai xanh sông Nhuệ, vùng đệm xanh giữa khu vực nội đô và Chuỗi khu đô thị phía Đông đường vành đai 4

Xác định rõ ranh giới phát triển đô thị và hành lang xanh trong quy định quản lý xây dựng. Khu vực ngoài hành lang xanh cho phép tập trung phát triển đảm bảo các hoạt động trong Thành phố, trọng tâm đầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị.

Hành lang xanh có ý nghĩa lớn, cho phép nhiều làng nghề thủ công không gây ô nhiễm môi trường tiếp tục tồn tại và phát triển như những đặc trưng riêng trong các khu vực, phù hợp với khả năng phát triển bền vững của toàn bộ thủ đô Hà Nội gắn kết với không gian bảo tồn các di sản văn hóa. Đồng thời:

  • Bảo vệ các vùng nông nghiệp năng suất cao.
  • Bảo vệ các vùng có nguy cơ bị tai biến môi trường.
  • Bảo tồn văn hóa và di sản.
  • Khuyến khích các hoạt động thân thiện môi trường và phát triển bền vững.
  • Thiết lập ranh giới quản lý kiểm soát của đô thị.
  • Tạo kết nối mạnh mẽ hơn giữa các vùng nông thôn, ven đô thị và đô thị.
  • Cho phép duy trì, nâng cấp tính ổn định của các làng truyền thống, làng nghề và thúc đẩy du lịch sinh thái.
  • Thúc đẩy hình thành các trung tâm đô thị nén mới.
  • Tạo thuận tiện giao thông công cộng giữa trung tâm đô thị mới và nội đô Hà Nội.

* Vành đai xanh

Thiết lập vành đai xanh hạn chế và ngăn chặn phát triển đô thị lan tỏa, tự phát từ nội đô lịch sử ra bên ngoài như hiện nay. Lấy sông Nhuệ, nhánh sông Tô Lịch và vùng cảnh quan lân cận làm vành đai xanh (Gọi tắt là vành đai xanh sông Nhuệ), đây là khu vực được bảo vệ và kiểm soát phát triển nghiêm ngặt, để làm vùng đệm tách biệt khu vực nội đô với vùng đô thị mở rộng phía Nam của đô thị trung tâm (chuỗi khu đô thị phía Đông đường vành đai 4). Ý tưởng này tiếp thu từ Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà nội đến năm 2020 : "Tại vùng ven đô, hình thành vành đai xanh rộng từ 1 đến 4 km, tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố".

Phát triển vành đai xanh chạy ven bên sông, là yếu tố then chốt đối với sự phát triển bền vững trong tương lai của Hà Nội, duy trì và bảo vệ đặc trưng văn hóa của Hà nội cổ. Góp phần quan trọng xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành: Thủ đô Xanh-Văn Minh-Văn Hiến- Hiện đại.

Cũng giống như hành lang xanh, vành đai xanh cho phép tồn tại các làng xóm, làng nghề thủ công truyền thống không gây ô nhiễm môi trường. Khác với hành lang xanh, vành đai xanh cho phép chuyển đổi đất nông nghiệp thành các công viên đô thị hoặc công viên chuyên đề phù hợp với nhu cầu phát triển của đô thị và đặc trưng văn hóa riêng trong các khu vực. Ngoài ý nghĩa làm vùng đệm ngăn cách giữa 2 vùng Kiểm soát phát triển và vùng xây dựng mới, vành đai xanh còn có ý nghĩa to lớn:

  • Là lá phổi xanh của đô thị trung tâm.
  • Hỗ trợ khu vực nội đô lịch sử trong việc tạo lập không gian xanh và không gian công cộng lớn.

Ngoài vành đai xanh, sẽ hình thành nhiều nêm xanh tại chuỗi khu đô thị phía Đông đường vành đai 4 nhằm tạo nên các liên kết giữa hành lang xanh và vành đai xanh. Trong vành đai xanh và các nêm xanh có nhiều công viên, cây xanh, mặt nước, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, làng xóm khu ở hiện hữu, các công trình công cộng, sinh thái, tiện ích đô thị và các hoạt động gắn với đi bộ. Cần có giải pháp kiểm soát phát triển nhằm cải thiện môi trường, giao thông và chất lượng cuộc sống cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử cảnh quan của vùng đất Thăng Long.

 

6.1.4.      Định hướng phát triển không gian tổng thể.

6.1.4.1. Phân bố mạng lưới không gian đô thị-nông thôn

Thủ đô Hà Nội được xây dựng phát triển theo mô hình chùm đô thị, gồm: Đô thị trung tâm kết nối với 5 đô thị vệ tinh và các thị trấn sinh thái khác thuộc khu vực nông thôn. Trong nội dung nghiên cứu Quy hoạch chung, ngoài việc bố trí đất xây dựng cho các khu chức năng, cũng đã đề xuất bố trí đất dự trữ phát triển đô thị phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai theo các lĩnh vực như: trường học, bệnh viện, dịch vụ công cộng...

- Đô thị trung tâm:

Đô thị trung tâm bao gồm khu vực nội đô, các khu vực mở rộng, được giới hạn từ phía Nam sông Hồng đến đường vành đai 4 và phía Bắc sông Hồng có khu vực Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh, Gia Lâm-Yên Viên và Long Biên. Là trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử, dịch vụ, y tế, đào tạo chất lượng cao của Thành phố Hà Nội và cả nước. Dự báo đến năm 2030 có dân số khoảng 4-4,6 triệu người. Đô thị trung tâm sẽ không phát triển liền mạch trên toàn bộ vùng đất đã xác định như trên, mà phải có vành đai xanh sông Nhuệ và các nêm xanh phân tách để giới hạn các khu vực đã xây dựng, khu vực cần bảo tồn và khu vực xây dựng phát triển mới. Trong đô thị trung tâm có:

Khu vực nội đô: từ Hữu ngạn sông Hồng đến vành đai xanh sông Nhuệ, kiểm soát gia tăng dân số; đặc biệt là khu vực từ đường vành đai 2 trở vào có nhiều di sản, di tích của vùng văn hóa Thăng Long cổ và văn hóa Tràng An cần thiết phải bảo tồn. Khu vực này cải thiện về hạ tầng; chỉnh trang kiến trúc, cảnh quan, bảo vệ môi trường sinh thái.

Khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng là chuỗi khu đô thị phía Đông đường vành đai 4: Đan Phượng-Hoài Đức-An Khánh-Hà Đông-Thường Tín phát triển các khu đô thị mới, các trung tâm văn hóa, thương mại, tài chính cấp vùng và quốc gia với mật độ cao. Chuỗi khu đô thị mới này sẽ có dân số khoảng 1,2-1,3 triệu người, được ngăn cách với khu vực nội đô bằng vùng đệm vành đai xanh sông Nhuệ. Đồng thời góp phần thu hút rất lớn dân số dịch chuyển từ trong nội đô thành phố ra ngoài và tiếp nhận nhiều dự án từ hơn 750 đồ án, dự án đang được rà soát, cập nhật.

Khu vực mở rộng phía Bắc sông Hồng, là một bộ phận thiết lập đô thị trung tâm đảm bảo ý tưởng chủ đạo của đô thị Hà Nội là thành phố hai bên sông. Hình thành các không gian về cây xanh, mặt nước, văn hóa; với hành lang xanh: Đền Hai Bà Trưng (Mê Linh) - Đầm Vân Trì - Sông Thiếp - Cổ Loa - Đền Đô - Làng Phù Đổng và các nêm xanh nối từ sông Hồng tới sông Cà Lồ; Trục động lực kinh tế Nhật Tân-Nội Bài gắn với trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, du lịch, triển lãm,… Đây là một bộ phận của đô thị trung tâm và sẽ là nội thành trong tương lai, gồm các khu vực Yên Viên-Gia Lâm-Long Biên, Yên Viên, Đông Anh, Mê Linh-Đông Anh:

Khu vực Yên Viên, Gia Lâm-Long Biên phát triển đô thị dịch vụ thương mại, giáo dục, trung tâm y tế... gắn với các ngành công nghiệp dọc quốc lộ 5, dân số khoảng 70 vạn người.

Khu vực Đông Anh phát triển thương mại giao dịch quốc tế, công nghiệp kỹ thuật cao, du lịch sinh thái, du lịch vui chơi giải trí gắn với bảo tồn di tích Cổ Loa và đầm Vân Trì, hình thành khu thể thao mới thành phố Hà Nội (ASIAD) kết hợp với trung tâm triển lãm, thương mại Hà Nội (EXPO) và vui chơi giải trí của Thành phố. Dân số khoảng 55 vạn người.

Khu vực Mê Linh-Đông Anh phát triển dịch vụ và các ngành công nghiệp sạch, kỹ thuật cao kết nối với sân bay Nội Bài, trung tâm trưng bày, hội chợ hoa Thăng Long-Mê Linh kết hợp trung tâm khoa học công nghệ chuyên ngành hoa và cây. Dân số khoảng 45 vạn người

- Đô thị vệ tinh

Gồm 5 đô thị là Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên và Sóc Sơn. Trong đó các đô thị Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sóc Sơn được xây dựng phát triển dựa trên các đô thị hiện hữu, đô thị Hòa Lạc là đô thị phát triển mới có chủ trương phát triển từ những năm 1995 gắn với khu công nghiệp cao Hòa lạc và đại học Quốc Gia nay đang được vận hành. Các đô thị vệ tinh này chủ yếu khai thác quỹ đất vùng gò đồi bán sơn địa phía Tây và phía Bắc, ít ảnh hưởng đến đất nông nghiệp. Các đô thị vệ tinh của Thủ đô Hà Nội khác với các đô thị vệ tinh trong vùng Thủ đô là có chức năng tương đối độc lập và hạn chế những di chuyển về giao thông, giảm thiểu sự lệ thuộc vào đô thị trung tâm, hỗ trợ và tác động qua lại với đô thị trung tâm. Hành lang xanh có vai trò giới hạn sự phát triển lan tỏa từ đô thị trung tâm đến các đô thị vệ tinh và ngược lại.

Dự báo dân số cho 5 đô thị vệ tinh đến năm 2030 khoảng 1,3-1,4 triệu người. Mỗi đô thị vệ tinh có một hoặc nhiều chức năng đặc thù riêng để hỗ trợ, chia sẻ với đô thị trung tâm về nhà ở, đào tạo chất lượng cao, công nghiệp, dịch vụ... ; được xây dựng sẽ tạo ra nhiều công ăn, việc làm cho dân cư tại chỗ và dân nhập cư. Các đô thị vệ tinh này phải đạt được về quy chuẩn quy hoạch xây dựng Việt Nam, tiếp cận trình độ xây dựng và quản lý đô thị tiên tiến, trở thành các đô thị văn minh, hiện đại. Tại các đô thị này, khuyến khích xây dựng cao tầng, dành quỹ đất để bố trí các tiện nghi đô thị như bãi đỗ xe, cây xanh, sân bãi thể dục thể thao (TDTT) và sân chơi cho trẻ em… Các đô thị vệ tinh được quy hoạch phát triển tương đối độc lập với đô thị trung tâm, kết nối với đô thị trung tâm bằng các khu trung tâm thương mại (CBD) quy mô nhỏ và tuyến giao thông công cộng tốc độ cao. Tính chất các đô thị vệ tinh được thiết lập tùy thuộc vào vị trí, điều kiện tự nhiên và các mối quan hệ với vùng xung quanh.

Đô thị Hòa Lạc, động lực chủ đạo là phát triển khoa học công nghệ và đào tạo, trọng tâm là khu công nghệ cao Hòa Lạc và Đại học quốc gia Hà Nội, dân số dự kiến khoảng 60 vạn người. Ngoài ra, tại đô thị Hòa Lạc sẽ tiếp tục triển khai dự án trọng điểm Quốc gia Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam trên 1000 ha xây dựng từ năm 1995 đến nay đã vận hành và tiếp tục hoàn thiện và nhiều dự án hạ tầng xã hội khác như trung tâm y tế, các cơ sở giáo dục đại học khác, các dự án về đô thị... đã được các cơ quan có thẩm quyền cho phép đầu tư xây dựng.

Đô thị Hòa Lạc nằm ở vị trí quan trọng phía Tây thành phố, là điểm kết nối giữa đô thị trung tâm Hà Nội với vùng phát triển phía Bắc là hướng tuyến đường Hồ Chí Minh với đô thị Sơn Tây, các huyện Ba Vì và Phúc Thọ; phía Tây kết nối vùng tỉnh Hòa Bình, phía Nam kết nối với đô thị Xuân Mai, các huyện Chương Mỹ, Thanh Oai, Mỹ Đức thông qua hệ thống giao thông kết nối: đại lộ Thăng Long, đường Hồ Tây- Ba Vì, quốc lộ 21 và đường Hồ Chí Minh.

Đô thị Sơn Tây, động lực chủ đạo là phát triển văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng. Với đặc thù cảnh quan cây xanh, hồ nước chiếm diện tích lớn như hồ Suối Hai, hồ Xuân Khanh... và hệ thống di sản, di tích như thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng. Sơn Tây hiện nay đang là nơi thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Ngoài ra, đô thị Sơn Tây có nhiều điều kiện về quỹ đất và cảnh quan để hình thành các cơ sở đạo tạo hỗ trợ cho đô thị Hòa Lạc, các cơ sở y tế hỗ trợ phát triển du lịch và các vùng lân cận phía Tây Nam Hà nội. Dự kiến phát triển từ 10 vạn người hiện nay lên 18 vạn người vào năm 2030.

Đô thị Sơn Tây là cửa ngõ phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội, có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng, hỗ trợ khu vực Ba Vì, Việt Trì và Nam Vĩnh Phúc phát triển, kết nối với đô thị trung tâm thông qua tuyến quốc lộ 32 và tuyến Bắc đường 32.

Đô thị Xuân Mai động lực chủ đạo là dịch vụ-công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, hệ thống làng nghề. Dân số dự kiến khoảng 22 vạn người. Đô thị Xuân Mai là cửa ngõ phía Tây Nam của Hà Nội kết nối với các tỉnh miền núi Tây Bắc thông qua hành lang quốc lộ 6. Hiện tại Xuân Mai là thị trấn phát triển chủ yếu bám theo các trục lộ giao thông, chưa khai thác hết thế mạnh về vị trí và cảnh quan. Xuân Mai có tiềm năng và đủ điều kiện để phát triển về nhà ở, dịch vụ cấp vùng, công nghiệp nhẹ kết hợp phát triển làng nghề và hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo cho đô thị Hòa Lạc.

Đô thị Phú Xuyên động lực chủ đạo là phát triển công nghiệp, đầu mối giao thông, trung chuyển hàng hóa. Đô thị Phú Xuyên có quy mô dân số ở mức thấp so với các đô thị vệ tinh khác, với quy mô khoảng 12,7 - 15,5 vạn người (hiện nay tổng dân số thị trấn Phú Xuyên và các xã nằm trong ranh giới của đô thị Phú Xuyên khoảng 7,5 vạn người).

Đô thị Phú Xuyên là cửa ngõ phía Nam của Hà Nội thông qua tuyến hành lang kinh tế Bắc Nam-quốc lộ 1A. Hiện nay ở Phú Xuyên đã có các khu công nghiệp Đại Xuyên, Khuất động, Phú Xuyên...để đón nhận toàn bộ công nghiệp ô nhiễm tại Hà Tây cũ và nội thành Hà Nội, liên kết với hệ thống khu cụm công nghiệp Đồng Văn (Hà Nam) tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội. Ngoài ra, đô thị Phú Xuyên sẽ hình thành các cơ sở giáo dục đào tạo các ngành nghề hỗ trợ công nghiệp.

Đô thị Sóc Sơn động lực chủ đạo là phát triển dịch vụ, khai thác tiềm năng cảng hàng không Nội Bài và hành lang kinh tế xuyên Á Côn Minh-Lào Cai-Phú Thọ-Vĩnh Phúc-Hà Nội-Hải phòng-Quảng Ninh. Dân số dự kiến tăng từ 6,6 vạn người hiện nay lên 25 vạn người vào năm 2030. Là cửa ngõ phía Bắc của Hà Nội, nối kết đô thị trung tâm với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc bằng hành lang quốc lộ 3. Hiện nay, thị trấn Sóc Sơn chưa khai thác hết thế mạnh về vị trí và cảnh quan. Sóc Sơn có tiềm năng và đủ điều kiện để phát triển đô thị và dịch vụ cấp vùng gắn với bảo tồn khu vực núi Sóc, hình thành các cơ sở sản xuất hỗ trợ dịch vụ cảng hàng không và hành lang kinh tế xuyên Á, phát triển giáo dục đào tạo để giảm tải cho nội đô.

- Các thị trấn sinh thái:

Các thị trấn sinh thái được phát triển từ các thị trấn thị tứ hiện hữu theo mô hình đô thị sinh thái, có kiểm soát và giới hạn về quy mô, tính chất, chức năng và hình thái không gian. Các thị trấn này sẽ đóng vai trò hỗ trợ các tiện ích công cộng, hạ tầng, thúc đẩy sản xuất, kinh tế xã hội trong vùng nông thôn và là cầu nối để phát triển cân bằng giữa đô thị và nông thôn.

Trong các thị trấn sinh thái sẽ hình thành các chức năng dịch vụ tổng hợp, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, làng nghề và giải quyết việc làm tại chỗ, phát triển các dịch vụ sinh thái gắn với bảo tồn di tích và cảnh quan trong hành lang xanh. Dân số dự kiến cho các thị trấn sinh thái này từ 3-5 vạn người. Tiếp tục đầu tư xây dựng có kiểm soát về quy mô, mật độ và phát triển các dịch vụ công cộng, tiêu thụ hàng nông sản phục vụ hỗ trợ cho khu vực nông thôn tại các thị trấn hiện hữu như Phùng, Tây Đằng, Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa, Thường Tín, Liên Quan… Trước mắt phát triển 3 thị trấn sinh thái là Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn từ các thị trấn cũ hiện nay làm mô hình thí điểm, sau đó nhân rộng và nâng cấp các thị trấn, thị tứ trong khu vực nông thôn sẽ thành các thị trấn sinh thái.

6.1.4.2. Phát triển hệ thống giao thông đô thị đồng bộ và hiện đại

  • Dành quỹ đất hợp lý để phát triển hệ thống giao thông

Phát triển giao thông Thủ đô Hà Nội phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và điều tiết tốt đối với các vùng xung quanh, là tiền đề và động lực phát triển kinh tế-xã hội và đô thị. Giải quyết ách tắc giao thông với xây dựng cở sở hạ tầng đồng bộ, bền vững lâu dài, để Hà Nội nhanh chóng đạt được trình độ văn minh, hiện đại như Thủ đô các nước trong khu vực. Phát huy hiệu quả của giao thông vận tải để thực hiện sự liên kết kinh tế giữa Hà Nội với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là với vùng đô thị Thủ đô và các trung tâm thương mại, du lịch, giao lưu Quốc tế, kết nối tốt đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Quỹ đất dành cho giao thông đô thị chiếm 20-26% diện tích đất đô thị (trong đó giao thông tĩnh là 4-6%), riêng ở các quận nội thành đạt khoảng 10-12%. Chú trọng phát triển các công trình ngầm, hệ thống đường trên cao, tăng diện tích giao thông tĩnh.

  • Thiết lập mạng lưới giao thông đô thị đa dạng, hiện đại và đồng bộ kết nối với hệ thống giao thông Quốc gia và giao thông vùng

Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hợp lý, đi vào hiện đại, tạo nên mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải, giữa các vùng lãnh thổ, giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi Thủ đô và toàn quốc. Mạng lưới giao thông đường bộ (đường vành đai và hướng tâm) gắn kết với mạng lưới giao thông đô thị và các loại hình chuyên chở quy mô lớn như đường sắt đô thị, tàu điện ngầm..., kết nối ngoại vùng, nội đô thuận lợi. Để khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông hiện nay, phải thực hiện đồng bộ, đa ngành, từ quy hoạch đến cơ chế chính sách và nhận thức của người dân. Hoàn thiện hệ thống các tuyến đường vành đai đô thị; cải tạo nâng cấp, xây dựng mới các trục chính đô thị khu vực trung tâm và tại các đô thị vệ tinh; các trục đường hướng tâm chính (quốc lộ và cao tốc); các tuyến đường liên kết đô thị trung tâm và đô thị vệ tinh; các tuyến cao tốc cấp vùng đi Tây Bắc và đường Hồ Chí Minh. Ưu tiên xây dựng các nút giao thông cho các hướng có mật độ giao thông cao như hướng Bắc – Nam qua Quốc lộ 1, đường Bắc Thăng Long-Nội Bài, hướng Đông Tây qua đường 32. Quy hoạch thêm các cầu mới trên sông Hồng, sông Đuống và sông Đà để khép kín hệ thống đường vành đai và kết nối hệ thống đường xuyên tâm. Các loại đường trong mạng lưới bao gồm đường cao tốc và các đường cảnh quan, sẽ được kết nối với nhau thông qua việc sử dụng các điểm giao cắt có rào chắn cũng như sử dụng thêm các bùng binh hiện đại. Dọc theo đường cảnh quan trong hành lang xanh, hay còn gọi là trục Bắc – Nam, có 3 điểm giao cắt với Quốc lộ 6, Đại lộ Thăng Long và Quốc lộ 32 nối với 3 đô thị vệ tinh phía Tây hành lang xanh: Sơn Tây, Hòa Lạc và Xuân Mai. Khu vực này rất dễ có nguy cơ bị đô thị hóa, phá hỏng ý tưởng hành lang xanh. Đường cảnh quan đề xuất sẽ không cho phép phát triển dọc theo hành làng xanh và sẽ duy trì kiểm soát toàn bộ các tiếp cận. Đường cảnh quan sẽ có 2 hoặc 3 làn đường mỗi hướng, duy trì dải phân cách cây xanh và phù hợp với môi trường tự nhiên và xây dựng hiện có.

  • Tăng cường giao thông công cộng

Sử dụng giao thông công cộng là phương tiện chủ yếu để kết nối đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh nhằm đảm bảo hoạt động kinh tế - xã hội thuận lợi, tính cạnh tranh cũng như bảo vệ môi trường. Đáp ứng nhu cầu đi lại bằng phương tiện GT cộng cộng và phương tiện phi động cơ với tỷ lệ cao trên 70% với chi phí thấp. Phát triển các loại phương tiện giao thông công cộng chất lượng cao đường sắt đô thị: tàu điện ngầm; đường sắt nhẹ, đường sắt một ray,  hạn chế phương tiện cá nhân có động cơ, khuyến khích sử dụng phương tiện không sử dụng năng lượng hoá thạch. GTCC hướng tới sư liên kết đô thị đa cực, phát triển Mô hình TOD.

Thiết lập hệ thống giao thông thông minh: Các trung tâm quản lý và điều hành hệ thống giao thông; Thông tin cho hành khách, lái xe; Hệ thống thanh toán chung.

6.1.4.3. Phân bố hệ thống trung tâm đô thị

(1) Mục tiêu phát triển

Một trong những chiến lược quan trọng trong Định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội là thiết lập hệ thống trung tâm đô thị hiện đại, đa dạng, năng động và hiệu quả, có tính cạnh tranh cao để thu hút đầu tư, tạo vị thế và hình ảnh mới cho đô thị trung tâm, là động lực hình thành các đô thị vệ tinh. Đồng thời, hệ thống trung tâm cũng là nơi tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho Thành phố và hạn chế tốc độ di dân tới đô thị trung tâm.

(2) Các định hướng phân bố hệ thống trung tâm đô thị của Hà Nội     

Thủ đô Hà Nội mở rộng có quy mô dân số dự báo trên 10 triệu dân, trải rộng trên diện tích 3344km2, việc phân bố không gian hệ thống trung tâm đô thị của Hà Nội phải đảm bảo mối tương tác với hệ thống các đô thị trong và ngoài ranh giới Thủ đô Hà nội và các vùng động lực kinh tế lớn; không những đáp ứng các nhu cầu dịch vụ công cộng xã hội, các hoạt động đời sống-văn hoá-tinh thần của nhân dân, mà còn là không gian hoạt động chính trị- xã hội, thúc đẩy kinh tế đô thị, cung cấp các dịch vụ sản xuất công nghiệp-dịch vụ theo nhu cầu thị trường và tạo nền tảng phát triển kinh tế tri thức; phù hợp vào điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và mối liên kế vùng.

(3) Dự kiến hình thành các loại hình trung tâm công cộng sau:

Các trung tâm công cộng phục vụ đời sống thiết yếu xã hội (thường ngày): được bố trí trong các nhóm nhà ở và khu đô thị, trong bán kính 400m và 5- 10 phút đi bộ, gồm các loại hình công trình như: Chợ khu vực, nhà văn hóa, dịch vụ tiện ích công cộng, Giáo dục phổ thông (trường cấp I, II, nhà trẻ, mẫu giáo), DV hành chính phường, tài chính, tín dụng...

Các trung tâm công cộng định kỳ (theo chu kỳ tuần hoặc tháng): được bố trí theo cấp công trình quốc gia và thành phố, nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu tinh thần của người dân thành phố, khách trong và ngoài nước đến công tác và du lịch, trong thời gian tự do theo chu kỳ tuần hoặc tháng, gồm: các loại hình công trình văn hoá và nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch, giao tiếp cộng đồng ...

Các trung tâm công cộng theo chuyên ngành: được bố trí theo cấp công trình quốc gia và thành phố, được bố trí tại nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố, thực hiện sự cân bằng xã hội hoặc cân bằng sinh học, hồi phục thể chất cho con người, gồm các công trình như: các công trình hoạt động chính trị- xã hội, các công trình y tế và chăm sóc sức khỏe, các nuôi dưỡng xã hội, giáo dục cao đẳng, đại học, thể thao, giải trí và du lịch , các hoạt động xã hội dân sự ...

  • Các loại hình trung tâm công cộng nêu trên được bố trí gắn kết trong không gian đô thị tạo nên cấu trúc đô thị hiện đại, năng động và hiệu quả, hợp lý đảm bảo tính bền vững, cạnh tranh lâu dài cho Hà Nội, bao gồm:

Không gian sản xuất và dịch vụ

Không gian cộng đồng và giao tiếp đô thị

Không gian khu ở đô thị

Không gian hỗn hợp, đa chức năng

(4) Phân tầng hệ thống trung tâm theo các vùng đô thị: 

+ Đô thị trung tâm: Phát triển mô hình đa trung tâm sử dụng hiệu quả quỹ đất, theo các cấp độ Quốc tế, Quốc gia, Thành phố, khu thành phố. Tập trung xây dựng cải tạo chỉnh trang và xây mới các trung tâm lớn về hành chính, chính trị, đối ngoại, văn hóa, thương mại và dịch vụ, duc lịch, đào tạo chất lượng cao, y tế chuyên sâu. Cụ thể như sau:

Tại khu vực Ba Đình: sẽ là nơi tập trung chủ yếu trụ sở chính trị - hành chính đầu não của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ.

Tại khu vực Hồ Gươm là nơi tập trung trụ sở chính trị và hành chính đầu não của thành phố như: UBND thành phố, Thành ủy và 1 số cơ quan khác của Thành phố.

Trung tâm văn hóa cấp Quốc gia dự kiến trên trục Hồ Tây- Ba Vì; Trung tâm văn hóa cấp thành phố gắn với trục Hồ Tây- Cổ Loa.

Trung tâm thương mại tài chính và dịch vụ: Sử dụng mô hình trung tâm hỗn hợp văn phòng gắn với dịch vụ thương mại, giải trí, tài chính, ngân hàng. Khai thác mô hình buôn bán truyền thống trong khu vực nội đô lịch sử, hình thành mới các mô hình hiện đại quy mô lớn gắn với các khu đô thị mới, các tuyến giao thông chính đô thị, các nhà ga và trung tâm đầu mối giao thông. Cải tạo và nâng cấp các trung tâm cũ hiện nay tại khu vực nội đô lịch sử. Xây dựng mới tại các trung tâm hỗn hợp gắn thương mại với các dịch vụ văn phòng tại khu vực đường Phạm Hùng, Tây Hồ tây, khu vực Đông Anh-trung tâm triển lãm EXPOR; khu vực Gia Lâm dọc quốc lộ 5, khu vực Vĩnh Tuy và Thượng Đình (chuyển đổi được chuyển đổi từ cụm nhà máy xí nghiệp dệp Minh Khai và Thượng Đình)... Xây dựng mới các trung tâm giao thông hàng hóa cấp vùng và quốc gia tại khu vực ga đầu mối Ngọc Hồi, cảng hàng không Quốc tế Nội bài...

Trung tâm TDTT cấp Quốc gia: Hoàn thiện tại khu vực Mỹ Đình; Trung tâm TDTT cấp Thành phố dự kiến tại khu vực Đông Anh.

Hình thành các khu công viên, vui chơi giải trí cấp thành phố gắn với vành đai xanh sông Nhuệ, dọc hành lang xanh sông Hồng, khu vực đầm Vân trì...

Liên kết các trung tâm công cộng, hình thành các không gian cộng đồng và giao tiếp đô thị gắn kết với hệ thống quảng trường lớn đô thị và các trục không gian đô thị trong các khu đô thị.

+ Các đô thị vệ tinh, xây dựng mới các trung tâm phục vụ trực tiếp đô thị và hình thành những trung tâm chuyên ngành cấp quốc gia và cấp thành phố nhằm giảm tải cho đô thị trung tâm.

+ Các thị trấn sinh thái, cải tạo chỉnh trang và xây dựng mới các trung tâm công cộng phục vụ dân cư thị trấn và các vùng nông thôn liền kề về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, cung cấp các dịch vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn.

6.1.4.4. Liên kết các không gian xanh

a. Khái quát chung.

Không gian xanh của Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, gồm đất nông nghiệp, lâm nghiệp, sông hồ ao, không gian mở ven mặt nước và các công viên trong đô thị.

Diện tích đất nông nghiệp trong những năm gần đây ngày một giảm và chuyển thành đất xây dựng đô thị. Tuy nhiên, đến nay tỷ trọng đất nông lâm nghiệp tại địa bàn Hà Nội nhưng vẫn còn khá lớn, nằm tại khu vực ngoại ô, góp phần tạo nên các đặc trưng riêng biệt cho Hà Nội. Khu vực nội đô Hà Nội, các không gian cây xanh lớn điều hòa khí hậu rất thiếu. Các quận nội thành cũ do các điều kiện lịch sử nên việc bố trí hệ thống công viên cấp quận chưa hợp lý. Một số vùng cảnh quan đẹp không bố trí công viên mà chỉ chú trọng đến phát triển các công năng khác phục vụ đô thị như khu vực Hồ Tây, Linh Đàm.

Thủ đô Hà Nội hiện nay, thiếu quy hoạch đồng bộ về hệ thống cây xanh đô thị và mặt nước cấp Vùng, câp Thành phố, cấp Quận, Huyện và các phường xã đến các đơn vị ở theo quy chuẩn quy phạm đô thị. Cần rà soát lại các hệ thống ao hồ với các chức năng sử dụng chính cho mục đích công cộng. Trong quy hoạch năm 1998, đã đề xuất một số chỉ tiêu để phát triển mạng lưới công viên đô thị (15m2/người và sự cần thiết hình thành vành đai xanh), tuy nhiên sau 10 năm triển khai xây dựng theo quy hoạch, các chỉ tiêu này chưa thực hiện được.

b. Quan điểm

Để hướng đến tầm nhìn xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành thành phố  Xanh, quy hoạch đã đưa ý tưởng 70% hành lang xanh và 30% không gian đô thị, vành đai xanh và công viên, cây xanh nhằm bảo tồn và tận dụng các nguồn cảnh quan để làm đẹp thành phố; tạo dựng nhiều không gian xanh, sạch, đẹp; nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, cải thiện môi trường tự nhiên, thúc đẩy phát triển bền vững, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Quy hoạch phải gắn liền với thực tế, vấn đề quản lý hành lang xanh, vành đai xanh và các nêm xanh là công việc rất khó khăn, nhưng rất cần thiết phải làm vì đây là vùng đệm xanh ngăn cách giữa khu vực phát triển nội đô với chuỗi khu đô thị mới dọc phía Đông tuyến vành đai 4. Vành đai xanh sông Nhuệ cũng là lá phổi xanh của Thành phố. Để nội dung nêu trên trở thành hiện thực đòi hỏi sự quyết tâm cao của hệ thống chính trị và chính quyền thành phố, ý thức tự giác của người dân và nhiều chế tài cần thiết khác.

c. Mục tiêu

  • Phát triển và bảo vệ khu vực nông thôn và rừng tự nhiên.
  • Quản lý, khống chế khu vực vành đai xanh và nêm xanh, ngăn chặn bê tông hoá lan toả khu vực nội đô, vành đai 3 và vành đai 4.
  • Tăng cường diện tích công viên và không gian xanh trong khu vực nội thành trên cơ sở tái cải tạo quỹ đất di dời từ các khu cụm công nghiệp ô nhiễm, trường đại học, công sở… Phấn đấu chỉ tiêu như QHC 108 đặt ra 10-15m2/người.
  • Xây dựng và bảo vệ các công viên chức năng đặc biệt là khu vực nội đô.
  • Bảo tồn mặt nước hiện có để giữ được cấu trúc đặc trưng của Hà Nội.

d. Định hướng về không gian xanh

Thiết lập mạng lưới không gian xanh Thủ đô Hà Nội: hành lang xanh, vành đai xanh, nêm xanh, công viên chuyên đề, và các không gian xanh khác (trục xanh, cây xanh công viên đô thị và công viên vườn hoa, vùng trồng hoa, cây cảnh, cây xanh bảo tồn tự nhiên, công trình công cộng, không gian mặt nước…)

  • Hành lang xanh

Trong cấu trúc phát triển Thủ đô Hà Nội, hành lang xanh chiếm 70% đất tự nhiên gồm toàn bộ khu vực nông thôn Hà Nội. Hành lang xanh chạy dọc sông Đáy, sông Tích, vùng núi Ba Vì và Hương Tích, theo đường vành đai 4 vượt qua sông Hồng kết nối với khu vực xanh quanh Đền Sóc. Hành lang xanh có ý nghĩa phân tách và giới hạn ngưỡng phát triển của đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh.

Các thành phần chủ yếu trong hành lang xanh:

- Khu vực bảo tồn tự nhiên

Khu vực bảo tồn nguồn cảnh quan tự nhiên như rừng (rừng tự nhiên Ba Vì và đồi núi phía Tây tiếp giáp với Hoà Bình, Sóc Sơn, Quan Sơn, Hương Sơn), trồng rừng tại những khu vực đã bị phá hoại hoặc chưa sử dụng (cây bụi). Khu vực bảo tồn môi trường thiên nhiên (không gian trong lòng hồ, dọc bờ sông..). Khu vực nằm trong vùng kiểm soát phát triển (hồ Hoàn Kiếm, đầm Vân Trì…). Hình thành môi trường bán tự nhiên (Khu Sóc Sơn, Gia Lâm, Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai…). Khu vực này, khuyến khích phát triển loại hình du lịch sinh thái, tham quan dã ngoại, vui chơi giải trí mât độ thấp. Hạn chế xây dựng công trình có quy mô lớn, phá vỡ cảnh quan tự nhiên. Nghiêm cấm phát triển đô thị tại khu vực này.

- Khu vực phát triển nông nghiệp

Duy trì các khu vực trồng lúa, hoa màu, khu làng nghề trồng hoa cây cảnh và cây ăn quả, đặc biệt là những khu vực năng suất cao dựa trên mô hình khu nông nghiệp công nghệ cao, kết hợp diện tích canh tác hiện có và môi trường tự nhiên. Khuyến khích các mô hình trang trại, nghiên cứu khoa học phục vụ nông nghiệp. Hạn chế chuyển đổi mục đích nhà vườn kết hợp du lịch. Nghiêm cấm phát triển đô thị, sân golf hoặc các hoạt động gây ô nhiễm môi trường.

- Khu vực làng xóm và các di sản văn hoá

Duy trì các không gian xanh trong các làng xóm, làng nghề truyền thống và khu vực xung quanh di tích để hạn chế các tác động của đô thị hóa. Khuyến khích các hoạt động dành cho du lịch như du lịch nông thôn, làng nghề truyền thống, du lịch thăm quan các điểm di tích văn hoá lịch sử. Hạn chế tăng mật độ xây dựng, tách hộ nhỏ trong các làng xóm. Nghiêm cấm bê tông hoá và xâm chiếm các khu vực di tích, di sản.

  • Vành đai xanh sông Nhuệ
  • Vai trò và tính chất của vành đai xanh
  • Trong đô thị trung tâm Hà Nội, cần thiết hình thành không gian đệm xanh phân tách khu vực nội đô Hà Nội với khu vực phát triển mới phía Nam sông Hồng, không để Hà Nội phát triển theo "vết dầu loang" như hiện nay.

Ý tưởng vành đai xanh được nghiên cứu dựa trên việc kế thừa từ Quy hoạch trước đây. Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà nội đến năm 2020, tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg đã nêu: "Tại vùng ven đô, hình thành vành đai xanh rộng từ 1 đến 4 km, tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố". Đánh giá thực tiễn trong 10 năm thực hiện quy hoạch này, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, Hà Nội đang có nguy cơ làm mất đi vành đai xanh ven đô và thay vào đó là những dự án phát triển đô thị. Tình trạng xây dựng đô thị lan rộng thiếu kiểm soát này nếu tiếp tục được thực hiện sẽ làm cho Hà Nội phát triển thiếu bền vững, các di sản Thăng Long cổ nằm trong khu vực nội đô lịch sử sẽ bị đe dọa dưới sức ép của đô thị hóa; điều kiện sống của người dân nội đô khó có thể cải thiện về hạ tầng đô thị, cảnh quan và môi trường.

  • Vành đai xanh sẽ nằm trong vùng phát triển đô thị, tạo nên "Lá phổi xanh" cải thiện điều kiện vi khí hậu đồng thời bổ xung hạ tầng đô thị cho khu vực nội đô lịch sử. Trong vành đai xanh sẽ tạo lập các không gian mở gắn với các hoạt động công cộng, vui chơi giải trí, công viên chuyên đề, công viên cây xanh thể dục thể thao và không gian công cộng lớn khác cho đô thị trung tâm.

Đến nay, khi ranh giới Thủ đô Hà Nội được mở rộng về phía Tây, sẽ là cơ hội lớn để chúng ta tái thiết lập lại vành đai xanh đã đề xuất trong Quy hoạch 108. Việc phát triển vành đai xanh có ý nghĩa quan trọng trong phát triển đô thị bền vững của Thủ đô Hà Nội, duy trì và bảo vệ đặc trưng văn hóa của Hà nội cổ, cân bằng lại các nhu cầu về tiện ích hạ tầng đô thị cho khu vực nội đô lịch sử. Để việc quản lý vành đai xanh có tính khả thi, chính quyền Hà Nội cần có biện pháp kiểm soát và quản lý các dự án , các công trình xây dựng trong khu này theo thông báo 202/TB - VPCP.

 

  • Nguyên tắc phát triển vành đai xanh
  • Kế thừa các quy định đã nêu trong Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 (QĐ 108/1998/QĐ-TTg): Tại vùng ven đô, hình thành vành đai tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố.
  • Các chức năng trong vành đai xanh: Ưu tiên phát triển hệ thống công viên cây xanh phục vụ công cộng, duy trì các dải cây xanh ven sông, vùng trồng hoa và cây ăn quả đặc trưng của Thủ đô gắn với công trình dịch vụ công cộng (giải trí, TDTT) phục vụ các hoạt động trong vành đai xanh, các công trình hỗ trợ giao thông và sử dụng hỗn hợp.
  • Kiểm soát phát triển phải đảm bảo tính liên tục của không gian cây xanh, mặt nước hiện có gắn với quy hoạch công viên cây xanh và hệ thống hồ nước 2 bên sông Nhuệ và sông Tô Lịch.
  • Phạm vi ranh giới

Phạm vi ranh giới vành đai xanh được xác định dựa trên các yếu tố về thực trạng điều kiện tự nhiên, thực trạng các công trình xây dựng và thực trạng triển khai các dự án đầu tư. Lấy sông Nhuệ và nhánh cuối của sông Tô Lịch làm khung cơ bản để thiết lập ranh giới vành đai xanh;

Vành đai xanh đi qua địa bàn của 4 quận huyện là: huyện Từ Liêm, quận Hà Đông, quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì.

Đoạn qua huyện Từ Liêm và quận Hà Đông: phía Đông sông Nhuệ đã lấp đầy các dự án đầu tư và các khu ở, làng xóm cũ nên ranh giới vành đai xanh dự kiến cách bờ Tả sông Nhuệ khoảng từ 50-100m; phía Tây sông Nhuệ đến tỉnh lộ 70 có nhiều điều kiện mở rộng và tạo quỹ đất cho vành đai xanh. Đoạn qua huyện Thanh Trì và quận Hoàng Mai, vành đai xanh chạy dọc sông Tô Lịch, kết nối với hồ Yên Sở và sông Hồng ...

  • Các giải pháp kiểm soát trong khu vực vành đai xanh.

Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ ngày 7/7/2010, theo Thông báo 202/TB-VPCP đã kết luận về việc xử lý các dự án nằm trong vành đai xanh sông Nhuệ. Sau đây là một số giải pháp mang tính định hướng trong giới hạn của đồ án Quy hoạch chung. Những giải pháp cụ thể cho từng dự án sẽ được xem xét ở giai đoạn quy hoạch sau (quy hoạch phân khu).

+Đối với những vùng đất nông nghiệp, đất cây xanh hành lang an toàn dọc sông Nhuệ chưa có công trình xây dựng: Giao UBND Thành phố Hà nội, khoanh vùng quản lý, ưu tiên xây dựng hệ thống cây xanh, không bố trí các dự án xây dựng vào quỹ đất này (trích thông báo 202/TB-VPCP).

Duy trì và mở rộng hệ thống mặt nước và các vùng cây xanh sinh thái (vườn ươm hoa, cây cảnh...)

Thiết lập hệ thống các công viên chuyên đề, công viên vui chơi giải trí, các sân bãi thể dục thể thao, các dịch vụ công cộng xây dựng mật độ thấp phục vụ dân cư thành phố và khách du lịch. Tăng cường diện tích trồng cây lâu năm tạo bóng mát về lâu dài sẽ trở thành những vùng rừng trong đô thị.

  • Đối với khu vực làng xóm, di tích, cơ quan, trường đào tạo, quốc phòng... hiện đang tồn tại trên khu vực vành đai xanh sông Nhuệ: UBND Thành phố Hà nội cần sớm ban hành Quy chế quản lý xây dựng theo quy hoạch kiến trúc, kiểm soát chặt chẽ theo hướng thấp tầng và có mật độ xây dựng thấp. (trích thông báo 202/TB-VPCP).

Đối với các làng xóm hiện hữu: kiểm soát phát triển về xây dựng, về quy mô dân số có giải pháp khả thi để hạn chế tăng cơ học; xây dựng quy chế quản lý xây dựng theo quy hoạch và kiến trúc cho khu vực này. Nâng cấp và bổ sung: cơ sở trường học, nhà trẻ, y tế, văn hóa…, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

Đối với làng nghề truyền thống: Kiểm soát chung như đối với các làng xóm nêu trên. Duy trì, phát huy và phát triển các lành nghề truyền thống theo hướng bảo tồn, gìn giữ tập quán văn hóa truyền thống, phục vụ hoạt động: dịch vụ, du lịch; cải tạo và xây mới trong phạm vi cho phép các cơ sở sản xuất, chợ hoặc khu vực giới thiệu làng nghề (đúng tiêu chí làng nghề được cấp thẩm quyền phê duyệt) đảm bảo các điều kiện về vệ sinh môi trường và cảnh quan chung trong vành đai xanh.

Đối với các công trình di tích văn hóa lịch sử: việc bảo tồn được thực hiện theo Luật Di sản.

Đối với công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật: triển khai thực hiện theo quy hoạch chung.

Đối với đất và các cơ sở công nghiệp: Từng bước di dời, chuyển đổi chức năng sử dụng đất sang đất xây dựng công cộng và cây xanh đô thị.

Đối với các công trình hiện hữu như: trường học, cơ quan và quốc phòng...: trước mắt chấp nhận tồn tại hiện trạng, không chuyển đổi chức năng sang đất đô thị. Khuyến khích chuyển đổi chức năng sử dụng đất phục vụ các công trình hạ tầng xã hội cho khu dân cư hiện trạng, công viên giải trí, dịch vụ du lịch thấp tầng và xây dựng mật độ thấp.

  • Đối với các dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép và các dự án đã thực hiện các quy định về nghĩa vụ tài chính, được giao đất, bồi thường giải phóng mặt bằng: UBND Thành phố Hà nội trao đổi, hướng dẫn các nhà đầu tư thực hiện bảo đảm phù hợp với định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà nội được duyệt (trích thông báo 202/TB-VPCP).

Đối với các dự án xây dựng công trình dịch vụ công và các dự án đã đang triển khai, công trình hạ tầng kỹ thuật, đã được cấp phép xây dựng: tiếp tục hoàn thiện các hạng mục đang xây dựng. Điều chỉnh lại quy hoạch đối với các hạng mục chưa xây dựng (nếu thấy không phù hợp), tăng diện tích cây xanh mặt nước.

Đối với các dự án có chức năng sử dụng đất phù hợp với khu vực vành đai xanh như: công viên, cây xanh, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, các tiện ích công cộng đô thị… tiếp tục triển khai thực hiện theo dự án đã được phê duyệt.

Đối với các dự án đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép và các dự án đã thực hiện quy định về nghĩa vụ tài chính, được giao đất, đã bồi thường giải phóng mặt bằng được nghiên cứu xây dựng theo hướng thấp tầng, mật độ thấp, tăng tỷ lệ cây xanh, mặt nước đảm bảo liên kết với không gian cây xanh chung khu vực và công trình xây dựng không vi phạm hành lang cây xanh dọc sông Nhuệ, đảm bảo phù hợp với các định hướng của Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội.

Trong vành đai xanh sông Nhuệ, có thể nghiên cứu 1 số công trình điểm nhấn có chức năng: thương mại, dịch vụ, khách sạn... tạo cảnh quan kiến trúc đô thị: theo các tuyến Hồ Tây - Ba Vì; quốc lộ 32, Tây Thăng Long, đại lộ Thăng Long, quốc lộ 6, quốc lộ 1.

Ý nghĩa của nêm xanh: kết nối giữa vành đai xanh và hành lang xanh đồng thời tạo khoảng không xanh phân tách giữa các cụm đô thị trong chuỗi đô thị vành đai 3-4 mở rộng. Nêm xanh sẽ tạo diện tích mới cho chức năng vui chơi giải trí và tạo khoảng không gian lớn cải thiện điều kiện vi khí hậu trong Đô thị trung  tâm.

Thành phần chức năng trong khu vực nêm xanh bao gồm đất nông nghiệp, làng xóm, làng nghề truyền thống và các công viên, vườn hoa trong khu vực.

Kiểm soát phát triển trong các nêm xanh được áp dụng giống như tại vành đai xanh.

  • Hệ thống cây xanh công viên tập trung
  • Chỉ tiêu

Phấn đấu đạt chỉ tiêu chung 10-15m2/người, phải tăng cường xây dựng công viên trong các khu xây dựng đặc biệt là trong khu vực nội đô. Đối với khu vực nội đô phấn đấu đạt chỉ tiêu 7 m2/người. Đối với khu vực xây dựng mới và các đô thị vệ tinh đạt mức15-20 m2/người.

  • Phân bố hệ thống cây xanh công viên tập trung

Duy trì và quản lý các không gian xanh hiện có, nghiêm cấm tình trạng xây dựng xâm lấn quỹ đất trong các công viên trong nội đô (Công viên Lênin, công viên Bách Thảo, công viên Bách thú, công viên Tuổi trẻ, công viên Thống Nhất, công viên nước Hồ Tây, công viên nước Thăng Long, công viên Chí Linh – vườn hoa Lý Thái Tổ…)

Khai thác quỹ đất từ việc di chuyển các cơ sở công nghiệp, các trường đại học trong khu vực nội thành cũ, ưu tiên chuyển đổi thành công viên cây xanh cho đô thị (khu vực nhà máy dệt Minh Khai, Thượng Đình, Tây Hồ Tây)

Quy hoạch không gian xanh tại những khu vực xây dựng mới phải áp dụng theo tiêu chuẩn, phải tạo được những công viên cây xanh cấp thành phố. Mật độ cây xanh phân bố đồng đều trên các địa bàn.

Cây xanh đường phố: Bảo vệ hệ thống vỉa hè và các cây xanh lâu năm trên các tuyến phố cũ, quản lý mọi hoạt động trên hè đường, hình thành các trục đường đi bộ với cây xanh bóng mát. Thiết lập các nguyên tắc quy hoạch và tiêu chí phát triển cho từng loại cây xanh (đường phố đô thị, đường cảnh quan sinh thái, đường cao tốc, cây xanh tự nhiên, cảnh quan văn hóa..)

Phát triển các công viên cây xanh sinh thái gắn với hệ thống hồ, sông: cải tạo và mở rộng cảnh quan hồ nước và kết hợp không gian công cộng xung quanh ao hồ, sông tạo thành những lõi xanh cho đô thị (hồ Tây, hồ Linh Đàm, sông Hồng, sông Đuống, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Đáy, sông Cà Lồ, sông Pheo, sông Cầu Ngà, sông Cầu Bây, sông Thiên Đức, sông Bắc Hưng Hải…)

Phát triển công viện, cây xanh xung quanh hồ điều hòa: Phục vụ thoát nước kết hợp cảnh quan xung quanh (Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, Minh Khai, Phú Diễn, Mĩ Đình, Mễ Trì, Trung Văn, Thanh liệt, Thanh Hà...)

- Xây dựng các loại công viên cây xanh mới sau:

Công viên lịch sử: Là địa điểm thu hút khách du lịch bao gồm các di tích lịch sử (khu Cổ Loa, Đền Sóc, dọc Trục Hồ Tây - Ba Vì).

Công viên văn hóa: Địa điểm có nét đặc trưng văn hóa tại khu vực đó, thu hút khách du lịch, bảo tồn phát triển văn hóa và du lịch (Khu làng nghề trồng hoa, gốm sứ...)

Công viên vui chơi giải trí: Công viên có các tiện ích vui chơi giải trí phục vụ người dân sử dụng (Công viên nước Hồ Tây, Vườn thú, công viên Thống Nhất, Yên Sở, Mễ Trì…)

Công viên khoa học: Công viên có các trò chơi mang tính chất khoa học, giao lưu nghiên cứu, có những trò chơi phù hợp với từng lứa tuổi (Khu vực vành đai xanh)

Công viên thể thao: Phục vụ các hoạt động thể thao (khu liên hợp thể thao quốc gia, trung tâm thể thao…)

Đại công viên: Thiết lập công viên lớn gắn với bảo tồn các vùng nông lâm nghiệp sinh thái như: Công viên sinh thái nông nghiệp tại khu vực Quốc Oai trên trên trục Hồ Tây-Ba Vì; công viên rừng tại Ba Vì-Suối Hai-Đồng Mô, Hương Tích, Sóc Sơn; công viên Đầm Vân Trì... Tạo lập hệ thống công viên là từ điển sống- động thực vật, nơi tụ hội của nhiều loại cây, nhiều loại động vật nhằm giới thiệu cho người dân về thiên nhiên đồng thời có thể kết hợp tổ chức các khu vực đặc biệt để người dân và khách du lịch có thể vừa tham quan vừa cắm trại, tổ chức các sự kiện, hoạt động ngoài trời.

  • Không gian mặt nước

Kết nối các không gian xanh bằng hệ thống mặt nước sông hồ: Sông Hồng – sông Đuống; Sông Đáy – sông Tích; Sông Cà Lồ và phễu bay sân bay Nội Bài; Sông Nhuệ – sông Tô Lịch; Hồ Tây – Cổ Loa; Đền Hai Bà Trưng - đầm Vân Trì - Cổ Loa - đền Đô - Phù Đổng; Sông Pheo; Sông Cầu Ngà; Sông Cầu Am; Sông Bắc Hưng Hải. 

Cải tạo mở rộng và làm sống lại hệ thống các dòng sông chính nhưng vẫn giữ nguyên hình thái của các con sông (sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ). Không phân lũ dọc theo các tuyến sông này.

Tất cả các hồ nằm trong danh mục đã được UBND Thành phố yêu cầu giữ nguyên, cải tạo. Các hồ hiện nằm ngoài khu vực nội thành, phục vụ tiêu thoát nước và nằm trong vùng cảnh quan thiên nhiên đặc biệt. Được phép san lấp: Ao, chuôm không phục vụ tiêu thoát nước, không nằm trong vùng cảnh quan thiên nhiên, lạch nước … ao, hồ trũng do đào sới, lấy đất phục vụ sản xuất…Bảo vệ nghiêm ngặt hệ thống hồ hiện có phục vụ cảnh quan và cải tạo lòng hồ với mục đích thoát nước đô thị, điều hoà không khí, cải thiện môi trường sống. Phát triển hệ thống hồ mới trong lõi các công viên cây xanh nhằm tôn vinh đặc điểm nổi bật của Thủ đô gắn liền với mặt nước. Quy hoạch hệ thống hồ cần nằm trong các hệ thống liên hoàn: hệ thống phục tiêu thoát nước, hệ thống cảnh quan cây xanh – mặt nước hoặc kết hợp cả hai hệ thống nói trên. Đặc biệt tại đô thị trung tâm, tăng cường diện tích mặt nước, xây mới các hồ điều hòa, hồ cảnh quan trong các đô thị mới, công viên và trong các tổ hợp công trình lớn.

Bảo vệ không gian trong lòng hồ, dọc bờ sông, các khu đầm lầy nơi có hệ sinh thái phát triển mạnh và phong phú. Kết hợp hình thành các bảo tàng tự nhiên, khu bảo tồn chim di trú, các loài động vật có môi trường sống dưới nước, trung tâm nghiên cứu tự nhiên phục vụ cho giáo dục..

6.1.4.5. Các trục không gian chủ đạo

a. Các trục không gian chính đô thị

  • Trục Đông tây: Bao gồm Trục Hồ Tây-Ba Vì, trục Tây Thăng Long, trục đường quốc lộ 32, Đại lộ Thăng Long, trục đường quốc lộ 6, trục Hà Đông-Xuân Mai.

Các tuyến đường: Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 32, Quốc lộ 6 không chỉ là các trục nối trong đô thị mà còn là trục nối kết vùng, với các thành phố thủ phủ của các tỉnh lân cận và Vùng Tây - Tây Bắc. Cụ thể tuyến Quốc lộ 32 và đường Tây Thăng Long qua cầu Vĩnh Thịnh nối với Vĩnh Phúc, Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Bắc - Tây Bắc, Quốc lộ 6 và đường Hà Đông-Xuân Mai đi các tỉnh miền núi phía Tây - Tây Bắc như: Hòa Bình, Sơn La. Dự báo nhu cầu vận tải trên các tuyến này, không chỉ đơn thuần tính lưu lượng vận tải hành khách trong phạm vi đô thị Hà Nội, mà cần phải xét đến nhu cầu vận tải của vùng. Với mạng lưới đường hiện có khu vực này chưa đảm bảo đủ tuyến đáp ứng cho luồng hành khách từ phía Tây  về trung tâm và ngược lại. Do vậy việc phát triển thêm các trục hướng Tây là hoàn toàn cần thiết.

(*) Trục Hồ Tây - Ba Vì

  • Ý nghĩa và quan điểm phát triển trục Hồ Tây – Ba Vì

Trục Hồ Tây Ba Vì là trục xây dựng mới từ đường Hoàng Quốc Việt đến quốc lộ 21 (đoạn từ đường Hoàng Quốc Việt kéo dài đến đường quốc lộ 32 sẽ có giải pháp cụ thể tùy thuộc vào thực trạng, sẽ được cụ thể hóa trong giai đoạn lập quy hoạch chuyên ngành giao thông, quy hoạch phân khu), trục kết nối phát triển kinh tế xã hội Hà Nội, trục không gian cảnh quan mới phía Tây Thành phố, để liên kết các không gian cảnh quan lớn từ Ba Đình - Hồ Tây - Tây Hồ Tây - Trung tâm văn hoá du lịch Ba Vì. Tuyến trục này có ý nghĩa quan trọng về giao thông và kết nối các vùng văn hóa và lịch sử Thăng Long – Xứ Đoài.

Trên trục có thể tạo dựng trục không gian cảnh quan đặc trưng, các công trình kiến trúc hiện đại, không gian quảng trường đi bộ, công trình văn hóa trung tâm - nơi tổ chức các lễ hội văn hóa dân gian.  

  • Chức năng chính trên trục Hồ Tây – Ba Vì.

Đối với đoạn tuyến đi trong đô thị trung tâm, tạo lập không gian điểm nhấn mới của Thủ đô, ưu tiên bố trí các công trình công cộng quốc gia và thành phố như: công trình văn hóa, thương mại, dịch vụ, tài chính, các quảng trường lớn, không gian giao lưu cộng đồng gắn với công viên vui chơi giải trí lớn của Thủ đô. Tại đây sẽ có Quy chế quản lý về quy hoạch kiến trúc cảnh quan để kiểm soát các công trình xây dựng trên tuyến này.

Đối với đoạn tuyến đi ngoài đô thị trung tâm, tổ chức giao thông có quy mô phù hợp, với hướng tuyến được xác định trên cơ sở thực tế của địa hình và giảm thiểu cắt qua làng xóm. 

(*) Các trục khác:

Trục Tây Thăng Long kết nối khu vực Tây Hồ Tây với Sơn Tây là nơi hình thành trung tâm mới của Đông bắc Đan Phượng.

Trục QL32 là trục thương mại tài chính và văn phòng. Tập trung phát triển mật độ cao tại khu vực giữa đường vành đai 3- 4 thuộc của khu vực Đan Phượng, Từ Liêm.

Đại lộ Thăng Long - trục kết nối Hà Nội với đô thị Hòa Lạc và đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 21B. Đại lộ Thăng Long được xây dựng theo mô hình kiến trúc hiện đại gắn với cảnh quan kết hợp các công trình Quốc gia như Trung tâm hội nghị Quốc gia, trung tâm triển lãm Quốc gia, Khu tập trung trụ sở các Bộ Ngành Trung ương.

Trục đường quốc lộ 6: Kết nối khu vực nội đô trung tâm với các tỉnh miền núi phía Tây Bắc. Cải tạo và nâng cấp tuyến trục này, không để các công trình tạm, nhỏ lẻ trên tuyến đường QL6 như hiện nay. Phát triển kiến trúc cảnh quan theo hướng công trình cộng, công sở hiện đại, quy mô lớn tạo diện mạo mới cho Thủ đô Hà Nội tại cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội.    

  • Trục Bắc Nam: Bao gồm quốc lộ 1A đi Phủ Lý, trục Ngọc Hồi-Phú Xuyên, quốc lộ 3, trục Nhật Tân- Nội Bài, trục Phúc Thọ-Phú Xuyên đi qua hành lang xanh dọc sông Tích, sông Đáy.

Trục quốc lộ 3, Cải tạo chỉnh trang diện mạo đô thị cũ tại thị trấn Sóc Sơn, Đông Anh hiện hữu. Phát triển kiến trúc mới hiện đại kết hợp với trục không gian xanh xung quanh Vân Trì tạo dựng trung tâm tài chính thương mại, du lịch thể thao lớn của thành phố.

Trục Nhật Tân - Nội Bài phát triển các trung tâm mới động lực kinh tế - văn hoá phía Bắc sông Hồng kết hợp với không gian nêm xanh nối kết sông Hồng với sông Cà Lồ,như trung tâm công cộng thương mại tài chính, dịch vụ logistic vui chơi giải trí, tổ chức các sự kiện, triển lãm quốc gia, khu vực, quốc tế. Không gian này được kết nối từ không gian trung tâm thành phố đến sân bay Quốc tế Nội Bài thông qua cầu Nhật Tân.

Trục quốc lộ 1A kết nối vào khu trung tâm qua hai hệ ga lớn nhất của Hà Nội là ga Hàng Cỏ và ga Ngọc Hồi.

Trục Phúc Thọ-Phú Xuyên đi qua hành lang xanh: Kết nối toàn bộ vùng nông thôn phía Tây Hà Nội, hỗ trợ phát triển các dịch vụ phục vụ nông thôn và làng nghề. Phát triển các đô thị sinh thái Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn và đô thị vệ tinh Phú Xuyên tại giao cắt với quốc lộ 32, đại lộ Thăng Long, quốc lộ 6, quốc lộ 1A. Không phát triển phát triển đô thị và nhà ở bám dọc 2 bên trục.

Trục Ngọc Hồi-Phú Xuyên: Là trục cảnh quan kết nối ga đầu mối trung chuyển Quốc gia với đô thị Phú Xuyên, ngoại trừ khu vực Phú Xuyên không phát triển đô thị 2 bên trục,

  • Trục phía Đông Bắc: Trục đường 5 nối đường Nguyễn Văn Cừ qua trung tâm quận Long Biên, quốc lộ 1A và 1B đi Lạng Sơn.
  • Các tuyến đường vành đai đô thị (vành đai 1,2,3,4):

Ưu tiên phát triển các công trình công cộng, trụ sở cơ quan, các tòa nhà có chức năng hỗ hợp quy mô lớn. Tuân thủ khoảng cách tối thiểu theo quy định cho các công trình xây dựng trên trục. Đối với tuyến đường vành đai 4 đoạn qua phía Nam sông Hồng và khu vực Mê Linh, trừ khu vực thị trấn Đan Phượng, thị trấn Thường Tín không phát triển đô thị và nhà ở.

b. Các trục cảnh quan:

  • Các trục cảnh quan chủ đạo:

Thiết lập trục cảnh quan Sông Hồng, kết nối đô thị Sơn tây, Hồ tây, Cổ Loa, Long Biên, làng cổ Bát Tràng..., 2 bên sông phát triển hệ thống công viên, cây xanh vui chơi giải trí và tổ chức các lễ hội văn hóa của Hà Nội, tạo dựng hình ảnh đô thị với diện mạo mới hai bên sông Hồng (tránh tình trạng quay lưng với sông như hiện nay).

Trục Hồ Tây - Đền Sóc (Sóc Sơn) là trục không gian phía Bắc kế thừa tuyến không gian cây xanh mặt nước đã xác lập trong Quy hoạch 108, kết nối không gian sông Hồng - Đầm Vân Trì - sông Cà Lồ và Quần thể núi Tản - Đền Sóc.

Trục sông Đáy, sông tích - chùa Hương (Hương Sơn – Mỹ Đức): là trục không gian phía Tây Nam kết nối khu vực trung tâm với cụm di tích Hương Sơn trên cơ sở hệ thống sông Nhuệ - sông Hòa Bình - sông Đáy (ở phía Nam).

  • Trục không gian văn hóa - lịch sử - cây xanh mặt nước: Hồ Tây - Cổ Loa; Phố Cổ - Long Biên.

Trục Hồ Tây - Cổ Loa: được kế thừa quy hoạch 108 trên trục Tây Hồ Tây - Hồ Tây - Cổ Loa, được xác lập không gian kiểm soát đặc biệt là tổ hợp các khu chức năng công cộng: công viên cây xanh, văn hóa, vui chơi giải trí, thể thao dục thể thao (Olimpic - Asian) phía Bắc sông Hồng với bờ Nam sông Hồng và Hồ Tây là công viên Thăng Long gắn với các công trình biểu tượng, là nơi có thể tổ chức các hoạt động và sự kiện văn hóa lớn của Thủ đô.

Xác lập trục di sản văn hoá - lịch sử - kiến trúc mới của Thủ đô, gắn kết không gian Khu phố cổ với khu vực Long Biên qua cầu Long Biên có giá trị về kiến trúc và tạo lập bảo tàng đường sắt (khu vực ga và nhà máy xe lửa Gia Lâm),

  • Trục không gian cảnh quan khác:

Trục không gian cảnh quan sông Nhuệ; sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu...

Trục không gian văn hóa - lịch sử - cây xanh mặt nước  mới phía Bắc Sông Hồng, kết nối từ Đền thờ Hai Bà Trưng - Đầm Vân Trì - Cổ Loa - Đền Đô - Phù Đổng.

Trục kết nối không gian các đô thị sinh thái và các thị trấn thị tứ nằm trong khu vực hành lang xanh nằm giữa lưu vực sông Đáy và sông Tích.

6.1.4.7. Quy hoạch hai bên sông Hồng

Giới thiệu về Quy hoạch hoạch cơ bản phát triển khu vực sông Hồng đoạn qua Hà Nội

Quy hoạch cơ bản 2 bên bờ sông Hồng trước đây do chuyên gia quy hoạch Hàn Quốc lập nhằm giải quyết vấn đề thoát lũ sông Hồng, nâng cấp và bảo vệ hệ thống đê điều và quy hoạch quỹ đất hai bên sông để phát triển đô thị, hình thành đô thị ở hai bên sông. Đây là định hướng nghiên cứu rất hiện đại mà đã thành công ở nhiều đô thị có sông lớn chảy qua. Phạm vi nghiên cứu trên 10.000ha, chiều dài khoảng 40km từ Thượng Cát đến Thanh Trì với 4 khu vực với các chức năng như sau: công cộng, công viên sinh thái, trung tâm phân phối hàng hóa, khu đô thị mới, dịch vụ du lịch, giải trí, văn hóa, TDTT, sân bãi đỗ xe...Nguồn lực để thực hiện dự án chủ yếu là quỹ đất khai thác được ngoài hành lang thoát lũ, phù hợp với quy định của Luật đê điều.

Mục tiêu quy hoạch dự án Sông Hồng

  • Cải thiện vấn đề thoát lũ
  • Nâng cấp và bảo vệ hệ thống đê điều.
  • Ổn định và nâng cao cuộc sống của người dân trong phạm khu vực nghiên cứu.

Xây dựng thành phố an toàn với lũ; Chỉnh trị ven sông có kế thừa truyền thống văn hóa và lịch sử; Cải tạo đô thị ven sông hướng tới tương lai hiện đại với môi trường thân thiện thiên nhiên; Xây dựng đường ven sông, có liên kết giao thông đô thị và đường thủy; Xây dựng điều kiện cư trú tốt và an toàn cho dân cư sống hai bên khu vực sông.

Nguyên tắc, ý tưởng

-Thiết lập Sông Hồng là trục không gian cảnh quan chủ đạo của thành phố trung tâm gắn với trục Hồ Tây - Cổ Loa tạo thành trọng tâm bố cục không gian cho đô thị Hà Nội, trên đó hình thành hệ thống công viên, công trình mang tính biểu tượng , tính thời đại của Thủ đô, phục vụ các hoạt động lễ hội, du lịch và bổ sung thêm loại hình giao thông thuỷ cho Hà Nội.

-Phía Nam sông Hồng: tạo lập đô thị hiện hữu trên cơ sở bảo tồn có bổ sung các không gian công viên cây xanh, hoạt động công cộng văn hoá giải trí  thân thiện với môi trường.

-Phía Bắc sông Hồng: Hình thành đô thị gắn với mặt nước, hiện đại, phát triển bền vững mang tính đặc thù, biểu trưng cho thời đại. Tạo lập hình ảnh Thủ đô hai bên sông gắn với các trung tâm văn hoá, thương mại, tài chính, vui chơi giải trí, thể dục thể thao, công trình biểu tượng của Thủ đô và các không gian lịch sử, bảo tồn, cảnh quan, du lịch như Hồ Tây, Cổ Loa, Bát tràng…

Quy hoạch xây dựng đô thị:

  • Quy hoạch xây dựng công viên ven sông

Lập quy hoạch với tổng diện tích 4.200 ha trong đó 3.858 ha diện tích 9 bãi sông và 342 ha diện tích bãi giữa sau khi chỉnh trị sông Hồng. Phù hợp với quy hoạch phòng chống lũ chi tiết các dòng sông có đê được duyệt.

  • Quy hoạch xây dựng đường ven sông

Đường ven sông được xây dựng theo 2 bờ sông Hồng dọc đường đê hiện tại và đê sẽ xây mới. Những con đường đã được quy hoạch đáp ứng nhu cầu giao thông ngày càng tăng quanh khu vực phát triển mới và để phục vụ tuyến đường chính đô thị thông qua kết nối với các mạng đường giao thông vành đai đô thị 2, 3 và 4.

  • Quy hoạch cải tạo và phát triển đô thị ven sông Hồng

+ Khu vực bờ Bắc sông Hồng (Tả ngạn)

Khu vực xã Võng La, Đại Mạch: Điều chỉnh tuyến đê tạo quỹ đất xây dựng khu đô thị mới phía Nam khu công nghiệp. 

Khu vực xã Tầm Xá, Hải Bối: Điều chỉnh tuyến đê (xây dựng đê mới) tạo quỹ đất xây dựng khu đô thị mới và các công trình công cộng, văn hóa. 

Khu vực phường Ngọc Thụy: Điều chỉnh tuyến đê, cải tạo khu dân cư hiện có ngoài bãi sông.

Khu vực Thạch Bàn: Điều chỉnh tuyến đê tạo quỹ đất xây dựng khu đô thị sinh thái. 

Khu vực Bát Tràng: cải tạo khu hiện có, hạn chế phát triển đô thị. có kiểm soát đặc biệt, công trình thấp tầng mật độ xây dựng tối đa 30%.

+ Khu vực bờ Nam sông Hồng (Hữu ngạn)

Khu vực Thượng Cát: phát triển đô thị có kiểm soát đặc biệt, công trình thấp tầng mật độ xây dựng tối đa 30%.

Khu vực Tứ Liên, Nhật Tân (Giáp khu vực Hồ Tây): là khu vực phát triển đô thị có kiểm soát đặc biệt, tổ chức xây dựng khu cây xanh, công trình công cộng văn hóa, công trình hỗn hợp, công trình biểu tượng, xây dựng công trình có mật độ thấp, hạn chế phát triển nhà ở, không xây dựng công trình quy mô lớn và đảm bảo không ảnh hưởng đến trục không gian xanh nối kết hồ Tây với khu Cổ Loa.

Khu vực Bạch Đằng, Thanh Lương: Điều chỉnh tuyến đê, cải tạo xây dựng ổn định lại dân cư hiện có ngoài bãi sông.

  • Chi tiết sử dụng đất của từng khu vực ( trong đê và ngoài đê) sẽ được xem xét thực hiện theo quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết sau này, phù hợp với quy hoạch đê điều.

+ Tổ chức không gian điểm nhấn

Không gian 2 bên sông được tổ chức với đặc trưng kiến trúc hiện đại và có bản sắc văn hoá truyền thống, tôn trọng các khu vực bảo tồn. Yếu tố chủ đạo là cây xanh mặt nước, hạn chế xây dựng mật độ cao, công trình lớn.

Không gian quan trọng nhất là khu vực gần khu phố cổ, xung quanh Hồ Tây và phía Đông bắc Hồ Tây. Vùng không gian này không tổ chức công trình cao tầng. Chủ yếu tổ chức các khu công viên mở 2 bên sông, công viên giải trí, cắm trại...ở bãi giữa Tứ Liên và bãi Ngọc Thuỵ

Tổ chức trục không gian kết nối giữa Hồ Tây và khu vực Cổ loa, vừa mang tính cảnh quan, vừa là cầu nối lịch sử, văn hoá. Có thể tổ chức các công trình điểm nhấn có chiều cao phù hợp trên trên trục không gian này (phía Đông Anh)

Một số khu đô thị phía bờ Bắc sông tổ chức theo hướng hiện đại, sinh thái, mật độ thấp, có bản sắc truyền thống. Chiều cao công trình tổ chức hài hoà không gian chung và tạo được nhịp điệu.  

Kiến nghị đối với Dự án quy hoạch cơ bản sông Hồng:

Tiếp thu kết quả nghiên cứu Dự án quy hoạch cơ bản sông Hồng, tuy nhiên cần lưu ý các vấn đề lớn như sau:

Sông Hồng là trục không gian cảnh quan quan trọng, nơi bố trí các công trình văn hóa, giải trí lớn để có thể tổ chức những sự kiện có ý nghĩa của Thủ đô.

Không xây dựng các công trình quy mô lớn tại khu vực bãi Tứ Liên để không ngăn cách trục không gian cảnh quan giữa thành Cổ Loa và Hồ Tây. Hạn chế phát triển về quy mô và mật độ hai khu đô thị cạnh làng Bát Tràng và khu Thượng Cát.

Ưu tiên quỹ đất khai thác dọc hai bên sông Hồng cho mục đích tái định cư tại chỗ và các công trình công cộng chung phục vụ đô thị. Hạn chế tối đa thêm dân mới vào quỹ đất hai bên sông.

Lưu ý phối hợp với Bộ NN PT NT cân nhắc tính toán hệ thống đê mới có xu hướng làm hẹp lại lòng sông Hồng trong khu vực trung tâm Hà Nội.

Hành lang thoát lũ cơ bản phù hợp với QH phòng chống lũ chi tiết của từng tuyến sông có đê trên địa bàn Thành phố Hà Nội (Đã được Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội thông qua). Rà soát khớp nối, thống nhất điều chỉnh những điểm chưa phù hợp với QH phòng chống lũ chi tiết của từng tuyến sông có đê trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Về đê điều: Điều chỉnh một số vị trí tuyến đê theo nguyên tắc tăng cường an toàn, đảm bảo thoát lũ theo tính toán, ổn định dòng chảy lũ. Cần nghiên cứu điều chỉnh phù hợp với Quy hoạch đê điều đang được triển khai và sẽ được các cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt trong thời gian tới

UBND thành phố Hà Nội giới thiệu quỹ đất mới cho dự án trong trường hợp mất cân đối về tài chính, dự án phải điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để phù hợp với quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội. Xem xét kéo dài thời gian thực hiện dự án để phù hợp với điều kiện thực tế.

6.2.            Đô thị trung tâm

6.2.1.      Khu vực nội đô

Được giới hạn từ toàn bộ khu vực tả ngạn sông Hồng đến đường vành đai xanh sông Nhuệ.

a. Tầm nhìn:

Xây dựng hình ảnh không gian đô thị với đặc trưng văn hóa, mặt nước và cây xanh. Tiếp tục xây dựng nâng cấp hoàn thiện khu vực nội đô lịch sử  là trung tâm chính trị, hành chính Quốc gia, văn hóa, lịch sử, ngoại giao, thương mại, tài chính quốc tế, y tế, đào tạo chất lượng cao của cả nước, khu vực và trung tâm hành chính của thành phố Hà Nội.

b. Mục tiêu:

Giữ gìn bản sắc văn hóa vùng Thăng Long cổ và văn hóa Tràng An. Kế thừa và tôn vinh các đặc trưng không gian kiến trúc cảnh quan văn hóa, lịch sử, lễ hội…khu phố cổ, khu phố Pháp... Tăng cao chỉ tiêu cây xanh từ 1-2m2/người lên 5-7m2/người. Gìn giữ, tôn tạo mặt nước thiên nhiên, khai thác hiệu quả, khoa học. Phát triển dân số có kiểm soát. Xây dựng hệ thống giao thông đường bộ hiện đại và thân thiện với môi trường. Giải quyết dứt điểm tình trạng ngập úng nội đô.

c. Tính chất và chức năng

Là trung tâm chính trị, hành chính,  văn hóa, lịch sử, ngoại giao, thương mại, tài chính, y tế, đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực.

Là Trung tâm hành chính, văn hóa, lịch sử, thương mại, du lịch, giải trí chất lượng cao của Thành phố Hà Nội.

Là không gian bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long cổ và lối sống truyền thống của người Hà Nội.

Là không gian hội tụ các công trình biểu tượng của Thủ đô.

Là vùng cây xanh cảnh quan đặc trưng.

d. Định hướng phát triển không gian

Khu vực nội đô mở rộng sẽ được phân vùng kiểm soát thành 2 khu vực sau:

  • Khu vực nội đô lịch sử (từ hữu ngạn sông Hồng đến đường vành đai 2),

Là khu vực hạn chế phát triển. Cải tạo, xây dựng, tổ chức sắp xếp lại các chức năng sử dụng đất, để gìn giữ phát huy các giá trị đô thị lịch sử, phát triển, bổ sung hoàn thiện hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật:

  • Xây dựng hoàn chỉnh khu vực Ba Đình nơi đặt các trụ sở trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo sự tập trung, xứng với tầm vóc Thủ đô của đất nước trên 100 triệu dân giữa thế kỷ 21.
  • Quy hoạch và xây dựng tập trung cơ quan hành chính thành phố Hà Nội nơi đặt trụ sở Thành ủy, HĐND, UBND, Mặt trận tổ quốc Thành phố tại khu vực xung quanh Hồ Gươm, gắn với các cơ quan sở ngành của Hà Nội.
  • Kiểm soát dân số, giảm dân số từ 1,2 triệu dân hiện nay xuống còn 0,8 triệu dân vào năm 2030 và cải thiện hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật. Phân vùng để kiểm soát phát triển theo đặc trưng từng khu vực, tuyến phố, ô phố có lộ trình xây dựng cải tạo từng giai đoạn. Kiểm soát phát triển đối với các khu vực đặc thù như: phố cổ, phố cũ, Hồ Tây, Hồ Gươm, Thành Cổ...;
  • Xác lập hệ thống mặt nước gắn với không gian công viên cây xanh, cảnh quan tự nhiên, kết hợp tiêu thoát nước cho nội đô. Ưu tiên khai thác quỹ đất dọc sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, …Các hồ như: Hồ Tây, Trúc Bạch Thành Công, Giảng Võ, Văn Chương… để hình thành hệ thống cây xanh mặt nước, công viện, vườn hoa và các không gian mở.
  • Bổ sung, cân đối lại các chức năng đô thị nằm trong khu vực nội đô trên cơ sở di chuyển, chuyển đổi chức năng các khu vực hiện đang là công nghiệp kho tàng, công sở bộ ngành, y tế tuyến trên, trường đại học trong nội thành. Các quỹ đất trên sau khi di dời sẽ ưu tiên xây dựng hệ thống hạ tầng xã hội, công trình công công, văn hóa (trường học, cây xanh - vườn hoa...) đang thiếu và mất cân đối, hạ tầng kỹ thuật (bãi đỗ xe) cho nội đô. Phát triển các chức năng: viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo chất lượng cao chuyên sâu theo hướng là trung tâm dịch vụ, điều hành. Phần còn lại, tùy từng khu vực, vị trí là điểm nhấn sẽ được nghiên cứu phát triển theo hướng tạo nên hình ảnh đô thị mới, hiện đại cho nội đô nhằm phát triển du lịch, dịch vụ chất lượng cao phù hợp với thiết kế đô thị.
  • Kiểm soát khu vực dọc sông Hồng, các vùng có cảnh quan đặc biệt (xung quanh Hồ Tây, Hồ Gươm). Cải tạo các khu tập thể cũ theo hướng không tăng dân số, giãn dân, kết hợp kiểm soát tầng cao hợp lý, tăng điều kiện sống, giảm mật độ xây dựng, tạo không gian xanh và môi trường sống tốt..., tùy từng khu vực hình thành các chung cư mới, tạo hình ảnh đô thị hiện đại.
  • Cải tạo chỉnh trang nâng cao chất lượng sống trong các khu dân cư hiện hữu (nhà ở tự phát, nhà ở làng xóm đô thị hóa, nhà ở dân tự xây, nhà ở chung cư cũ...), tăng cường các trung tâm công cộng mới, kiểm soát bảo tồn di sản gắn với bảo tồn cảnh quan tự nhiên. Xây dựng các công trình tạo hình ảnh Thủ đô như nhà hát Thăng Long - tổ hợp văn hóa Thăng long; tổ hợp tài chính ngân hàng, khu Tây hồ Tây; các trung tâm thương mại hiện đại kết hợp các quảng trường cửa ngõ đô thị, quảng trường trung tâm, các không gian giao lưu cộng đồng... Xác lập các không gian đặc trưng về kiến trúc, cảnh quan, lễ hội văn hóa, lịch sử, dịch vụ, thương mại du lịch… Hình thành các công trình biểu tượng, điểm nhấn không gian kiến trúc đô thị của Thủ đô gắn với các không gian sinh hoạt cộng đồng. (Các giải pháp này sẽ được cụ thể hóa trong quy định quản lý hoặc trong các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết tiếp theo).
  • Xây dựng hoàn chỉnh các tuyến vành đai, một số tuyến đường trên cao và nút giao thông giảm ách tắc nội thành đồng thời với chỉnh trang các tuyến phố chính. Xây dựng các không gian đường phố (tập trung chủ yếu vào các tuyến đường hướng tâm, vành đai và các đường lõi (đường 2,5; 3,5…)
  • Phần mở rộng của khu vực nội đô (từ vành đai 2 đến vành đai xanh sông Nhuệ.

Là khu vực xây dựng hiện hữu và phát triển mới chủ yếu “giảm áp lực” quá tải của đô thị nội đô lịch sử; Xây dựng phát triển mới các trung tâm đô thị và các khu đô thị.

Khu vực hành chính tập trung phải đảm bảo gắn kết với trung tâm chính trị hành chính Ba Đình, dự kiến tại khu vực Tây Hồ Tây và khu vực kề cận Trung tâm hội nghị Quốc gia tại khu vực Mễ Trì - Mỹ Đình. Khu vực này được phát triển với mật độ cao tiết kiệm đất, có không gian cao tầng tạo hình ảnh đô thị hiện đại cho khu vực nội đô dọc theo tuyến đường vành đai 3 và các trục hướng tâm. Khuyến khích điều chỉnh các khu đô thị đang và sẽ xây dựng theo hướng đô thị mới tập trung, hiện đại, cao tầng với các dịch vụ đô thị hoàn chỉnh, đồng bộ.

Hình thành trung tâm Tây Hồ Tây mang tầm cỡ quốc tế và khu vực với chức năng chủ đạo là văn hóa, thương mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng du lịch, giải trí, công viên .v.v... với quy mô lớn, có kiến trúc đặc trưng gắn với không gian tự nhiên và không gian văn hóa truyền thống

Xây dựng các trung tâm công cộng đô thị, khu đô thị mới theo các tuyến đường chính và đường hướng tâm. Hoàn thiện trung tâm thể thao tại Mỹ Đình - Mễ Trì.

- Hình thành hệ thống các trung tâm dịch vụ chất lượng cao và tăng cường không gian mở, cây xanh và mặt nước

- Hình thành các khu nhà ở với nhiều loại hình: cao cấp, trung cấp, nhà ở cho người thu nhập thấp nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu nhà ở của dân.

- Khai thác quỹ đất dọc sông Nhuệ, sông Tô Lịch để hình thành hệ thống công viên cây xanh mặt nước liên tục gắn với hệ thống hồ điều hòa hai bên sông  (hồ Linh Đàm, Yên Sở) kết hợp hệ sinh thái, cây xanh, thảm thực vật, hệ thống thoát nước và tạo thành chuỗi các công viên cây xanh hoàn chỉnh kết nối với hệ thống cây xanh sinh thái sông Hồng. Tạo lập không gian xanh gắn với hệ thống mương thoát nước kết nối sông Nhuệ – Hồ Tây; sông Nhuệ - sông Tô Lịch.

- Từng bước di chuyển các cơ sở công nghiệp ra ngoài, quỹ đất này ưu tiên phát triển hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật phục vụ người dân trong khu vực, phần còn lại phát triển thương mại, dịch vụ, văn phòng cao cấp hoặc các cơ sở sản xuất công nghệ cao (không ô nhiễm môi trường)..

Nâng cấp hệ thống giao thông: Cải thiện điều kiện giao thông bằng các giải pháp: Xây dựng hệ thống đường tầng ở 1 số đoạn trên tuyến vành đai 2, vành đai 3, tuyến quốc lộ 6 và quốc lộ 1 đoạn từ vành đai 2 đến vành đai 4. Xây dựng hệ thống Metro đi ngầm từ đường vành đai 2 trở vào. Xây dựng bổ xung hệ thống bãi đỗ xe ngầm ở các vườn hoa và dưới công trình cao tầng . Hình thành các trục không gian đi bộ kết nối các khu trung tâm.

e. Quy mô phát triển khu vực nội đô:

Quy mô dân số năm 2030: khoảng 1,6 – 1,7 triệu người

Quy mô dân số khống chế tối đa: khoảng 1,8 triệu người.

Quy mô đất đai năm 2030: Diện tích tự nhiên: 15.969 ha.

Chỉ tiêu đất dân dụng:            60 – 65 m2/người.

Diện tích xây dựng đô thị[CL1]  tối đa 13.700 ha.

Trong đó:

Khu vực nội đô lịch sử

  • Năm 2030: khoảng 0,8 triệu người.
  • Quy mô khống chế dân số tối đa: 0,8 triệu người
  • Chỉ tiêu đất xây dựng đô thị: 40-45m2/người.
  • Diện tích xây dựng đô thị[CL2]  tối đa khoảng 4.200 ha.

Khu vực nội đô mở rộng (từ vành đai 2 đến vành đai xanh sông Nhuệ)

  • Năm 2030: khoảng 0,85-0,9 triệu người.
  • Quy mô khống chế dân số tối đa: 0,95-1 triệu người
  • Chỉ tiêu đất dân dụng: 75-80 m2/người.
  • Diện tích xây dựng đô thị[CL3]  tối đa khoảng 9.500 ha.

6.2.2.      Chuỗi khu đô thị phía Đông vành đai 4 (khu vực phía Nam sông Hồng)

Bao gồm các khu đô thị: Đan Phượng - Từ Liêm; Hoài Đức - Từ Liêm; Hà Đông

- Từ Liêm - Thanh Oai; Thanh Trì - Thường Tín.

a. Tính chất và chức năng

Đô thị mở rộng nằm trong vùng kiểm soát của đô thị trung tâm có tính chất là đô thị ở, dịch vụ và thương mại tài chính ngân hàng, vui chơi giải trí. Là không gian có các công trình văn hóa, lịch sử  của quốc gia.

  • Khu đô thị mới hiện đại có hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ đáp ứng cho sinh hoạt dân cư và các hoạt động công sở, văn phòng.
  • Trung tâm thương mại tài chính ngân hàng cấp thành phố
  • Trung tâm thể thao cấp quốc gia
  • Công viên đô thị cấp thành phố

b. Định hướng phát triển

Hình thành khu đô thị, phát triển các trung tâm thương mại, dịch vụ, tài chính, văn hóa, nghệ thuật… tạo điểm nhấn mới của Thủ đô kết hợp với các công trình cấp Quốc gia. Các khu đô thị này được phát triển vai trò đảm nhận và hỗ trợ các chức năng y tế, đào tạo, thương mại, cơ quan được dịch chuyển từ trung tâm ra. Các khu đô thị xây dựng hiện đại mật độ thấp, với các mô hình tổ chức không gian ở hấp dẫn gắn với các nêm xanh, mặt nước và các điểm dân cư làng xóm được đô thị hóa được kiểm soát chặt chẽ bởi không gian vành đai xanh sông Nhuệ và các nêm xanh, tránh dính kết tạo thành mảng đô thị lớn phía Tây sông Nhuệ.

Thiết lập các trung tâm dịch vụ cấp khu vực trên các trục hướng tâm về đô thị trung tâm. Từ đó hình thành các khu nhà ở mới gắn với hệ thống nhà ga đầu mối giao thông công cộng.

Tiếp tục hoàn thiện các dự án đô thị mới đã được chấp thuận đầu tư theo hướng hiện đại. Rà soát lại các quỹ đất dành cho các công trình hạ tầng xã hội như: Trường học, công trình y tế, vườn hoa, cây xanh, chợ .v.v...

Phân vùng xây dựng các loại hình nhà ở cao cấp, trung cấp và nhà ở dành cho người cho thu nhập thấp theo mô hình đô thị nén. Phát triển các khu đô thị tập trung dựa trên các khu vực đầu mối chuyển đổi giao thông hoặc nhà ga công cộng.

Xây dựng các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật giảm bớt áp lực cho khu nội đô như: trạm cấp nước, cấp điện, Bãi đỗ xe... Xây dựng ga đường sắt quốc gia tại Ngọc Hồi.

Xây dựng và hoàn thiện tuyến đường vành đai 3 và 3,5 trở thành tuyến đường  đô thị cảnh quan chính của thành phố. Dự án giao thông sắt công cộng kết nối chuỗi đô thị.

Xây dựng mới trụ sở các bộ ngành Trung ương và khu trung tâm thương mại và triển lãm quốc gia tại Mỹ Đình – Mễ Trì.

Khuyến kích phát triển mới các tổ hợp công trình hạ tầng xã hội như trường học phổ thông, trung tâm y tế, thể thao quần chúng chất lượng cao gắn với các khu dân cư mới, phục vụ không chỉ chuỗi đô thị mà cả khu vực nội đô.

Xây dựng chuỗi các công viên, vườn ươm hoa cây cảnh, các dịch vụ công cộng gắn với hành lang xanh sông Nhuệ. Cải tạo môi trường sống, làm mới hệ thống kênh, hồ nước trên cơ sở các khu vực đất trũng. Kết nối sông Nhuệ, sông Tô lịch với các công viên, vườn hoa cây xanh với các khu dân cư và các trung tâm đô thị.

Tạo nên các nêm xanh kết nối vành đai xanh sông Nhuệ với Hành lang xanh dọc sông Đáy.

c. Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số năm 2030: khoảng 1,2 – 1,4 triệu người
  • Quy mô dân số khống chế tối đa: khoảng 1,7 triệu người.
  • Quy mô đất đai: Diện tích tự nhiên: 25.543 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng: 93 m2/người.
  • Diện tích xây dựng đô thị[CL4]  khoảng từ 15.000 ha đến 18.000 ha.

 

6.2.3.      Chuỗi khu đô thị phía Bắc sông Hồng:

Chuỗi đô thị phía Bắc sông Hồng là một bộ phận của đô thị trung tâm đảm bảo ý tưởng của chủ đạo của đô thị Hà Nội là thành phố hai bên sông. Xây dựng hình ảnh đô thị hiện đại mật độ thấp bên bờ bắc sông Hồng và được kiểm soát bằng dải cây xanh dọc hai bên sông Thiếp - đầm Vân  Trì cùng các nêm xanh. Trong đó hình thành các không gian chủ đạo về cây xanh, mặt nước, văn hóa: Đền Hai Bà Trưng - Sông Thiếp, Đầm Vân Trì - Cổ Loa - Đền Đô - Làng Phù Đổng; Cổ Loa - sông Hồng kết nối với Hồ Tây; Trục động lực kinh tế cầu Nhật Tân - Nội Bài gắn với trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, du lịch, triển lãm, logicstic… Đây là một bộ phận của đô thị trung tâm và sẽ là nội thành trong tương lai.

Chuỗi đô thị Bắc sông Hồng được giới hạn phía Đông và Nam theo ranh giới tự nhiên (đê sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ, nhánh Thiếp – Đàm Vân Trì, sông Ngũ Huyện Khê); phía Bắc và phía Tây theo đường vành đai 4 và điều kiện khác tùy theo từng phân khu quy hoạch. Dự kiến chia thành các phân khu để tổ chức cơ cấu, các khu chức năng đô thị đồng bộ, hoàn chỉnh, thuận lợi cho việc lập quy chế quản lý xây dựng và quản lý đô thị theo quy hoạch chung, gồm: Mê Linh- Đông Anh; Đông Anh; Yên Viên, Long Biên – Gia Lâm, cụ thể như sau:

 

* Khu vực Mê Linh- Đông Anh:

Khu đô thị dịch vụ, công nghiệp tập trung và nông nghiệp chất lượng cao

a. Tính chất và chức năng

  • Phát triển đô thị kết hợp với xây dựng các khu trồng hoa công nghệ cao. Ngoài ra, cần tính đến một khu dịch vụ sinh thái có chức năng thu gom và chuyển hóa năng lượng tái tạo phục vụ phát triển nông nghiệp.
  • Đô thị công nghiệp tập trung: Các tuyến đường bộ quốc gia, đường sắt, ga, sân bay, cảng sông là những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển trong tương lai của cả khu đô thị công nghiệp. Có thể tiếp cận dễ dàng khu công nghiệp ở phía Bắc và trung tâm Mê Linh bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Ngoài ra, khu vực này còn có những đầu mối giao thông quan trọng để kết nối với khu vực nội đô.
  • Là trung tâm dịch vụ y tế, giáo dục cấp vùng phía Bắc Hà Nội: Khu vực Mê Linh thuộc phạm vi đô thị trung tâm để phát triển các khu y tế, giáo dục tập trung cho khu vực phía Bắc Hà Nội, vì có sự kết nối với hệ thống hạ tầng vùng, các tuyến quốc lộ, cao tốc, các cảng sông và sân bay.

b. Định hướng phát triển

Kết nối đô thị Mê Linh-Đông Anh với sân bay Nội Bài và hành lang kinh tế dọc Quốc lộ 18 phát triển trung tâm thương mại khu vực Bắc Hà Nội, khu dịch vụ Logistic và các khu công nghiệp sạch, đa ngành, kỹ thuật cao

Xây dựng đô thị Mê Linh-Đông Anh có đặc thù riêng biệt gắn với vùng trồng hoa truyền thống. Trên trục Thăng Long - Nội Bài tạo dựng cảnh quan đô thị bằng các dải không gian xanh trồng hoa, cây cảnh. Gắn kết hài hòa thị trấn Mê Linh-Đông Anh với vùng đô thị mới.

Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ, hoàn chỉnh kết nối với hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật với các khu vực lân cận. Hình thành tuyến đường trục trung tâm đô thị có cảnh quan hấp dẫn, đặc thù.

Xây dựng trung tâm triển lãm, hội chợ hoa kết hợp trung tâm khoa học công nghệ chuyên ngành hoa và cây.

c. Quy mô phát triển:

Quy mô dân số năm 2030: khoảng 0,45 triệu người.

Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,55 triệu người

Quy mô đất đai: Diện tích tự nhiên: 11.302 ha.

Chỉ tiêu đất dân dụng: 85-90 m2/người.

Diện tích xây dựng đô thị[CL5]  tối đa khoảng 7.000 ha.

Trong quỹ đất xây dựng đô thị năm 2020 có  phần đất được chuẩn bị  trước cho năm 2030, nhưng dân số thấp hơn. Do đó chỉ tiêu xây dựng đô thị năm 2020 cao hơn năm 2030.

 

* Khu vực Đông Anh

Đô thị dịch vụ, du lịch và công nghệ cao

a. Tính chất và chức năng

  • Là trung tâm dịch vụ, tài chính, thương mại, giao dịch quốc tế: Khu vực Đông Anh thuộc phạm vi đô thị trung tâm và có tiềm năng để phát triển tài chính, thương mại, tập trung vào nguồn nhân lực vì có sự kết nối với các cảng sông và sân bay.
  • Là trung tâm Du lịch sinh thái và thể thao vui chơi giải trí của Thành phố: Khai thác tiềm năng cũng như bảo tồn thảm thực vật khu vực đầm Vân Trì để hình thành khu  trung tâm Du lịch sinh thái và Khu thể thao (ASIAD) kết hợp với khu EXPO và vui chơi giải trí của Thành phố.
  • Khu công viên Bảo tồn văn hóa lịch sử di tích Thành Cổ Loa: Cổ Loa được coi là tâm điểm của trục văn hóa, lịch sử, du lịch kết nối với Hồ Tây, một biểu tượng phát triển mới trên tuyến kết nối sông Hồng, sông Đuống với hệ thống cây xanh và mặt nước của Đông Anh. Hơn nữa, Cổ Loa còn là điểm huyết mạch lịch sử xuyên suốt thành phố quá khứ - hiện tại và tương lai.
  • Công nghiệp kỹ thuật cao, nghiên cứu & phát triển: Đông Anh có tiềm năng phát triển thành một đô thị khoa học với chất lượng cao. Sự phát triển công nghiệp song song với phát triển nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cùng với sự phát triển của tài chính, thương mại có thể làm cho Đông Anh trở thành một trung tâm nghiên cứu & phát triển và giáo dục dựa trên tri thức trong tương lai, trọng tâm là công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo mới và viễn thông.

b. Định hướng phát triển

Phát triển đô thị Đông Anh trên cơ sở mở rộng thị trấn Đông Anh (Huyện lỵ huyện Đông Anh) về 2 phía tuyến đường vành đai 3 Hà Nội, khai thác và tận dụng tối đa cảnh quan của Sông Hồng, sông Đuống, đầm Vân Trì và khu di tích Cổ Loa. Nối kết với tuyến hành lang kinh tế Côn Minh-Hà Nội-Hạ Long và cao tốc Thăng Long – Nội Bài, cao tốc Nhật Tân - Nội Bài và đường 5 kéo dài.

  • Xây dựng mới khu TDTT thành phố Hà Nội, đạt tiêu chuẩn ASIAD
  • Hình thành khu du lịch cao cấp và các khu resort cao cấpxung quanh đầm Vân Trì;
  • Xây dựng công viên văn hóa lịch sử Cổ Loa kết hợp trường quay ngoài trời, thăm quan du lịch,
  • Xây dựng công viên dọc sông Hồng và sông Đuống, hình thành trục cảnh quan hướng về Hồ Tây.
  • Xây dựng tuyến giao thông nước nối sân bay quốc tế Nội Bài với trung tâm giao lưu thương mại quốc tế trên tuyến cao tốc Nhật Tân Nội Bài và Thăng Long Nội Bài, hình thành trục trung tâm giao lưu quốc tế.
  • Xây dựng khu công nghiệp công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển kết hợp cải tạo các khu dân cư hiện có tại khu vực Nguyên Khê - Xuân Nộn.

c.  Quy mô phát triển:

Quy mô dân số năm 2030: khoảng 0,55 triệu người.

Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,67 triệu người

Quy mô đất đai: Diện tích tự nhiên: 9.854 ha.

Chỉ tiêu đất dân dụng: 85-90 m2/người.

Diện tích xây dựng đô thị[CL6]  tối đa khoảng 8.000 ha.

 

* Khu vực Long Biên – Gia Lâm- Yên Viên

Khu đô thị dịch vụ, công nghiệp

a. Tính chất và chức năng

  • Là trung tâm dịch vụ chất lượng cao hỗ trợ công nghiệp vùng phía đông - vùng thủ đô Hà Nội (Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương ).

Do lợi thế về vị trí và hiện trạng phát triển gắn liền với khu vực nội đô cũ, Yên Viên-Long Biên - Gia Lâm là khu vực phát triển mạnh các trung tâm dịch vụ chất lượng cao (như thương mại, tài chính, ngân hàng,  giới thiệu và quảng cáo sản phẩm, các trung tâm đào tạo nghề, y tế chuyên sâu) và hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp dọc quốc lộ 5. Các quỹ đất hiện có dọc sông Hồng, sông Đuống có thể được khai thác phát triển công viên cây xanh, dịch vụ giải trí.

  • Là trung tâm dịch vụ y tế, giáo dục cấp vùng phía Đông Bắc Hà Nội.
  • Là trung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng chất lượng cao.
  • Là trung tâm trung chuyển hàng hóa.

b. Định hướng phát triển

Phát triển đô thị đảm bảo khắc phục các chia cắt địa bàn do các tuyến giao thông và hành lang hạ tầng kỹ thuật đi qua. Hạn chế các tác động tiêu cực về môi trường hiện nay của khu vực Gia Lâm do phát triển công nghiệp tự phát ngày một lan rộng.

Hình thành các chức năng dịch vụ công cộng chất lượng cao như thương mại, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, giới thiệu và quảng cáo sản phẩm, các trung tâm đào tạo nghề, y tế chuyên sâu .v.v...

Hướng phát triển theo hướng đô thị nén dọc theo trục quốc lộ 5, tập trung cao tầng, tăng cường hiệu quả sử dụng đất.

Khai thác quỹ đất dọc sông Hồng, sông Đuống để phát triển công viên cây xanh, dịch vụ giải trí.

Xây dựng khu vui chơi giải trí thể thao công thức 1, quy mô lớn.

c. Quy mô phát triển:

 Quy mô dân số năm 2030: khoảng 0,7 triệu người.

Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,75 triệu người.

Quy mô đất đai: Diện tích tự nhiên: 12.120 ha.

Chỉ tiêu đất dân dụng: 75-80 m2/người.

Diện tích xây dựng đô thị[CL7]  tối đa khoảng 8.500 ha.

Trong quỹ đất xây dựng đô thị năm 2020 có  phần đất được chuẩn bị  trước cho năm 2030, chủ yếu thuộc đất ngoài dân dụng nhưng dân số thấp hơn. Do đó chỉ tiêu xây dựng đô thị năm 2020 cao hơn năm 2030.

6.3.            Đô thị vệ tinh

Gồm 5 đô thị là Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên và Sóc Sơn.

Các đô thị vệ tinh được phát triển hoàn chỉnh đồng bộ từ hạ tầng kỹ thuật đến hạ tầng xã hội một cách độc lập và hỗ trợ, giảm tải một số chức năng cho đô thị trung tâm như: Công nghiệp, công nghệ cao, giáo dục, đào tạo, y tế, du lịch, đầu mối hạ tầng kỹ thuật diện rộng...

Các đô thị vệ tinh cách trung tâm thành phố khoảng 25-30km. Đây là khoảng cách tối ưu vừa đảm bảo tính độc lập tương đối của các đô thị vệ tinh, vừa đáp ứng các hoạt động hỗ trợ đối với đô thị trung tâm trên cơ sở các phương tiện giao thông tốc độ cao (đường sắt đô thị, xe buýt tốc độ cao).

Các đô thị vệ tinh sẽ được xác định ranh giới hành chính và cấp loại đô thị phù hợp để tạo điều kiện quản lý và phát triển.

6.3.1.      Đô thị vệ tinh Sóc Sơn:

 Đô thị vệ tính Sóc Sơn: Đô thị dịch vụ

a.  Định hướng phát triển

Phát triển đô thị Sóc Sơn trở thành đô thị dịch vụ gắn với bảo tồn khu vực núi Sóc, đô thị vệ tinh cửa ngõ phía Bắc thành phố Hà Nội, khai thác tiềm năng cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tuyến hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Quảng Ninh, QL3 liên kết Hà Nội với các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ (Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng).

b. Tính chất

  • Đô thị dịch vụ: Xây dựng đô thị mới Sóc Sơn gắn với dịch vụ cấp vùng cảng hàng không quốc tế Nội Bài và các KCN thành một khu vực phát triển thương mại, Logistics và trung chuyển hàng hóa quốc tế của miền Bắc Việt Nam mà trọng tâm là lĩnh vực vận tải gắn liền với hệ thống đường sắt và hàng không
  • Đô thị sinh thái: Phát triển các không gian xanh cảnh quan trên cơ sở bảo tồn vùng núi Sóc Sơn và hệ thống các sông Cà Lô, sông Kông, sông Cầu, hồ Đồng Quan... Xây dựng hoàn thiện khu di tích Sóc gắn với khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng; các công viên giải trí của đô thị Sóc Sơn, các khu TDTT, vui chơi giải trí như trường đua ngựa, sân Golf....

c. Các chức năng chính

  • Là trung tâm dịch vụ cảng hàng không, dịch vụ thương mại, Logistics và trung chuyển hàng hóa quốc tế.
  • Là trung tâm dịch vụ du lịch thương mại nghỉ dưỡng cấp vùng và thành phố.
  • Là đầu mối hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia và thành phố.
  • Là vùng phát triển công nghiệp sạch của Thành phố Hà Nội.
  • Là trung tâm dịch vụ đào tạo cấp vùng.
  • Là trung tâm dịch vụ y tế chuyên sâu khu vực cửa ngõ phía Bắc Hà Nội

d. Tổ chức không gian

  • Hình thành các trung tâm dịch vụ gắn với các khu công nghiệp sạch phục vụ cảng hàng không quốc tế Nội Bài, công nghiệp Mai Đình trên tuyến giao đường Xuyên Á, quốc lộ 3 và đường sắt quốc gia.
  • Hình thành các trung tâm dịch vụ gắn với các khu TDTT, giải trí đặc biệt như trường đua ngựa, sân tập Golf... gắn với vùng núi Sóc khoảng 200-300ha.
  • Phát triển mới các trung tâm dịch vụ gắn với các khu công nghiệp sạch khoảng 300ha tại Minh Trí - Tân Dân.
  • Hình thành một số chức năng dịch vụ khác phục vụ cho khu vực phía Bắc Thành phố và vùng Hà Nội như: Trung tâm y tế khoảng 100 ha, kết hợp Khám chữa bệnh, an dưỡng, nghiên cứu, đào tạo..; Cụm trường đại học khoảng 600-650ha với các ngành du lịch, văn hoá, hàng không …;
  • Xây dựng mới khu sử lý rác thải Nam Sơn khoảng 200ha và Nghĩa trang sinh thái Minh Phú 100ha.
  • Xây dựng mới hệ thống giao thông đô thị, giao thông công cộng, hệ thống đường giao thông thủy, gắn kết với địa hình tự nhiên, bảo vệ làng xóm cũ.

e. Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số năm 2030: khoảng 0,25 triệu người.
  • Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,365 triệu người.
  • Quy mô đất đai: Diện tích tự nhiên: 6.013 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng đô thị khoảng 75-80 m2/người.
  • Diện tích xây dựng đô thị[CL8]  tối đa khoảng 5.500 ha.

Trong quỹ đất xây dựng đô thị năm 2020 có  phần đất được chuẩn bị  trước cho năm 2030, chủ yếu thuộc đất ngoài dân dụng nhưng số dân thấp hơn của năm 2030. Do đó chỉ tiêu xây dựng đô thị năm 2020 cao hơn năm 2030.

6.3.2.      Đô thị vệ tinh Sơn Tây 

Đô thị vệ tinh Sơn Tây: Đô thị văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng       

a.  Định hướng phát triển

Phát triển đô thị Sơn Tây trở thành đô thị văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng, đô thị xanh, đô thị vệ tinh cửa ngõ phía Tây Bắc thành phố Hà Nội, khai thác lợi thế đặc thù vùng cảnh quan cây xanh, hồ nước chiếm diện tích lớn như hồ Suối Hai, hồ Xuân Khanh... và hệ thống di sản, di tích như thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng khác; có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, đầu mối giao thông quan trọng của Thủ đô trên tuyến đường Hồ Chí Minh, QL21, QL32 và đường vành đai 5 của thủ đô Hà Nội.

Gìn giữ cấu trúc đô thị cổ Sơn Tây, tạo dựng đô thị có bản sắc văn hóa đặc trưng – văn hóa xứ Đoài.

b. Tính chất

  • Là đô thị văn hóa lịch sử: Phát triển đô thị văn hóa đặc trưng cửa ngõ phía Bắc của Hà Nội trên cơ sở bảo tồn di sản văn hóa truyền thống (Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm và các di tích lịch sử văn hóa khác), bảo tồn và phát triển tiểu thủ công nghiệp phục vụ du lịch.
  • Là đô thị du lịch nghỉ dưỡng: Tăng cường đa dạng môi trường tự nhiên và tính chất sinh học của vùng phát triển trung tâm kỹ thuật sinh học hỗ trợ cho du lịch, phát triển nông nghiệp sinh thái trên cơ sở khai thác lợi thế ưu đãi về cảnh quan đa dạng vùng sông Hồng, sông Tích, Ba Vì – Suối Hai.

c. Tổ chức không gian

  • Gìn giữ cấu trúc đô thị cổ Sơn tây, xây dựng đô thị có bản sắc văn hóa đặc trưng – văn hóa xứ Đoài theo hướng mô hình đô thị xanh.
  • Bảo tồn di sản văn hóa truyền thống (Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm và các di tích khác).
  • Mở rộng, phát triển mới đô thị về phía Tây, hướng về khu vực hồ Xuân Khanh & Đầm Được. Không mở rộng về hướng Nam & hướng Đông. Lấy thành cổ Sơn Tây, hồ Xuân Khanh và hồ Kỳ Sơn là những không gian trọng tâm chính để tổ chức không gian đô thị.
  • Xây dựng đô thị trên nền địa hình tự nhiên, có hệ thống giao thông đô thị kết nối hài hòa giữa khu phát triển mới và làng xóm cũ, đặc biệt là khu vực Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm và thị trấn Tây Đằng.
  • Hình thành khu đại học tập trung quy mô lớn khoảng 400-500ha, ưu tiên các ngành nghề đào tạo về khoa học xã hội, văn hóa, nghệ thuật, du lịch, kinh tế ...

d. Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số năm 2030: khoảng 0,18 triệu người.
  • Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,217 triệu người.
  • Quy mô đất đai: Diện tích đất tự nhiên: 6.111 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng: 90-95 m2/người.

Đất xây dựng đô thị khoảng 4.000 - 4.200ha

6.3.3.      Đô thị vệ tinh Hòa Lạc

Đô thị vệ tinh Hòa Lạc: Đô thị khoa học công nghệ và đào tạo

a.  Định hướng phát triển

Xây dựng Hòa Lạc thành đô thị “thông minh”. Thành phố Hòa Lạc trong tương lai sẽ là thành phố khoa học, nơi tập trung trí tuệ và công nghệ tiên tiến nhất của Việt Nam, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đô thị Hòa Lạc còn là đô thị du lịch nghỉ dưỡng, trung tâm vùng phía Tây Hà Nội được xây dựng dựa trên cấu trúc địa hình tự nhiên, gắn kết với hệ thống Ba Vì- Đồng Mô và sông Tích, hệ thống hạ tầng kỹ thuật quốc gia như QL21, đường Hồ Chí Minh.

b. Tính chất

  • Là đô thị khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát triển, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Đây là khu vực có khả năng phát triển cao bởi Đại lộ Thăng Long trực tiếp nối Hòa Lạc với đô thị Trung tâm. Điều kiện xã hội của đô thị khá thuận lợi để có thể thu hút nhân lực và vật lực. Đô thị Hòa Lạc có khả năng xây dựng các cơ sở vật chất công nghệ cao để hướng tới phát triển khoa học công nghệ bền vững.
  • Là đô thị chất lượng cao: Để khuyến khích phát triển nguồn nhân lực dồi dào, cần khắc phục sự bất lợi về mặt địa lý do cách xa khu vực nội đô và tận dụng các lợi thế về tự nhiên để thu hút việc di dân. Bảo tồn và gìn giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực chân núi Núi Ba Vì, Núi Viên Nam, Sông Tích, hồ Đồng Mô và hồ Tân Xá phục vụ cho cộng đồng.

c. Các khu chức năng chính:

  • Khu Công nghệ cao Hòa Lạc
  • Khu trường đại học Quốc gia
  • Khu đô thị Hòa Lạc
  • Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Đồng Mô
  • Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam
  • Các khu đô thị sinh thái gắn với địa hình đồi núi

d. Tổ chức không gian

  • Xây dựng hoàn thiện khu công nghệ cao, đại học quốc gia Hà Nội.
  • Xây dựng đồng bộ hệ thống giao thông kết nối Hòa Lạc với đô thị trung tâm và hệ thống hạ tầng giao thông đầu mối như sân bay, nhà ga…
  • Xây dựng trung tâm đô thị Hòa lạc tại khu vực giao cắt của Đại lộ Thăng Long và QL21, theo mô hình đô thị nén, chủ yếu phát triển nhà cao tầng.
  • Tiếp tục xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng Đồng Mô, làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam.
  • Về phát triển đô thị mới: phía Đông đường Hồ Chí Minh, xây dựng các khu đô thị mới hiện đại và đồng bộ, khuyến kích phát triển mật độ cao. Phía Tây đường Hồ Chí Minh kiểm soát phát triển, ưu tiên xây dựng nhà ở mật độ trung bình và thấp tầng, đối với công trình công cộng và nhà ở hỗn hợp  nên bố trí một số công trình cao tầng làm điểm nhấn đô thi.   
  • Khoanh vùng ranh giới bảo tồn rừng quốc gia Ba vì và xác định các hành lang bảo vệ hệ thống sông Tích, hồ Đồng Mô …

f. Quy mô phát triển

  • Quy mô dân số năm 2030: khoảng 0,6 triệu người.
  • Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,75 triệu người.
  • Quy mô đất đai: Diện tích đất tự nhiên: 20.113 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng: 80-90 m2/người.
  • Đất xây dựng đô thị tối đa: khoảng 18.000 ha.

6.3.4.      Đô thị vệ tinh Xuân Mai

Đô thị vệ tinh Xuân Mai: Đô thị dịch vụ-công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, hệ thống làng nghề

a.  Định hướng phát triển

Phát triển đô thị Xuân Mai trở thành đô thị dịch vụ-công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, hệ thống làng nghề, đô thị cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội, đầu mối giao thông và liên kết Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu) dựa trên mạng lưới giao thông liên vùng, quốc gia (QL6 và QL21).

Đô thị Xuân Mai hỗ trợ đô thị Hòa Lạc về đào tạo đại học.

 b. Tính chất

  • Là đô thị dịch vụ-công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, hệ thống làng nghề: Phát triển các trung tâm dịch vụ gắn với cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống. Phát triển các dịch vụ thương mại đầu mối nối kết Hà Nội với các tỉnh phía Tây Bắc đất nước.
  • Là đô thị đại học: Hỗ trợ đô thị Hòa Lạc phát triển các khu cụm đại học tập trung, giảm tải sinh viên ra khỏi khu vực nội đô.

c. Tổ chức không gian

  • Xây dựng các trung tâm dịch vụ và công nghiệp hỗ trợ toàn bộ các cụm tiểu thủ công nghiệp, hệ thống làng nghề thuộc tỉnh Hà Tây (cũ).
  • Phát triển các trung tâm dịch vụ thương mại, chợ đầu mối nối kết Hà Nội với các tỉnh phía Tây Bắc đất nước.
  • Xây dựng các khu, cụm trường đại học quy mô từ 500ha ưu tiên các ngành nghề sư phạm, đa ngành.
  • Xây dựng các khu đô thị mới và trung tâm đô thị Xuân Mai, lấy sông Bùi và hệ thống hồ xung quanh làm không gian kết nối thị xã Xuân Mai hiện trạng và phát triển mở rộng mới về phía Nam.
  • Khoanh vùng bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng của đô thị Xuân mai như: núi Thoong, sông Bùi …, kết hợp phát triển dịch vụ du lịch sinh thái.

d. Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số năm 2030: khoảng 0,22 triệu người.
  • Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,3 triệu người.
  • Quy mô đất đai: Diện tích đất tự nhiên: 6.641 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng: 80-85 m2/người.
  • Đất xây dựng đô thị khoảng 3.500-4.500 ha.

 

6.3.5.      Đô thị vệ tinh Phú Xuyên

Đô thị vệ tinh Phú Xuyên : Đô thị công nghiệp, đầu mối giao thông, trung chuyển hàng hóa.

a.  Định hướng phát triển

Phát triển đô thị Phú Xuyên trở thành đô thị công nghiệp, đầu mối giao thông, trung chuyển hàng hóa; đô thị vệ tinh cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, đầu mối của các hành lang giao thông quốc gia (quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam, đường sắt và đường bộ cao tốc Bắc Nam, tuyến giao thông kết nối vùng Tây Bắc Hải Phòng - Đỗ Xá - Quan Sơn – Hòa Bình và hệ thống đường thủy sông Hồng).

b. Tính chất

  • Đô thị công nghiệp, đầu mối giao thông, trung chuyển hàng hóa: Phát triển các khu công nghiệp chế biến hỗ trợ vùng nông nghiệp phía Nam Hà Nội, các khu công nghiệp đón nhận toàn bộ công nghiệp ô nhiễm tại Hà Tây cũ và nội thành Hà Nội và liên kết với hệ thống khu cụm công nghiệp Đồng Văn (Hà Nam) tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội.
  • Đô thị sinh thái: Phát triển đô thị gắn với hệ thống mặt nước liên hoàn (để khắc phục địa hình thấp trũng), giải quyết việc thoát nước mặt, tưới tiêu nông nghiệp và tạo dựng cảnh quan đặc trưng vùng phía Nam Hà Nội

c. Các chức năng chủ yếu:

  • KCN sạch và chế biến nông nghiệp: Phú Xuyên là khu vực có đất nông nghiệp năng suất cao, có thể sử dụng nguồn tài nguyên nông nghiệp phục vụ ngành công nghiệp chế biến thực phẩm chất lượng cao thông qua mô hình Nghiên cứu & Phát triển công nghệ cao. Những yếu tố thuận lợi về tự nhiên sẽ rất hữu ích để phát triển thành thành phố tự cung tự cấp.
  • Đầu mối giao thông, trung tâm tiếp vận hàng hóa: Các lợi thế về vị trí, nơi giao thoa của các tuyến giao thông đường bộ liên vùng và tuyến đường thủy sông Hồng và đường sắt Bắc Nam sẽ giúp đô thị Phú Xuyên phát triển công nghiệp gắn với các hoạt động Logistics và cảng sông. Các khu vực phát triển sẽ tập trung dọc theo quốc lộ 1 và sông Hồng. Khu vực Logistics và cảng sông có thể được phát triển thành một cảng container nội địa.
  • Cây xanh, mặt nước và khu nhà ở sinh thái: Đất nông nghiệp năng suất cao, môi trường nước và cây xanh được coi là các giá trị tự nhiên lớn nhất và có ảnh hưởng tích cực đến môi trường sống của con người và là cơ sở để phát triển các khu nhà ở sinh thái (dọc theo sông Nhuệ).
  • Trung tâm tổng hợp cửa ngõ phía Nam về dịch vụ y tế, đào tạo và công nghiệp.

d. Tổ chức không gian

Xây dựng khu công nghiệp tập trung phía Nam Hà Nội, trung tâm logistics phân phối nông sản Vùng.

  • Khu vực phía Đông giáp với sông Hồng có lợi thế về giao thông liên vùng và giao thông thủy dự kiến sẽ phát triển công nghiệp, kho tàng và các dịch vụ đào tạo, trung chuyển, đầu mối phân phối hàng hóa.
  • Xây dựng đô thị Phú Xuyên theo mô hình sinh thái, nối kết hài hòa đô thị mới với thị trấn Phú Xuyên cũ thông qua kế hoạch mở rộng, cải tạo và hình thành hệ thống mặt nước, hồ điều hòa của đô thị trên nền tảng là hệ thống sông sông Nhuệ, sông Hồng và các nhánh kênh khác.
  • Phát triển hệ thống trung tâm công công đô thị và các khu dân cư đều được tiếp cận với hệ thống giao thông hiện đại trong bán kính 5 phút đi bộ.
  • Xây dựng khu công nghiệp đa ngành khoảng 1000ha, nhằm dãn các khu công nghiệp từ nội thành tới. Hình thành cụm trường đại học quy mô khoảng 30-40ha đào tạo các ngành nghề liên quan đến dịch vụ hỗ trợ công nghiệp. Ưu tiên phát triển các khu nhà ở phục vụ công nhân khu công nghiệp.

e. Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số năm 2030: khoảng  0,127 triệu người

Quy mô dân số khống chế tối đa: 0,155 triệu người.

  • Quy mô đất đai:

Chỉ tiêu đất dân dụng: 60-70 m2/người.

Đất xây dựng đô thị khoảng 2.500-3.000 ha. Chiếm 21% diện tích đất tự nhiên.

                                                                                                              

6.4.            Thị trấn

6.4.1.      Tổng quan chung

Các thị trấn hiện hữu chủ yếu đóng vai trò trung tâm hành chính, chính trị của huyện, các chức năng hỗ trợ về dịch vụ thương mại, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng sản xuất còn thiếu và không đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong khu vực nông thôn. Nhiều dịch vụ hình thành mang tính tự phát, thiếu định hướng, không đảm bảo chất lượng và đảm bảo yêu cầu phát triển cân bằng giữa các khu vực.

Ngoài ra theo tình hình phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm phân bố dân cư và quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề lao động sẽ hình thành thêm các thị tứ trong vùng nông thôn để hỗ trợ về dịch vụ và hạ tầng cho dân cư trong nông thôn.

Những vấn đề cần giải quyết:

  • Xác định mô hình tổ chức không gian cho các thị trấn thị tứ..
  • Phát triển hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng sản xuất hỗ trợ phát triển vùng nông thôn.
  • Khắc phục các tồn tại về hạ tầng và môi trường tại các thị trấn hiện hữu.
  • Hình thành một số thị trấn, thị tứ mới để hỗ trợ phát triển vùng nông thôn.

 

6.4.2.      Định hướng phát triển chung

Phát triển các thị trấn, thị tứ theo mô hình đô thị sinh thái theo hướng hạn chế các loại hình sản xuất gây ô nhiễm môi trường, quản lý chặt chẽ về mật độ xây dựng, tầng cao công trình, loại hình công trình, hình thái kiến trúc . . . Hạn chế mô hình phát triển dọc hai bên đường như hiện nay.

Phát triển các thị trấn thị tứ trở thành trung tâm hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của vùng nông thôn bao gồm các chức năng sau: đầu mối hạ tầng kỹ thuật ( cấp điện, cấp nước, giao thông, xử lý môi trường), trung tâm dịch vụ công cộng( hành chính, thương mại, giáo dục, y tế . . .), trung tâm hỗ trợ sản xuất ( cụm công nghiệp, chuyển giao công nghệ, thông tin, tài chính . . .).

Các thị trấn thị tứ đóng vai trò hấp thụ các nhu cầu đô thị hóa trong vùng nông thôn như cung cấp nhà ở và dịch vụ trong quá trình gia tăng dân số trong các làng xã, cụm điểm dân cư. Các dự án sinh thái tại các thị trấn cũng tham gia phát triển quỹ nhà ở sinh thái cho nhân dân và lao động trong khu vực đô thị có nhu cầu sinh sống trong vùng nông thôn.

Khai thác các lợi thế đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của khu vực để hình thành các chức năng chuyên đề, hỗ trợ cho vùng nông thôn như: thị trấn Chúc Sơn phát triển trung tâm về đào tạo, thị trấn Quốc Oai phát triển đô thị sinh thái, thị trấn Đại Nghĩa phát triển thành trung tâm hỗ trợ du lịch . . .

Kiểm soát giới hạn và quy mô phát triển tại các thị trấn, hạn chế khai thác quỹ đất lúa năng suất cao vào phát triển đô thị. Tạo ra các vùng đệm, vùng chuyển tiếp để phát triển gắn kết hài hòa giữa không gian đô thị và không gian cảnh quan của vùng nông thôn.

6.4.3.      Các thị trấn nằm trong vùng đô thị hóa

9 thị trấn được đô thị hóa vào đô thị trung tâm (Đông Anh, Chi Đông, Quang Minh, Trâu Quỳ, Yên Viên, Cầu Diễn, Văn Điển, Trạm Trôi) và 4 thị trấn phát triển thành các đô thị vệ tinh ( Sóc Sơn, Xuân Mai, Phú Xuyên, Phú Minh). sẽ được kiểm soát phát triển theo định hướng riêng của từng khu vực đô thị.

Trong giai đoạn trước mắt cần kiểm soát sự phát triển đô thị hóa tự phát lan tỏa làm biến mất những giá trị hiện hữu về cảnh quan, môi trường và các tác động tiêu cực  đối với hoạt kinh tế xã hội. Đặc biệt là tình hình chuyển đổi đất đai và kinh doanh bất động sản ngầm như hiện nay.

Cần xác định rõ các giai đoạn phát triển làm cơ sở chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi quỹ đất sản xuất và tăng cường điều kiện hạ tầng cơ sở theo các thời điểm thích hợp, nhằm hạn chế những yếu tố phát triển thiếu bền vững.

Tại các thị trấn này tiếp tục phát triển các trung tâm về hỗ trợ sản xuất như cụm công nghiệp, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm . . . để tiếp tục hỗ trợ các vùng nông thôn  kế cận còn lại tại các vành đai đô thị.

6.4.4.      Thị trấn sinh thái

6.4.4.1. Thị trấn sinh thái Phúc Thọ

Phát triển Phúc Thọ từ thị trấn cũ trở thành trung tâm hỗ trợ phát triển vùng nông thôn huyện Phúc Thọ với các cơ sở công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm gắn với TTCN làng nghề, dịch vụ công cộng, dịch vụ logistics hỗ trợ nông nghiệp công nghệ cao và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất khác, chuyển giao công nghệ và đào tạo. Tạo liên kết chặt chẽ với khu vực phát triển nông nghiệp năng suất cao của Vĩnh Phúc ở phía Bắc. Phát triển thị trấn sinh thái gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa địa phương, hài hòa với không gian cảnh quan tự nhiên hiện có. Phát triển thị trấn dựa trên quốc lộ 32 và trục cảnh quan Bắc Nam dự kiến. Hạn chế sự phát triển lan tỏa, tránh tác động tiêu cực tới môi trường cảnh quan tự nhiên hiện có và các vùng bảo tồn làng nghề, di tích lịch sử, công trình văn hóa.

Định hướng phát triển không gian

  • Phát triển các trung tâm thương mại dọc quốc lộ 32 và đường cảnh quan Bắc Nam, bảo vệ và tôn tạo các khu vực mặt nước hiện hữu.
  • Cung cấp các dịch vụ chất lượng cao (y tế, giáo dục v.v…) nhằm phục vụ dân cư đô thị và dân cư của các làng nghề lân cận.v.v.
  • Công nghiệp công nghệ cao liên quan đến sản xuất nông nghiệp.
  • Mật độ xây dựng trung bình, tập trung nén tại khu vực trung tâm tại vị trí giao cắt giữa đường Băc Nam và quốc lộ 32.
  • Hình thành mạng lưới ven trục đường dành cho người đi bộ, không gian mở, cung cấp sự kết nối tới khu vực nông nghiệp và không gian mặt nước. 
  • Xác định các trung tâm lân cận một cách chiến lược nhằm phục vụ cho dân cư hiện hữu và dân cư vùng lân cận
  • Phát triển các dịch vụ công cộng chất lượng cao, các chức năng hỗ trợ phát triển vùng nông thôn
  • Tập trung phát triển thấp tầng (3 - 5 tầng)
  • Sử dụng các đặc điểm kiến trúc nông thôn truyền thống

Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số (phát triển mới ) năm 2030 khoảng: 2,2 vạn người.
  • Quy mô dân số (phát triển mới )  khống chế tối đa: 2,8-3,0 vạn người
  • Quy mô đất đai: Diện tích đất tự nhiên: 870 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng: 96 m2/người.
  • Diện tích xây dựng đô thị[CL9]  tối đa khoảng 400 ha.

6.4.4.2. Thị trấn sinh thái Quốc Oai

Xây dựng đô thị sinh thái Quốc Oai trở thành thị trấn sinh thái, du lịch, trung tâm dịch vụ vùng sinh thái nông nghiệp huyện Quốc Oai, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa dọc sông Đáy và sông Tích (chùa Thày, chùa Tây Phương, động Hoàng Xá). Phát triển thị trấn trên cơ sở cải tạo và mở rộng thị trấn Quốc Oai hiện nay về phía Bắc,  phía Tây tại điểm giao cắt đại lộ Thăng long với Trục Bắc Nam. Xây dựng các khu nhà ở mới theo mô hình sinh thái, các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp công nghệ cao và các khu du lịch sinh thái và tâm linh.

Định hướng phát triển không gian.

  • Khu đô thị sinh thái mới phát triển phía Bắc đại lộ Thăng Long gắn với chuyển đổi chức năng khu công nghiệp Thạch Thất Quốc Oai và bảo vệ phát triển vùng di tích chùa Thầy. Cung cấp các loại hình nhà ở sinh thái, hỗ trợ phát triển vùng nông thôn và dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí.
  • Khu vực phía nam đại lộ Thăng Long phát triển từ thị trấn hiện hữu thành trung tâm hành chính, cung cấp các dịch vụ công cộng chất lượng cao gắn với cải tạo đô thị hiện hữu.
  • Khu trung tâm thị trấn hiện hữu được cải tạo và mở rộng gắn với chức năng hỗ trợ phát triển dịch vụ vùng nông thôn, liên kết hài hòa và tạo hành lang đệm hợp lý với các làng xóm hiện hữu.
  • Các khu cụm công nghiệp hiện hữu từng bước chuyển đổi công nghệ và dây truyền sản xuất đáp ứng yêu cầu môi trường sinh thái trong hành lang xanh. Trong tương lai dài hạn có thể chuyển đổi sang chức năng đô thị và di dời các cơ sở công nghiệp ra các khu công nghiệp tập trung của vùng.
  • Phát triển đô thị mật độ thấp và tầng cao trung bình, tại khu vực trung tâm phát triển đô thị theo mô hình TOD, tập trung nén.
  • Phát triển công nghiệp công nghệ cao. Công nghệ sinh học và các trung tâm nghiên cứu ứng dụng.
  • Từng bước cải tạo các công trình di tích văn hóa lịch sử các khu vực phụ cận như chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Trầm . .  và cảnh quan dọc sông Đáy, sông Tích để tạo sự hấp dẫn cho khu vực đô thị Quốc Oai.
  • Xây dựng khu du lịch sinh thái và vui chơi giải trí Tuần Châu Hà Tây (không xây dựng sân Golf)
  • Phát triển các cầu vượt, hầm đường bộ, và các giải pháp giao thông khác mức để đáp ứng nhu cầu lưu thông giữa hai bên đại lộ Thăng Long.
  • Cải tạo hệ thống kênh mương hiện có kết hợp với đào mới các hồ điều hòa để đáp ứng yêu cầu tiêu thoát nước và tạo cảnh quan cho không gian đô thị sinh thái.

Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số ( phát triển mới) năm 2030 khoảng: 4,9 vạn người.
  • Quy mô dân số (phát triển mới) khống chế tối đa: 5,5-6,0 vạn người
  • Quy mô đất đai: Diện tích đất tự nhiên: 2100 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng:  90m2/người.
  • Diện tích xây dựng đô thị[CL10]  tối đa khoảng 900 ha.

6.4.4.3. Thị trấn sinh thái Chúc Sơn

Phát triển Đô thị sinh thái Chúc Sơn cung cấp các dịch vụ công cộng hỗn hợp, hỗ trợ vùng tiểu thủ công nghiệp làng nghề, nông nghiệp và khu dân cư nông thôn huyện Chương Mỹ, dọc QL 6, lưu vực sông Đáy. Phát triển thị trấn dựa trên điểm giao cắt của quốc lộ 6 và trục cảnh quan Bắc Nam dự kiến. Phát triển khu giáo dục đại học cao đẳng tập trung, các khu y tế tập trung với các cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở đào tạo y dược, cơ sở nghiên cứu sản xuất y dược và trang thiết bị y tế. Xây dựng trung tâm hỗ trợ phát triển vùng nông thôn với các cơ sở dịch vụ công cộng, hỗ trợ sản xuất, chuyển giao công nghệ, thông tin, tài chính ... Phát triển thị trấn sinh thái gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa địa phương, hài hòa với không gian cảnh quan tự nhiên hiện có.

Định hướng phát triển không gian

  • Phát triển đô thị có giới hạn và quản lý ngưỡng phát triển đảm bảo không tác động tiêu cực tới việc phát triển hành lang xanh bao quanh đô thị trung tâm
  • Cải tạo thị trấn hiện hữu, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tạo sự gần gũi thân thiện với  người dân. Hạn chế sự phát triển lan tỏa, tránh tác động tiêu cực tới môi trường cảnh quan tự nhiên hiện có và các vùng bảo tồn làng nghề, di tích lịch sử, công trình văn hóa.
  • Chuyển đổi cụm công nghiệp Biên Giang hiện hữu tại phía Đông của thị trấn Chúc sơn tiếp giáp với sông Đáy (thuộc địa giới hành chính của quận Hà Đông hiện nay) thành trung tâm dịch vụ công cộng cung cấp các dịch vụ về tài chính, thương mại, thông tin ...
  • Từng bước chuyển đổi các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm không phù hợp với môi trường sinh thái và định hướng không gian chung của khu vực sang các chức năng tiện ích công cộng
  • Phát triển các cụm chức năng biệt lập tạo nên không gian chuyên biệt đặc thù phù hợp với hình thái chức năng của khu vực nhưng phải đảm bảo tính thống nhất với tổng thể chung của toàn đô thị.
  • Phát triển chủ yếu về phía bắc và giới hạn phát triển ở phía nam và dọc theo hành lang sông Đáy.
  • Các không gian văn hóa, làng xóm hiện hữu, không gian xanh, mặt nước cần phải giữ được hành lang đệm cách ly bằng  không gian xanh để bảo vệ các không gian hiện có.
  • Liên kết các không gian chức năng bằng hệ thống đường vành đai liên kết hình xuyến với khu đồi hiện hữu dọc đường quốc lộ 6 được khai thác là công trình điểm nhấn định hướng không gian.
  • Mạng lưới không gian xanh liên kết, liên hoàn trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên hiện hữu.
  • Cung cấp tính chất sinh thái đặc biệt: các chương trình nông nghiệp công nghệ cao, vườn hoa và đặc trưng mặt nước.
  • Xây dựng cụm trường đại học cao đẳng

Quy mô phát triển:

  • Quy mô dân số năm 2030 ( phát triển mới) khoảng: 4,5 vạn người.
  • Quy mô dân số ( phát triển mới) khống chế tối đa: 5,0-5,3 vạn người
  • Quy mô đất đai: Diện tích đất tự nhiên: 1.821 ha.
  • Chỉ tiêu đất dân dụng: 90-95m2/người.
  • Diện tích xây dựng đô thị[CL11]  tối đa khoảng 1.300 ha.

6.4.5.      Các thị trấn huyện lỵ.

8 thị trấn hiện có vẫn là trung tâm huyện và trung tâm hỗ trợ vùng nông thôn gồm: Phùng, Tây Đằng, Phúc Thọ, Liên Quan, Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa, Thường Tín. Lập thêm 3 thị trấn mới là trung tâm huyện lỵ của các xã còn lại thuộc phía Bắc sông Hồng.

Tổng quy mô phát triển:

Gồm 8 thị trấn hiện có và 3 thị trấn mới lập.

Gồm 8 thị trấn hiện có và 3 thị trấn mới lập.

Quy mô dân số năm 2030 (11 thị trấn): 119,5 nghìn người.

Quy mô dân số khống chế tối đa (11 thị trấn): 143,5 nghìn người.

Quy mô đất đai (11 thị trấn):  Tổng diện tích tự nhiên của 11 thị trấn là 5.543 ha.

Chỉ tiêu đất dân dụng trung bình khoảng 80-90 m2/người.

  • Diện tích xây dựng đô thị[CL12]  tối đa khoảng 2000 ha.

Các thị trấn được phát triển thành các điểm đô thị tập trung đóng vai trò hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho vùng nông thôn. Trong đó hình thành các trung tâm về dịch vụ công cộng cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, vui chơi giải trí, tài chính, thông tin; các trung tâm hỗ trợ sản xuất như cụm công nghiệp tập trung, trung tâm chuyển giao công nghệ, trung tâm quảng bá giới thiệu sản phẩm...; Quản lý chặt về không gian kiến trúc, môi trường, hạn chế việc phát triển đô thị dọc các tuyến đường ảnh hưởng tới an toàn giao thông và hoạt động thị trấn. Từng bước cải tạo, dịch chuyển trung tâm các thị trấn ra xa các tuyến đường quốc lộ. Nâng cao tỷ lệ cây xanh, mặt nước và các không gian mở trong các thị trấn.

II.     QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

7.1.            Quan điểm sử dụng đất

Phát triển đất đai dài hạn cho Thủ đô Hà Nội được xác định thông qua các chiến lược chính về thiết lập các trung tâm đô thị tập trung mới, phát triển hệ thống các thành phố vệ tinh mới có tính tự chủ cao và xây dựng hành lang xanh xung quanh Hà Nội, nhằm:

  • Kiểm soát và ngăn ngừa sự phát triển phân tán đô thị, đặc biệt là ở khu vực phía Tây đô thị trung tâm.
  • Cho phép xây dựng các đường cây xanh và các khu bảo tồn giữa các đô thị vệ tinh và đô thị trung tâm.
  • Ngăn không phát triển theo tuyến dải dọc các hành lang giao thông chính tỏa ra từ khu vực nội đô.
  • Khuyến khích phát triển các mạng lưới giao thông có thể cung cấp kết nối thuận tiện tới các trung tâm quy mô lớn và phát triển hỗn hợp.
  • Khuyến khích di dời các khu chuyên dụng (ví dụ các trung tâm y tế và giáo dục chính). Việc di dời những cơ sở này đóng vai trò như 1 nhân tố xúc tác cho sự tăng trưởng kinh tế và đầu tư trong tương lai.

Quan điểm dự báo quy mô sử dụng đất xây dựng đô thị là sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả; hạn chế tới mức thấp nhất chuyển đổi đất nông nghiệp trồng lúa 2 vụ; huy động cao nhất nguồn lực từ quỹ đất để phát triển hạ tầng, kinh tế-xã hội; triển khai quy hoạch để kiểm soát phát triển ở những vùng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao.

7.2.            Chỉ tiêu sử dụng đất

7.2.1.      Nguyên tắc

  • Chỉ tiêu sử dụng đất áp dụng cho Thủ đô Hà nội phải đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội, đáp ứng các yêu cầu của vùng và quốc gia.

7.2.2.      Căn cứ xác định chỉ tiêu sử dụng đất

  • Luật đất đai
  • Quy chuẩn xây dựng Việt Nam: Quy chuẩn 01:2008/BXD
  • Quyết định số 1878/QĐ-TTG ngày 22/12/2008, tại điều 1 mục 6 quy định: " Có thể cho phép áp dụng một số tiêu chuẩn nước ngoài sau khi được Bộ Xây dựng xem xét thấy phù hợp". 

Kèm theo hồ sơ thuyết minh Nhiệm vụ Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, tại Phụ lục 2 xác định: "cho phép Thủ đô Hà Nội áp dụng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật theo tiêu chuẩn của đô thị đặc biệt, có chú ý tới các chỉ tiêu của thành phố đặc thù và có xem xét thêm một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quốc tế có liên quan khác".

  • Tính chất và chức năng của thành phố Hà Nội là đô thị đặc biệt, tính chất và chức năng của các đô thị vệ tinh và các đô thị sinh thái.
  • Bản đồ đánh giá tổng hợp hiện trạng đất đai. Trong đó xác định các loại đất thuận lợi xây dựng, đất không thuận lợi xây dựng, đất bảo tồn cấm phát triển (đất bảo vệ rừng quốc gia, đất nông nghiệp năng suất cao...), đất cho phép xây dựng và phát triển mới.

c. Các chỉ tiêu sử dụng đất chủ yếu

  • Đất xây dựng đô thị gồm: đất dân dụng và ngoài dân dụng. Trong đó:

+ Đất dân dụng: (gồm đất đơn vị ở, cây xanh đô thị, công cộng cấp đô thị, giao thông-quảng trường...) áp dụng cho Hà Nội tuân thủ Quy chuẩn 01:2008/BXD. Chỉ tiêu đất dân dụng năm 2030: 75-80 m2/người, năm 2050: 80-85 m2/người.

+ Đất ngoài dân dụng: bao gồm các loại đất dành cho những công trình đặc biệt, công trình chuyên dụng theo yêu cầu của đô thị (đất cây xanh, công viên; đất giao thông đối ngoại, đất phát triển kinh tế xã hội như công nghiệp, trường đại học, đất an ninh quốc phòng....). Chỉ tiêu đất ngoài dân dụng không quy định trong Quy chuẩn 01:2008/BXD.

Đối với Thủ đô Hà Nội, đất ngoài dân dụng không chỉ đáp ứng riêng cho dân cư Hà Nội mà phục vụ cho khách vãng lai cả vùng, toàn quốc và quốc tế đến Hà nội tham quan và làm việc. Các loại đất xây dựng ngoài dân dụng tại Hà Nội gồm: Hệ thống giao thông kết nối Hà Nội với các tỉnh trong vùng Hà Nội, công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật, các trường đại học cao đẳng, các cơ sở y tế vùng, các khu du lịch/nghỉ dưỡng, các khu công nghiệp-khu công nghệ cao, đất an ninh quốc phòng... Như vậy. so với các thành phố khác trong cả nước, nhu cầu đất xây dựng cho các công trình ngoài dân dụng tại Thủ đô Hà Nội sẽ cao hơn nhiều và cần phải tính toán đầy đủ. Ví dụ đất xây dựng Khu đại học quốc gia 1000 ha, có chỉ tiêu đất 100m2/sinh viên cao hơn so với tiêu chuẩn hiện hành 35-50m2/người; khu công nghệ cao Hòa lạc 1.600 ha, làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam 1.544 ha…

  • Lựa chọn chỉ tiêu đất xây dựng đô thị áp dụng cho Hà Nội:

Chỉ tiêu đất xây dựng đô thị được lựa chọn áp dụng cho Hà Nội cao hơn chỉ tiêu đất xây dựng đô thị bình quân tính cho tất cả các loại đô thị không có chức năng đặc biệt và các thị trấn khác trong Quy hoạch vùng Thủ đô và Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt nam đã được duyệt. Theo quyết định số 445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/04/2009 chỉ tiêu đất xây dựng đô thị tính cho cả nước, trong đó có gần 1.000 thị trấn, nhu cầu đất không thuộc khu dân dụng quá nhỏ/không đáng kể, trung bình 95 m2/người năm 2015, 90 m2/người năm 2020, 85 m2/người năm 2025.

Lựa chọn chỉ tiêu đất xây dựng đô thị áp dụng cho Hà Nội đến năm 2020 khoảng 155-160  m2/người, năm 2030 khoảng 150-155 m2/người. Chỉ tiêu này tăng so với Quy hoạch 1998 năm 2020 khoảng 50 m2/người, do quỹ đất Hà nội được mở rộng, có nhiều cơ hội để tăng quỹ đất cho các chức năng đặc thù mới phục vụ cho vùng, quốc gia và quốc tế.

Chỉ tiêu đất dân dụng năm 2020 khoảng 70-75 m2/người, năm 2030: 75-80 m2/người, xấp xỉ với chỉ tiêu đặt ra trong Quy hoạch 1998, trong đó năm 2030:

  • Chỉ tiêu đất đơn vị ở khu dân cư: 40-45 m2/người, tăng so với Quy hoạch 1998, năm 2020 khoảng 26 m2/người , phù hợp với Quy chuẩn 01:2008/BXD.
  • Chỉ tiêu đất CTCC cấp đô thị: 5-6 m2/người, tương đương với chỉ tiêu đặt ra trong Quy hoạch 1998.
  • Chỉ tiêu đất cây xanh, TDTT: 12-14 m2/người, tương đương với chỉ tiêu đặt ra trong Quy hoạch 1998
  • Chỉ tiêu đất giao thông, quảng trường đô thị: 19-21 m2/người, tương đương với chỉ tiêu đặt ra trong Quy hoạch 1998.

 

 

 

Bảng 4.1 Chỉ tiêu sử dụng đất chủ yếu

TT

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Hiện trạng
 

Quy hoạch chung xây dựng

Thủ đô Hà Nội đến năm 2030

QH 1998

Quy chuẩn 01:2008/

BXD

Năm
2020

Năm
2030

Năm 2005

Năm 2020

I

Đất xây dựng đô thị tại thành thị

 

70

155-160 

150-155

69,2

100

 

 

Trong đó:

Đất dân dụng đô thị

m2 đất/người

 

70-75 

75-80

50,4

73,52

 

1

Đất đơn vị ở

m2 đất/người

29,8

 39-40

40-45

23,4

26

50

2

Đất CTCC cấp đô thị

m2 đất/người

 

5-6

5-6

3

5

 

3

Đất cây xanh, TDTT đô thị

m2 đất/người

 

11-13

12-14

9

16

≥ 7

4

 Đất giao thông, quảng trường

m2 đất/người

 

 18-20

19-21

8,7

19

 

II

Diện tích sàn nhà ở thành thị

m2 sàn/người

20,8

20-25

25-30

 

 

 

III

Đất xây dựng điểm dân cư nông thôn

m2 đất/người

72,7 

 75-76

75-76

 

 

 

 

  • Tổng đất xây dựng chung toàn thành phố gồm đất xây dựng đô thị, đất phục vụ đô thị XD tại nông thôn,  đất phục vụ các điểm dân cư nông thôn và đất công nghiệp làng nghề, tiểu thủ công nghiệp nông thôn.
  • Quy hoạch 1998: chỉ tiêu đất đô thị tính cho đô thị trung tâm (khu vực đô thị phía Bắc và phía Nam sông Hồng) với quy mô diện tích 2.500 ha năm 2020.

 

7.3.            Quy hoạch sử dụng đất

 Quy hoạch chung sẽ cân đối đất đai cho toàn thành phố theo Luật Quy hoạch, thông tư hướng dẫn và các quy định của Bộ Xây dựng về quy hoạch chung xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương: khu vực nội thành, khu vực dự kiến phát triển đô thị và khu vực ngoại thành. Phân bổ chi tiết từng hạng mục đất theo chức năng/mục đích sử dụng sẽ được chỉ rõ tại quy hoạch phân khu.

7.3.1.      Nhu cầu mở rộng quỹ đất phát triển đô thị

  • Đất xây dựng thành thị được xác định trên cơ sở sáp nhập một số đơn vị hành chính từ khu vực nông thôn. Quỹ đất dự kiến mở rộng đô thị gồm: Đất làng xóm hiện hữu được đô thị hóa, đất nông lâm nghiệp, đất chưa sử dụng...
  • Nhu cầu mở rộng quỹ đất phát triển đô thị trong các giai đoạn
  • Đô thị hóa tại Hà Nội sẽ diễn ra nhanh chóng từ 40,7%; đô thị hóa lên 63,9% năm 2020 ( xấp xỉ bằng Hà Nội cũ năm 2007 đạt 64,9%), khoảng 70 % năm 2030 và 80% năm 2050 dẫn đến việc cần thiết chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Thành phố Hà Nội dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng khu vực nội đô hiện nay và xây dựng 5 đô thị trực thuộc, các khu cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, hạ tầng xã hội và kỹ thuật, không chỉ phục vụ cho Hà Nội mà còn mang tính chất cấp vùng, cấp quốc gia.
  • Theo Định hướng quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, ngưỡng phát triển dân số tối đa của Hà Nội (đến năm 2050) khoảng <11 triệu người, dân số đô thị khoảng >7,5 triệu người. Hà nội sẽ mở rộng diện tích đất thành thị từ khu vực nông thôn, chuyển tối đa khoảng 94.000 ha đất trong ranh giới hành chính của hơn 170 xã ngoại thành thành đất đô thị. Đồng thời chuyển một số loại đất hiện có trong thành thị sang đất xây dựng đô thị.

Giai đoạn 2010-2030, nhu cầu đất xây dựng đô thị cần thêm khoảng 76.600 ha, gồm đất dân dụng khoảng 38.000 ha và đất ngoài dân dụng 38.600 ha.

Dự kiến trong khoảng 38.000 ha đất dân dụng xây dựng mới khu đô thị, công trình công cộng phục vụ dân sinh, cơ quan hành chính-kinh tế của thành phố, công viên-vườn hoa, sân bãi thể dục thể thao và các tuyến đường chính...và cải tạo chỉnh trang các khu dân cư hiện có. Quỹ đất này sẽ nâng chỉ tiêu đất cây xanh, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, văn hóa, giáo dục... hiện nay đang rất thấp trong khu vực nội đô.

Khoảng 38.600 ha đất ngoài dân dụng sẽ xây dựng mới các khu-cụm công nghiệp, kho tàng; hệ thống giao thông đối ngoại, công trình công cộng ngoài quản lý của đô thị (cơ quan hành chính-kinh tế, trường chuyên nghiệp, viện nghiên cứu khoa học, y tế), khu du lịch-dịch vụ-nghỉ dưỡng, công trình đầu mối (điện, nhà máy cấp nước, khu liên hợp xử lý chất thải rắn, khu xử lý nước thải…), đất nhà tang lễ, nghĩa trang nhân dân, cây xanh đặc biệt (CV rừng, vườn ươm , cách ly…), an ninh quốc phòng, đất chuyên dùng khác (bưu chính, năng lượng, di tích...) và quan trọng hơn cả là đảm bảo tỉ lệ không gian ”xanh” để đô thị phát triển bền vững.

Về đất nông nghiệp: Hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp năng suất cao. Tổng diện tích đất trồng lúa năm 2009 có 116.798 ha. Dự kiến chuyển đổi khoảng 19% diện tích trồng lúa, tương đương khoảng 22.000 ha; Còn lại 81% đất trồng lúa sẽ được khoanh vùng bảo tồn. Nghiêm cấm xây dựng đô thị..

  • Giai đoạn 2010-2020, dân số Hà Nội dự báo khoảng 7,3-7,5 triệu người, dân số đô thị khoảng 4,7 triệu người; dự kiến nhu cầu đất xây dựng đô thị cần thêm khoảng 54.900 ha, trong đó khoảng 24.100 ha thuộc đất dân dụng và 30.800 ha thuộc đất ngoài dân dụng.
  • Việc phân bổ quỹ đất cho từng mục đích sử dụng đất sẽ tương đối ổn định đến tại năm 2030. Đến năm 2050 những diện tích đất thuộc ngoài khu dân dụng tăng thêm không đáng kể.
  • Năm 2030 diện tích đất xây dựng đô thị tại thành thị chiếm 28,3 % diện tích đất tự nhiên toàn thành phố; tỉ lệ đất xây dựng đô thị tại thành thị và phục vụ đô thị nhưng xây dựng ở ngoại thành chiếm 33,7%. Chỉ tiêu đất xây dựng đô thị khoảng 155-160 m2/người năm 2020 xuống 150-155m2/người năm 2030 do quỹ đất được chuẩn bị và xây dựng hạ tầng ngay từ 2010 nhưng quy mô dân số lại tăng thêm khoảng nửa triệu người mỗi giai đoạn.              

7.3.2.      Tổng hợp đất xây dựng tại thành thị - nông thôn

Đất xây dựng tại thành thị và nông thôn gồm: đất xây dựng đô thị và đất xây dựng nông thôn, Đất xây dựng nông thôn bao gồm: đất xây dựng phục vụ đô thị, đất xây dựng các điểm dân cư nông thôn, đất cụm công nghiệp làng nghề và đất chuyên dùng khác. Được phân bố sử dụng như sau:

Hiện trạng năm 2009:

Tổng diện tích tự nhiên của Thủ đô Hà Nội là khoảng 3.344,6 km2.

Năm 2009, đất xây dựng đô thị và nông thôn khoảng 93.800ha (chiếm khoảng 28% diện tích tự nhiên). Trong đó:

  • Đất xây dựng đô thị khoảng 18.000ha (chiếm khoảng 5,4% diện tích tự nhiên), chỉ tiêu đất xây dựng trung bình khoảng 70 m2/người.
  • Đất xây dựng nông thôn khoảng 75.400 ha (chiếm khoảng 22,6% diện tích tự nhiên).

Đến năm 2030

Tổng đất xây dựng tại đô thị và nông thôn cần khoảng 159.600 ha, chiếm khoảng 47,7% diện tích tự nhiên. Trong đó:

  • Đất xây dựng đô thị tại thành thị khoảng 94.700 ha chiếm khoảng 28,3% diện tích tự nhiên, nâng chỉ tiêu đất xây dựng trung bình lên 150-155 m2/người.
  • Đất xây dựng tại khu vực nông thôn khoảng 64.900 ha chiếm khoảng 19,4% diện tích tự nhiên;

Đất xây dựng đô thị bao gồm các loại đất đơn vị ở, đất phục vụ công cộng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội… được nghiên cứu thiết kế đảm bảo các chỉ tiêu sử dụng đất tăng lên so với hiện trạng và đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia áp dụng đối với đô thị đặc biệt. Dự kiến có trên 11.300 ha đất dành cho cây xanh – thể dục thể thao; khoảng 8.500 ha đất dành cho công trình công cộng, gồm cả đất y tế - giáo dục – thương mại dịch vụ,… (tăng thêm khoảng 6.400 ha so với hiện trạng); khoảng 5.000 ha đất dành cho công nghiệp-kho tàng; khoảng 1.840 ha đất công nghệ cao; khoảng 16.200 ha dành cho giao thông (tăng thêm khoảng 12.700 ha); khoảng 1.100 ha dành cho du lịch – nghỉ dưỡng và 4.400 ha dành cho các công trình đầu mối, gồm: trạm điện, trạm cấp nước, trạm xử lý nước thải, nghĩa trang, trạm xử lý chất thải rắn (tăng thêm khoảng 4.000 ha). Quy hoạch chung đã nghiên cứu tính toán quỹ đất xây dựng dự trữ phát triển đô thị và bảo vệ đất đai nông nghiệp, nông thôn.

Đến năm 2020

Để đáp ứng quy mô dân số toàn thành phố trên 7,3-7,9 triệu người tổng đất xây dựng đô thị và nông thôn khoảng 128.900 ha, chiếm xấp xỉ khoảng 38,5% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó:

  • Đất xây dựng đô thị khoảng 73.000 ha, chỉ tiêu: 155 – 160 m2/người, chiếm khoảng 21,8% so đất tự nhiên toàn thành phố.
  • Đất xây dựng nông thôn khoảng 55.900 ha, chiếm khoảng 16,7% đất tự nhiên toàn thành phố. Trong đó có cả đất phục vụ đô thị như kho tàng, giao thông đối ngoại, nghĩa trang, cây xanh đặc biệt, du lịch nghỉ dưỡng…, chỉ tiêu đất xây dựng các điểm dân cư nông thôn 74-75 m2/người.

Trong quỹ đất xây dựng đô thị sẽ có trên 6.600 ha đất dành cho cây xanh – thể dục thể thao; khoảng 6.500 ha đất dành cho công trình công cộng, gồm cả đất y tế - giáo dục – thương mại dịch vụ,…tăng thêm khoảng 4.300 ha so với hiện trạng; khoảng 4.300 ha đất dành cho công nghiệp – kho tàng, tăng thêm 3.300 ha); khoảng 1.140 ha đất công nghệ cao; khoảng 11.700 ha dành cho giao thông, tăng thêm khoảng 8.200 ha; khoảng 800 ha dành cho du lịch – nghỉ dưỡng và 3.300 ha dành cho các công trình đầu mối, gồm: trạm điện, trạm cấp nước, trạm xử lý nước thải, nghĩa trang, trạm xử lý chất thải rắn, tăng thêm khoảng 3.000 ha. Vị trí quy hoạch các khu đất nêu trên được thể hiện trong hồ sơ của đồ án quy hoạch, trong đó đã có tính toán nguồn đất xây dựng dự trữ phát triển đô thị và bảo vệ đất đai nông nghiệp, nông thôn.

 

 

Bảng  4.3 Nhu cầu đất theo các giai đoạn quy hoạch

STT

Loại đất

Hiện trạng  năm 2009

Quy hoạch năm 2020

Quy hoạch năm 2030

 

Diện tích
(Ha)

Chỉ tiêu
(m2/ng)

Tỉ lệ
(%)

Diện tích
(Ha)

Chỉ tiêu
(m2/ng)

Tỉ lệ
(%)

Diện tích
(Ha)

Chỉ tiêu
(m2/ng)

Tỉ lệ
(%)

 
 

A+B

Tổng đất tự nhiên toàn thành phố

334.460,5

 

100

334.460,5

 

100

334.460,5

 

100

 

-

Tổng đất xây dựng đô thị và nông thôn

93.802,5

147,7

28

128.878,0

176,1

38,5

159.578,0

174,7

47,7

 

+

Tổng đất xây dựng đô thị tại thành thị

 

18.052,6

69,9

5,4

72.939,6

156,0

21,8

94.700,0

152,3

28,3

 

+

Tổng đất xây dựng tại nông thôn (đất xây dựng phục vụ đô thị nằm tại vùng nông thôn, đất XD điểm dân cư nông thôn, cụm CN làng nghề và chuyên dùng khác )

75.749,9

 

22,6

55.938,4

 

16,7

64.878,1

 

19,4

 

A

Đất tự nhiên thành thị (I+II)

34.615,4

 

100,0

128.784,0

 

100,0

128.784,0

 

100,0

 

I

Đất xây dựng đô thị (tại thành thị)

18.052,6 (*)

69,9

52,2

72.939,6

156,0

56,6

94.700,0

152,3

73,5

 

I.1

Đất dân dụng

10.083,3

39,0

29,1

34.225,3

73,2

26,6

48.088,1

77,3

37,3

 

1.1

Đất đơn vị ở

7.709,1

29,8

22,3

18.197,4

38,9

14,1

25.863,3

41,6

20,1

 

1.2

Cây xanh - TDTT (cấp đô thị)

145,6

0,6

0,4

5.165,1

11,0

4,0

7.211,9

11,6

5,6

 

1.3

Công trình công cộng (cấp đô thị): ước tính hiện trạng

689,5

2,8

2,0

2.385,4

5,1

1,9

3.305,1

5,3

2,6

 

1.4

Giao thông, quảng trường: ước tính hiện trạng

1.539,1

6,0

4,4

8.477,5

18,1

6,6

11.707,8

18,8

9,1

 

I.2

Đất không thuộc khu dân dụng

7.969,4

 

23,0

38.714,3

 

30,1

46.611,9

75,0

36,2

 

2.1

Công nghiệp, kho tàng

978,1

 

2,8

5.398,5

 

4,2

6.817,6

 

5,3

 

 

  • KCN

978,1

 

 

3.578,5

 

2,8

4.016,5

 

3,1

 

 

  • Khu công nghệ cao

(*)

 

 

1.135,0

 

 

1.840,0

 

 

 

 

  • Kho tàng

(*)

 

 

685,0

 

0,5

961,1

 

0,7

 

2.2

Giao thông đối ngoại

2.000,0

 

5,8

3.219,6

 

2,5

4.481,5

 

3,5

 

2.3

Công cộng ngoài quản lý của đô thị

1.453,1

 

 

4.098,0

 

3,2

5.245,0

 

4,1

 

 

  • Cơ quan hành chính, kinh tế…

705,5

 

 

570,0

 

0,4

636,0

 

0,5

 

 

  • Trường chuyên nghiệp, viện NC khoa học

597,7 (*)

 

 

3.055,0

 

2,4

3.800,0

 

3,0

 

 

  • Bệnh viện, y tế

150,0

 

 

473,0

 

0,4

809,0

 

0,6

 

2.4

Du lịch-dịch vụ-nghỉ dưỡng

(*)

 

 

800,0

 

0,6

1.100,0

 

0,9

 

2.5

Công trình đầu mối (điện, nước,bãi thải…)

80,3

 

 

2.372,0

 

1,8

3.535,5

 

2,7

 

 

  • Trạm điện 220KV, 110KV

(*)

 

 

314,0

 

0,2

556,0

 

0,4

 

 

  • Hồ điều hòa

(*)

 

 

1.813,4

 

 

2.656,4

 

 

 

 

  • Trạm cấp nước

50,0

 

 

104,0

 

0,1

104,0

 

0,1

 

 

  • Trạm xử lý nước thải

(*)

 

 

97,3

 

0,1

130,0

 

0,1

 

 

  • Khu liên hợp xử lý chất thải rắn, bãi thải

30,3 (*)

 

0,1

43,3

 

0,0

89,1

 

0,1

 

2.6

Đất nhà tang lễ, nghĩa trang nhân dân

261,2

 

0,8

918,8

 

0,7

825,0

 

0,6

 

2.7

Cây xanh đặc biệt (công viên rừng, vườn ươm…), cách ly

(*)

 

 

1.400,0

 

1,1

4.100,0

 

3,2

 

2.8

Đất di tích danh thắng, tôn giáo, tín ngưỡng

204,2

 

 

404,2

 

0,3

404,2

 

0,3

 

2.9

An ninh quốc phòng

1.144,0

 

3,3

5.522,6

 

4,3

5.522,6

 

4,3

 

2.10

Đất chuyên dùng khác (**)

1.768,2

 

 

14.580,6

 

11,3

14.580,6

 

11,3

 

II

Đất khác

16.562,8

 

47,8

55.844,4

 

43,4

34.084,0

 

26,5

 

1

Đất sản xuất nông nghiệp

9.158,5

 

26,5

32.500,2

 

25,2

17.822,5

 

13,8

 

 

  • Trong đó:-Đất trồng lúa

5.866,7

 

16,9

21.208,3

 

16,5

14.782,4

 

11,5

 

 

  • Đất cây lâu năm

932,2

 

 

3.845,3

 

3,0

1.245,3

 

1,0

 

2

Đất lâm nghiệp

205,7

 

0,6

5.015,9

 

3,9

3.965,9

 

3,1

 

3

Đất nông nghiệp khác

1.602,9

 

 

2.097,5

 

1,6

0,0

 

0,0

 

4

Đất chưa sử dụng (núi đá:184,52ha)

563,3

 

1,6

799,3

 

0,6

184,5

 

0,1

 

5

Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng

3.507,0

 

10,1

8.724,8

 

6,8

6.068,4

 

4,7

 

6

Đất khác (thủy lợi, khóang sản,sx VLXD…)

1.525,4

 

4,4

6.706,7

 

5,2

6.042,7

 

4,7

 

B

Đất tự nhiên nông thôn (I+II+III)

299.845,1

 

100,0

205.676,5

 

100,0

205.676,5

 

100,0

 

I

Đất phục vụ đô thị:

5.940,5

 

0,0

11.726,9

 

5,7

18.143,0

 

8,8

 

1

Công nghiệp, TTCN

(*)

 

 

800,0

 

0,4

2.180,0

 

1,1

 

2

 Kho tàng

(*)

 

 

570,0

 

0,3

570,0

 

0,3

 

3

Giao thông đối ngoại(cảng sông...)

1.800,0

 

 

3.500,0

 

1,7

3.500,0

 

1,7

 

4

Công cộng ngoài QL của ĐT

(*)

 

 

50,0

 

0,0

100,0

 

0,0

 

5

Cây xanh đặc biệt

(*)

 

 

3.000,0

 

1,5

3.000,0

 

1,5

 

6

Du lịch-dịch vụ-nghỉ dưỡng

(*)

 

 

1.000,0

 

0,5

4.000,0

 

1,9

 

7

Công trình đầu mối(điện, nước,bãi thải…)

318,9

 

 

2.806,9

 

1,4

4.793,0

 

2,3

 

 

  • Khu liên hợp xử lý chất thải rắn, bãi thải

207,3

 

 

420,9

 

0,2

524,6

 

0,3

 

 

  • Đất nghĩa trang

111,6

 

 

2.236,1

 

1,1

2.552,4

 

1,2

 

 

  • Hồ điều hòa

(*)

 

 

0,0

 

0,0

1.416,1

 

0,7

 

 

  • Trạm điện

(*)

 

 

150,0

 

0,1

300,0

 

0,1

 

II

Đất xây dựng điểm dân cư nông thôn:

27.392,8

72,7

9,1

19.837,9

74,9

9,6

21.661,4

73,9

10,5

 

1

Đất ở nông thôn

26.793,8

71,1

8,9

17.097,9

64,7

8,3

17.097,9

58,6

8,3

 

2

Cây xanh- TDTT(nông thôn)

599,0

1,6

0,2

792,6

3,0

0,4

1.458,5

5,0

0,7

 

3

Công trình công cộng (nông thôn)

 

 

 

528,4

2,0

0,3

875,1

3,0

0,4

 

4

Giao thông (nông thôn)

 

 

 

1.321,0

5,0

0,6

2.041,9

7,0

1,0

 

5

Đất nhà tang lễ, nghĩa trang nhân dân

 

 

 

98,0

0,2

0,0

188,0

0,3

0,1

 

III

Đất khác

272.452,3

 

90,9

174.111,7

 

84,7

165.872,0

 

80,6

 

1

Đất sản xuất nông nghiệp

143.880,6

 

48,0

92.329,2

 

44,9

87.533,1

 

42,6

 

 

  • Trong đó: Đất trồng lúa

110.930,8

 

37,0

81.589,2

 

39,7

79.969,2

 

38,9

 

2

Đất lâm nghiệp

23.656,8

 

7,9

17.646,6

 

8,6

17.646,6

 

8,6

 

3

Đất nông nghiệp khác

10.507,4

 

3,5

7.512,7

 

3,7

7.512,7

 

3,7

 

4

Đất chưa sử dụng

9.887,0

 

3,3

6.650,9

 

3,2

5.030,9

 

2,4

 

5

Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng

23.439,2

 

7,8

16.408,0

 

8,0

16.408,0

 

8,0

 

6

Đất cụm công nghiệp làng nghề

 

 

 

800,0

 

0,4

1.500,0

 

0,7

 

7

Đất chuyên dùng khác (sản xuất kinh doanh,  công cộng:bưu chính, năng lượng, hạ tầng, thủy lợi...)

42.416,6

 

14,1

23.573,7

 

11,5

23.573,7

 

11,5

 

10

Đất còn lại khác

18.664,8

 

6,2

9.190,6

 

4,5

6.667,1

 

3,2

 

 

Chú thích:

Nguồn số liệu hiện trạng:Bộ TN&MT

  •  (*)  Đất xây dựng đô thị hiện trạng chưa bao gồm đất xây dựng các dự án trọng điểm đã được TTCP cho phép triển khai xây dựng như: Khu công nghệ cao Hòa lạc, Đại học quốc gia Hà Nội, Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam... và các dự án phát triển kinnh tế xã hội khác của Thành phố và các quân huyện.
  • (**)  Đất chuyên dùng khác gồm: đất sản xuất KD và mục đích công cộng (thủy lợi, giao thông, bưu chính, năng lượng, văn hóa, y tế, giáo dục, TDTT, nghiên cứu khoa học, dịch vụ xã hội, chợ, di tích, bãi thải). Các loại đất này không có số liệu chi tiết

 

 

 

 

III.           ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH HỆ THỐNG HẠ TẦNG KINH TẾ VÀ HẠ TẦNG XÃ HỘI

8.1.            Định hướng quy hoạch hệ thống hạ tầng kinh tế

8.1.1.      Định hướng quy hoạch hệ thống công nghiệp

Địa bàn Hà nội cũ vẫn đang tồn tại các khu cụm công nghiệp xây dựng những năm 70-80 của thế kỷ trước. Các khu này hiện gây ô nhiễm không còn khả năng mở rộng và sản xuất sản phẩm mới cần có kế hoạch di dời… Nhiều cụm công nghiệp quy hoạch không có xử lý nước thải, chất thải rắn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Nhiều cụm công nghiệp có trong danh mục quy hoạch gặp khó khăn trong công tác triển khai, tiến độ chậm liên quan đến vấn đề giải phóng mặt bằng và kinh phí thực hiện;

Hệ thống cơ chế chính sách liên quan đến xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp còn chưa thống nhất về việc xác định chủ thể quản lý nhà nuớc (quan hệ về sản xuất và quản lý công nghiệp theo cấp xã, cụm xã, huyện...).

a. Mục tiêu:

Hà Nội trở thành thành phố có nền công nghiệp hiện đại  trước năm 2020; Phát triển công nghiệp dựa trên nền tảng kinh tế tri thức, có trình độ khoa học công nghệ và nguồn nhân lực có trình độ cao;

Đến năm 2030, phát triển công nghiệp gắn với khoa học công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, thiết kế chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới và văn phòng của các tập đoàn sản xuất lớn. Tạo nên các sản phẩm có chất lượng và giá trị cao, như Công nghệ sinh học, công nghiệp nhiên liệu mới, cơ khí, sản xuất ô tô, công nghiệp vật liệu mới, hóa dược- mỹ phẩm, chế biến nông sản, thực phẩm, dệt may, da, vật liệu xây dựng, nội thất cao cấp, công nghiệp điện… có khả năng cạnh tranh và đáp ứng mọi tiêu chuẩn tiên tiến của các nước phát triển.

Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

b. Tiêu chí quy hoạch:

  • Tiêu chí di dời các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường

Ưu tiên di dời trước các cơ sở công nghiệp nằm xen kẽ trong khu vực có mật độ dân cư lớn, mức độ gây ô nhiễm môi trường cao; 

Các cơ sở công nghiệp công nghệ đã lạc hậu, có ngành nghề không còn phù hợp với các ngành công nghiệp mũi nhọn sẽ di dời đến các tỉnh lận cận sau khi đã đổi mới công nghệ;

Các cơ sở công nghiệp công nghệ đã lạc hậu, có ngành nghề phù hợp với các ngành công nghiệp mũi nhọn sẽ tái bố trí tại các khu cụm công nghiệp cùng loại hình ngành nghề theo quy hoạch trong địa bàn Hà Nội sau khi đã đổi mới công nghệ;

  • Tiêu chí về lãnh thổ

Các khu vực phát triển công nghiệp tại Thủ đô Hà Nội phải được phân bố phù hợp với Chiến lược phát triển công nghiệp Toàn quốc, Quy hoạch phát triển công nghiệp Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ và Vùng Thủ đô;

Tập trung phát triển công nghiệp tại các khu vực đầu mối giao thông cấp Vùng và các hành lang kinh tế, nơi có nhiều cơ hội phát triển như Hành lang Kinh tế Côn Minh- Hà Nội- Hải Phòng (Quốc lộ 18 qua Hà Nội), Hành lang Kinh tế Tây Bắc- Vùng Thủ đô- Hải Phòng (dự án trục Đỗ Xá- Quan Sơn), Hành lang kinh tế Bắc Nam (QL1A)…

  • Tiêu chí về ngành nghề

Ngành nghề được lựa chọn tại các khu vực phải là ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn hoặc có tính chất phụ trợ cho các ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn;

Các ngành nghề phải phát triển theo hướng theo công nghệ cao, công nghiệp sạch thân thiện môi trường và liên quan mật thiết đến đào tạo- nghiên cứu công nghệ;

Ngành nghề được lựa chọn phải gắn với vùng nguyên liệu, có mối liên hệ sản xuất và thị trường với các vùng lân cận.

Cho phép tồn tại đối với những cụm công nghiệp gắn với làng nghề truyền thống, phục vụ du lịch văn hoá cần bảo tồn, tuy nhiên cần phải kiểm soát giải pháp về công nghệ hạn chế ảnh hưởng xấu đến môi trường.

  • Tiêu chí về quy mô đất đai- lao động

Quy mô phát triển các khu công nghiệp tương ứng với quy mô phát triển các đô thị lớn và trung bình (Đô thị trung tâm, các đô thị vệ tinh);

Quy mô phát triển các cụm công nghiệp tương ứng với quy mô phát triển các đô thị trung bình và nhỏ (Các đô thị vệ tinh, các thị trấn sinh thái);

Quy mô phát triển các cụm công nghiệp quy mô nhỏ tương ứng với quy mô phát triển các đô thị nhỏ và thị tứ (các thị trấn, thị tứ trong hành lang xanh);

Quy mô phát triển các cụm công nghiệp làng nghề tương ứng với quy mô phát triển các cụm dân cư, xã, thôn, xóm, làng nghề.

  • Tiêu chí về tổ chức không gian

Các khu công nghiệp: Phân bố chủ yếu tại các giao điểm vành đai và trục hướng tâm; Liên quan mật thiết đến phát triển không gian Đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh; Là động lực chính để đẩy mạnh công nghiệp hóa và đô thị hóa khu vực và toàn Thành phố;

Các khu công nghiệp: Phân bố chủ yếu tại các giao điểm vành đai và trục hướng tâm; Liên quan mật thiết đến phát triển không gian Đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh; Là động lực chính để đẩy mạnh công nghiệp hóa và đô thị hóa khu vực và toàn Thành phố;

Các cụm công nghiệp phát triển kết nối với tuyến Quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và gắn với tổ chức không gian các đô thị vệ tinh, thị trấn sinh thái, thị trấn, thị tứ...

Các cụm công nghiệp làng nghề phát triển kết nối với các tuyến huyện lộ, liên xã và gắn với tổ chức không gian  các cụm dân cư, xã, thôn, xóm, làng nghề.

c. Định hướng chung

  • Đối với các khu cụm điểm công nghiệp trong nội thành và các huyện ngoại thành Hà Nội cũ: Đổi mới công nghệ và di dời vào các Khu CN tập trung phía Bắc (Sóc Sơn, Mê Linh-Đông Anh, Yên Viên, Đông Anh, Gia Lâm) và phía Nam (Phú Xuyên) của Hà Nội mở rộng hoặc các tỉnh lân cận Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang,Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình theo loại hình ngành nghề phù hợp. Dự kiến trong khoảng thời gian 10 năm.

Quỹ đất sau khi di dời các cơ sở công nghiệp được chuyển đổi chức năng theo quy hoạch tổ chức không gian và sử dụng đất của đô thị: Một phần dành để giải quyết sự mất cân đối về hệ thống hạ tầng xã hội trong khu vực và một phần để khai thác phát triển các khu dân cư, thương mại, dich vụ…

  • Khu CN & Cụm CN: Phát triển với tầm nhìn dài hạn theo hướng phát triển bền vững; Phát triển công nghiệp sạch, công nghệ cao và công nghiệp phụ trợ có giá trị tăng thêm cao, quy mô đầu tư lớn và hiệu quả;
  • Các cụm công nghiệp làng nghề truyền thống: Phát triển TTCN gắn với ngành nghề nông thôn, chú trọng bảo vệ môi trường; Quy hoạch các cụm làng nghề truyền thống theo các nhóm nghề, kết hợp với bảo tồn và khai thác du lịch.

d. Quy hoạch các mạng lưới công nghiệp

  • Các khu cụm công nghiệp hiện có
  • Khu vực nội đô:

Đề xuất di chuyển tất cả các cơ sở công nghiệp ra khỏi khu vực hạn chế phát triển để bảo vệ không gian bảo tồn phố cổ, phố cũ và các không gian của đô thị lịch sử. Các quỹ đất này sẽ được chuyển đổi chức năng phục vụ nhu cầu công ích như nhà trẻ, trường học, trạm y tế, vườn hoa, cây xanh, bãi đỗ xe... để đảm bảo đáp ứng nhu cầu hạ tầng xã hội còn thiếu cho khu vực hạn chế chất tải cho đô thị (tuyệt đối không xây dựng các chức năng nhà ở, văn phòng...) các chức năng cụ thể sẽ được xác định trong quy hoạch chi tiết.

  • Khu vực ngoài đường vành đai 2 đến hết ranh giới phía Tây, Nam Hà Nội cũ và khu vực Gia Lâm, Long Biên:

Đối với các cơ sở CN nhỏ lẻ: Xem xét về mức độ ô nhiễm môi trường cho phép chuyển đổi dây truyền công nghệ hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công cộng, ưu tiên các công trình hạ tầng xã hội tuy nhiên để khuyến khích nhà đầu tư di chuyển cho phép chuyển đổi sang các chức năng công cộng, hỗn hợp... nếu khu vực đảm bảo đủ diện tích đất cho các công trình hạ tầng xã hội.

Đối với các điểm công nghiệp (cũ) phục vụ cho chuyển đổi lao động việc làm, tạo công ăn việc làm phát triển kinh tế địa phương đề xuất trước mắt cho phép tồn tại, về lâu dài từng bước chuyển đổi sang dịch vụ.

Đối với các khu, cụm công nghiệp nằm xen kẽ với khu vực phát triển đô thị đề xuất chuyển đổi sang các hình thức công nghiệp sạch công nghệ cao hoặc chuyển đổi sang các chức năng thương mại, dịch vụ , hỗn hợp.... sau khi cân đối đảm bảo đáp ứng hệ thống hạ tầng xã hội của khu vực.

Đối với các khu cụm công nghiệp nằm độc lập đảm bảo các khoảng cách an toàn, phù hợp với định hướng quy hoạch chung xây dựng Thủ đô cho phép tồn tại, kiểm soát về môi trường, ngành nghề sản xuất phù hợp.

  • Khu vực phía Bắc sông Hồng:

Đối với các cơ sở CN nhỏ lẻ, cụm công nghiệp làng nghề, các điểm công nghiệp (cũ) phục vụ cho chuyển đổi lao động việc làm: cho phép tồn tại tạo công ăn việc làm cho dân cư khu vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương tuy nhiên phải kiểm soát về môi trường về lâu dài đề nghị chuyển đổi sang dịch vụ.

Đối với các khu, cụm công nghiệp phù hợp với định hướng quy hoạch chung xây dựng Thủ đô cho phép tồn tại, kiểm soát về môi trường, ngành nghề sản xuất phù hợp.

  • Các khu vực khác:

Các cơ sở công nghiệp nhỏ lẻ sẽ được chuyển vào các cụm công nghiệp theo quy hoạch và quỹ đất còn lại chuyển đổi thành đất các không gian công cộng hoặc công trình có chức năng hỗn hợp.

Các cụm công nghiệp địa phương nằm độc lập không gắn với các đô thị hoặc thị trấn nhưng đang giải quyết công ăn việc làm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu đất đai từ nông nghiệp sang đô thị, giai đoạn đến năm 2020 hoặc 2030 cho phép tồn tại và có kiểm soát đặc biệt về môi trường, ngành nghề sản xuất, kiến trúc cảnh quan; ngoài năm 2030 sẽ chuyển vào các khu công nghiệp theo quy hoạch, quỹ đất hiện có chuyển đổi sang dịch vụ công cộng.

Các khu, cụm công nghiệp địa phương nằm trong các đô thị vệ tinh hoặc các thị trấn sẽ chuyển đổi sang thành công nghiệp sạch, sinh thái phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng địa bàn cụ thể.

  • Các khu công nghệ cao, khu công nghiệp & cụm công nghiệp

Định hướng phân bố các khu công nghệ cao, khu công nghiệp & cụm công nghiệp đến năm 2030 có tổng diện tích khoảng 8.000 ha, gồm có 03 vùng công nghiệp (tổng diện tích khoảng 6.500 ha) và công nghiệp tại các thị trấn (tổng diện tích khoảng 1.400- 1.500 ha):

  • Khu vực phía Bắc bao gồm Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì  (khoảng 3.200 ha):

Ưu tiên phát triển các ngành công nghiêp chủ đạo là điện tử- công nghệ thông tin, cơ khí, sản xuất ô tô, công nghiệp vật liệu mới, hóa dược- mỹ phẩm, dệt may…gắn với vùng công nghiệp nặng thuộc các tỉnh phía Bắc Hà Nội đồng thời phát huy tối đa những ưu thế về vị trí chiến lược như gần sân bay quốc tế Nội Bài, khu dịch vụ tiếp vận trung chuyển hàng hóa (Logistic) phía Bắc, cũng như nằm trong hành lang kinh tế Côn Minh- Hà Nội- Hải Phòng (Quốc lộ 18 qua Hà Nội);

  • Khu vực phía Nam bao gồm Thường Tín, Phú Xuyên (khoảng 1.500 ha): Ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chủ đạo là công nghiệp công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp (nông nghiệp công nghệ cao), chế biến nông sản công nghệ hiện đại với nguyên liệu đầu vào từ vùng phát triển nông nghiệp thuộc các tỉnh phía Nam Hà Nội; đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ (dệt may, da giày, cơ khí chế tạo, điện tử tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô) nhằm phát huy tối đa những ưu thế về vị trí giao thoa giữa hành lang kinh tế Tây Bắc- vùng Thủ đô- Hải Phòng (dự án trục Đỗ Xá- Quan Sơn) và hành lang kinh tế Bắc Nam dọc Quốc lộ 1A cũng như liên kết thuận lợi với khu dịch vụ tiếp vận trung chuyển hàng hóa (Logistic) phía Nam; Tạo cơ sở việc làm thu hút lao động của khu vực Thường Tín, Phú Xuyên và vùng lân cận phía Nam Hà Nội.
  • Khu vực phía Tây là Hòa Lạc, Xuân Mai, Miếu Môn (khoảng 1.800 ha): Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo là hóa dược- mỹ phẩm, công nghệ vi điện tử, cơ khí chính xác, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano, công nghệ năng lượng mới, vật liệu xây dựng, nội thất cao cấp, công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp… gắn với vùng kinh tế Tây Bắc và hành lang phát triển đường Hồ Chí Minh.
  • Công nghiệp tại các thị trấn (khoảng 1.400- 1.500 ha): Ưu tiên phát triển công nghiệp sinh thái, chế biến nông sản thực phẩm chất lượng cao… gắn với sự phát triển các thị trấn Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn, Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa, Tây Đằng, Phùng, Liên Quan v.v…
  • Các cụm công nghiệp làng nghề

Rà soát lại toàn bộ các cơ sở sản xuất và các làng nghề (trên 1200 điểm), đặc biệt là khu vực Hà Tây cũ hiện nằm đan xen trong các làng xóm và điểm dân cư nông thôn để có biện pháp quản lý chặt chẽ về môi trường và hạ tầng (cấp điện, cấp thoát nước).

Mục tiêu quan trọng hiện nay là giữ gìn và phát triển các nghề thủ công truyền thống, vì thế làng nghề không nhất thiết phải ở bên trong làng, những làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nên được đưa vào khu, cụm công nghiệp tập trung.

Để đảm bảo việc phát triển và tiêu thụ sản phẩm tại các cơ sở sản xuất trên, nhiều giải pháp về phát triển giao thông kết nối giữa điểm sản xuất với các tuyến đường chính đã đươc đề cập mang tính khả thi. Trong đó có định hướng xây dựng trung tâm dịch vụ hỗ trợ tại chỗ để phục vụ cho khách tham quan làng nghề và giới thiệu mua bán sản phẩm.

Duy trì, phát triển các cụm công nghiệp TTCN-làng nghề tại vùng nông thôn khoảng 1.200- 1.500 ha, gồm: Gốm sứ; Sơn mài- khảm trai; mây tre, giang đan; Nón mũ lá; Chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp; Thêu ren; Dệt may; Da giầy, khâu bóng; Điêu khắc; Cơ khí, điện, rèn dao kéo; Chế biến nông sản thực phẩm; Đan tơ lưới; Sinh vật cảnh... Liên kết theo mô hình tập trung thành nhóm làng cùng nghề để cùng sử dụng công nghệ không gây ô nhiễm, nâng cao hiệu quả sản xuất và đảm bảo các điều kiện về môi trường, đồng thời kết hợp với việc bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa và khai thác du lịch, giữ gìn cấu trúc làng xóm hiện nay.

e. Lộ trình thực hiện

  • Giai đoạn ngắn hạn 2010- 2020:

Di dời 04 khu tập trung CN trong nội thành (Hà Nội cũ): Thượng Đình, Minh Khai- Vĩnh Tuy- Mai Động, Văn Điển- Pháp Vân, Giáp Bát- Trương Định (tổng diện tích 257 ha); Di dời 05 khu tập trung CN tại các huyện ngoại thành (Hà Nội cũ) là Cầu Bươu, Chèm, Đức Giang- Cầu Đuống, Cầu Diễn- Mai dịch, Đông Anh (tổng diện tích 169 ha); Các nhà máy, xí nghiệp nhỏ lẻ khác cũng sẽ được di dời đến khu công nghiệp tập trung và quỹ đất sẽ được tái sử dụng cho mục đích công cộng.

Lấp đầy các khu, cụm công nghiệp đã có, phù hợp quy hoạch chung xây dựng Thủ đô;

Chuyển đổi chức năng hoặc dừng triển khai các dự án công nghiệp không phù hợp quy hoạch chung xây dựng Thủ đô;

Đầu tư một số dự án tiền đề phát triển cho công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghiệp sinh thái…

  • Giai đoạn dài hạn 2020- 2030:

Tập trung đầu tư phát triển các dự án công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghiệp sinh thái, các trung tâm đào tạo- nghiên cứu công nghệ…

 

8.1.2.      Định hướng quy hoạch hệ thống dịch vụ thương mại

  • Bối cảnh chung:

Hệ thống các công trình thương mại và dịch vụ của Hà Nội hiện nay đã đảm nhận vai trò là trung tâm đầu mối thương mại của vùng. Tuy nhiên, hệ thống chợ đầu mối tại Hà Nội vẫn thiếu và yếu, hệ thống phân phối bán lẻ nằm rải rác và tự phát không có sức cạnh tranh. Các vị trí chợ đều chật hẹp và chưa tích hợp các đầu mối giao thông và bãi đỗ xe lớn.

-Mục tiêu:

+ Mục tiêu chung:

Mục tiêu xây dựng Hà Nội thành trung tâm thương mại, tài chính- ngân hàng, giao dịch quốc tế hàng đầu ở khu vực phía Bắc và có vai trò quan trọng trong cả nước. Đáp ứng văn minh thương mại, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của dân cư Thủ đô.

+ Mục tiêu cụ thể:

Thiết lập, củng cố và phát triển các kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ theo hướng văn minh hiện đại; Phát triển hài hòa giữa thị trường thành thị và nông thôn, giữa thương mại truyền thống và hiện đại; Gắn kết hiệu quả với mạng lưới thương mại- dịch vụ trong Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ cũng như đảm bảo các chức năng trong Vùng;

Nâng cao khả năng hoạt động của mạng lưới bán buôn, bán lẻ trong việc điều phối liên kết giữa sản xuất với thương mại và tiêu dùng trên địa bàn Thành phố;

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại đồng bộ, hiện đại tại các khu vực trọng tâm phát triển của Thủ đô, trong đó, một số công trình có tiêu chuẩn ngang tầm với các nước trong khu vực và quốc tế.

  • Định hướng phát triển mạng lưới

+ Khu vực đô thị trung tâm:

Xây dựng mới Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc gia tại Mễ Trì có quy mô 50 ha và Trung tâm Hội chợ triển lãm thương mại quốc tế tại  Đông Anh khoảng 50 ha;

Nâng cấp trung tâm hội chợ, triển lãm Giảng Võ;

Xây dựng mới Trung tâm tài chính thương mại quốc tế (10-15ha) tại khu vực Tây Hồ Tây;

Xây mới trung tâm dịch vụ thương mại tài chính ngân hàng tại các khu đô thị Hà Đông, Đan Phượng, Hoài Đức, Thường Tín-Thanh Trì (khoảng 10-30 ha/1khu);

Hình thành mới các trung tâm thương mại tổng hợp cấp thành phố (10-15ha/1khu) tại Thượng Đình, Vĩnh Tuy… trên cơ sở chuyển đổi đất của Khu công nghiệp Cao Xà Lá và Dệt Minh Khai...

Hình thành mạng lưới các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ... theo các cấp phục vụ kết hợp với việc cải tạo và nâng cấp các công trình đã có, chú trọng đáp ứng nhu cầu diện tích bãi đỗ xe.

Cải tạo và xây dựng mới các tuyến và trục phố thương mại, chú trọng đến không gian đi bộ. Tăng cường các cơ sở thương mại, siêu thị và Minimart tại quỹ đất tái sử dụng để giảm thiểu chợ nhỏ lẻ trong các ngõ xóm, kinh doanh thương mại trên đường phố.

+ Các đô thị vệ tinh và các thị trấn: Xây dựng mới mạng lưới các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ... đồng bộ, hiện đại với với số lượng và quy mô căn cứ theo quy mô của từng đô thị được quy hoạch. Xây dựng mới các tuyến và trục phố thương mại.

+ Khu vực nông thôn: Cải tạo và nâng cấp mạng lưới chợ truyền thống, chú trọng đầu mở rộng các khu vực thu mua nông sản. Hình thành mạng lưới trung tâm mua sắm- thương mại dịch vụ tổng hợp, siêu thị vừa và nhỏ, chợ bán lẻ, cửa hàng tiện lợi, và tạp hóa...

+ Khu vực đầu mối giao thông Vùng:

Hình thành 02 Khu dịch vụ tiếp vận trung chuyển hàng hóa (Logistic) tại Sóc Sơn và Phú Xuyên;

Hình thành mạng lưới chợ đầu mối nông sản tổng hợp cấp vùng (diện tích từ 20- 30 ha mỗi chợ) gắn với các vùng nông nghiệp lúa, rau, hoa, quả sản lượng cao tại 05 khu vực: Phía Bắc (Mê Linh), phía Nam (Phú Xuyên), phía Tây (Quốc Oai), phía Đông (Long Biên, Gia Lâm), phía Tây Bắc (Sơn Tây);

Hình thành mạng lưới trung tâm bán buôn và mua sắm cấp vùng (diện tích khoảng 20 ha mỗi trung tâm) gắn với khu vực đô thị trung tâm, các đô thị vệ tinh và các đầu mối giao thông liên Vùng tại Sóc Sơn, Phú Xuyên, Hòa Lạc, Chúc Sơn, Gia Lâm.

8.1.3.      Định hướng quy hoạch hệ thống dịch vụ du lịch

Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, tuy nhiên so với các đô thị tại miền Nam và miền Trung, Hà Nội chưa là thành phố du lịch hấp dẫn đối với du khách quốc tế. Lý do cơ bản là cơ sở vật chất phục vụ du lịch thiếu và yếu, đặc biệt là thiếu khách sạn cao cấp từ 3-5 sao trở lên, thiếu sản phẩm du lịch đa dạng và thiếu các khu vui chơi giải trí tổng hợp kết hợp vui chơi nghỉ dưỡng với biên độ lưu trú khoảng 1 tuần cho khách quốc tế và nội địa. Định hướng trong những năm tới tỷ trọng du lịch chiếm 10-15% GDP thành phố. Phấn đấu đạt 2 triệu lượt khách quốc tế , 7-8 triệu lượt khách nội địa năm 2010 và 5,2 triệu khách quốc tế vào năm 2020. Doanh thu của ngành du lịch hàng năm tăng 16 -18%. Dự báo nhu cầu phòng khách sạn năm 2030 đạt khoảng trên 5 triệu lượt khách quốc tế lưu trú trong KS, trên 7,5 triệu lượt khách nội địa lưu trú trong KS. Do vậy số phòng cần thêm so với hiện nay khoảng 7 vạn phòng.

a. Mục tiêu phát triển

Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành một trong những trung tâm dịch vụ-du lịch lớn của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Phát triển du lịch  gắn với bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá, tôn giáo, cảnh quan.

b. Định hướng phát triển mạng lưới du lịch.

  • Phát triển khu vực trung tâm Hà Nội – trung tâm thành trung tâm đầu mối du lịch quốc gia.

Trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị khu phố cổ, khu phố cũ, các di tích lịch sử cách mạng đặc biệt quan trọng, các di tích lịch sử văn hoá, tôn giáo gắn với quá trình hình thành và phát triển thủ đô.

Tiếp tục lựa chọn vị trí xây dựng hệ thống khách sạn 3-5 sao, quy mô 3vạn phòng tại khu vực 4 quận Ba Đình, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và quận Tây Hồ. Đặc biệt là khu vực vành đai xanh có Trục Ba Vì-Hồ Tây cắt ngang qua, đây là nơi giao lưu văn hóa với những quảng trường văn hóa lớn, các cung hội nghị, cung hòa nhạc cùng hệ thống các bảo tàng và công viên cây xanh chuyên đề, nhiều công trình quan trọng và các dịch vụ du lịch gắn với các cơ sở lưu trú cao cấp để phục vụ cho khách du lịch.

Xây dựng một số tuyến phố mua sắm đặc trưng tại khu vực phố cổ, nâng cấp và phát triển các tuyến đi bộ, phố mua sắm, chợ đêm, khu bán hàng lưu niệm chất lượng cao.

  • Phát triển không gian du lịch theo quốc lộ 3 về phía Bắc:

Tại khu vực các huyện ngoại thành phía Nam và phía Bắc sông Hồng với 02 khu vực hạt nhân cần ưu tiên phát triển là tổng thể di tích Cổ Loa và tổng thể di tích đền Sóc; quy mô khách sạn dự kiến 5.000 phòng. Hình thành hai cụm du lịch là cụm du lịch văn hóa Cổ Loa – Vân Trì, cụm du lịch văn hóa sinh thái Đồng Quan núi Sóc.

Hình thành khu ẩm thực Việt Nam, cung cấp các sản phẩm ẩm thực nghệ thuật và các dịch vụ ẩm thực của 3 miền đất nước.

  • Khu vực phía Tây theo trục Đại lộ Thăng Long

Xây dựng trung tâm là cụm du lịch Ba Vì – Suối Hai kết hợp với các điểm du lịch sinh thái gắn với văn hoá tâm linh như chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trăm gian, khu du lịch thể thao Đồng Mô - Ngải Sơn, Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Hai, vườn Quốc gia Ba Vì,...; Kết hợp với văn hóa xứ Đoài, văn hóa làng nghề, lễ hội làng; quy mô sạn dự kiến 10.000 phòng.

  • Khu vực phía Tây Nam:

Liên kết với các không gian du lịch phía Tây với trung tâm du lịch Viên Nam (Lương Sơn - Kim Bôi - Hòa Bình…) phát triển các loại hình sinh thái, nghỉ dưỡng quy mô 5.000 phòng. Phát triển về phía Nam với cụm du lịch Hà Đông - Quan Sơn – Hương Sơn, quy mô 1.800 phòng.

  • Hình thành các tour bằng đường thuỷ

Trên các hành lang du lịch sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy nối với hệ thống đường sông của các tỉnh trong vùng.

  • Phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp và làng nghề.

Gắn với bảo vệ khu vực nông thôn Hà Nội và các di sản văn hóa truyền thống đặc biệt là các di tích và làng nghề truyền thống vùng nôn thôn.

  • Phát triển các cơ sở dịch vụ du lịch.

Xây dựng các trung tâm và các trạm cung cấp thông tin dịch vụ tự động 24/24h trên địa bàn thành phố.

8.1.4.      Định hướng quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp

Khu vực nông lâm nghiệp Hà Nội hiện nay chiếm 56% tổng đất tự nhiên, lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm > 28% trong cơ cấu lao động, nhưng tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của Thành phố chỉ có 6%. Thực tế, Hà Nội có 3,8 triệu người (gần 60% dân số) sống ở khu vực nông thôn, đa số các hộ nông dân thu nhập thấp. Tình trạng phát triển nông lâm nghiệp của Hà Nội không đạt hiệu quả một phần do thời tiết, bệnh dịch; một phần do người dân Hà Nội đang có xu hướng không ổn định trong sản xuất nông nghiệp vì diện tích đất nông nghiệp liên tục giảm trong những năm qua, nhất là khu vực tỉnh Hà Tây cũ. Trong những năm tới, Hà Nội tiếp tục mở rộng đô thị hiện hữu ra bên ngoài và đô thị hóa nhiều vùng nông thôn hiện nay đặc biệt tại địa bàn các huyện Thành Trì, Hà Đông, Hoài Đức, Đan Phượng, Đông Anh, Mê Linh, Gia Lâm và một phần các huyện Chương Mỹ, Phú Xuyên, Sóc Sơn, Quốc Oai…

a. Mục tiêu

Định hướng đến năm 2030, phát triển nông nghiệp gắn với hình thành hành lang xanh bảo vệ môi trường Thủ đô. Ổn định quỹ đất sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch, sử dụng hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm đáp ứng yêu cầu về nông sản, thực phẩm chất lượng cao cho Thủ đô Hà Nội.

b. Định hướng phát triển

+ Về nông nghiệp: Xác định các vùng đất ổn định sản xuất hàng hóa chuyên canh quy mô lớn như: trồng rau an toàn, trồng hoa, cây cảnh… theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao, gắn với hệ thống dịch vụ phân phối hàng nông lâm thổ sản, cung cấp thuận tiện đến các khu vực dân cư.

Hình thành các vùng rau an toàn, rau cao cấp ở Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh trì, khu vực ven sông Đáy và bãi sông Hồng thuộc các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Thường Tín và Ứng Hòa. Hình thành khoảng 10-12.000 ha các vùng trồng hoa, cây cảnh ở Mê Linh, Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Đan Phượng, Quốc Oai, Hoài Đức, Thường Tín, Sơn tây, Mỹ Đức; khoảng 15-16.000ha cây ăn quả đặc sản ở khu vực Diễn, Đan Phượng.

Hình thành các vùng sản xuất cây lương thực, vùng chuyên canh lúa có năng suất cao ở Thanh Oai, Phú Xuyên, Chương Mỹ, Ứng Hòa và Mỹ Đức; vùng trồng cây công nghiệp hàng năm như Ba Vì, Chương Mỹ, Sóc Sơn, Mỹ Đức, Quốc Oai, Thạch Thất…

+ Về lâm nghiệp: Bảo tồn diện tích rừng Hà Nội ở khu vực Ba Vì, Mỹ Đức, Sóc Sơn. Hiệu quả chính của rừng tại Hà Nội là bảo vệ môi trường và phục vụ du lịch.

+ Về ngư nghiệp: Tăng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản đến khoảng 15.000-16.000ha. tại các huyện vùng trũng như Phú Xuyên, Mỹ Đức, Ứng Hòa…

 

8.2.            Định hướng quy hoạch hạ tầng xã hội

8.2.1.      Định hướng quy hoạch hệ thống công sở

Hệ thống các công sở hành chính Quốc gia và Thành phố Hà Nội hiện đang bố trí phân tán trong khu vực nội đô lịch sử là Ba Đình, Hoàn Kiếm, và Đống Đa. Các vị trí này phần lớn có hạ tầng quá tải, đặc biệt là vấn đề bãi đỗ xe. Vì sự bố trí các công sở phân tán đã gây nên ách tắc giao thông, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các cơ quan và hoạt động chung của thành phố. Thành phố đã có chủ trương di dời các cơ sở làm việc này ra các khu vực mới có điều kiện hạ tầng tốt hơn.

Về cơ sở vật chất, hầu hết các công sở hiện đang sử dụng lại từ các công trình có chức năng là nhà ở hoặc trường học của giai đoạn trước để làm việc nên không phù hợp với công năng của văn phòng làm việc. Mặc dù đã được đầu tư cải tạo, chấp vá nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu sử. Chất lượng cơ sở vật chất xuống cấp đã tác động tiêu cực tới hoạt động hành chính công, hoạt động điều hành chỉ đạo và ảnh hưởng tới người dân đến liên hệ công tác.

Nhu cầu phát triển chung của xã hội, yêu cầu phải tập trung hóa, áp dụng công nghệ kỹ thuật mới và nhu cầu về cơ sở vật chất tốt hơn cho hoạt động tại các công sở đòi hỏi phải xác định các khu vực xây dựng tập trung các công sở tại Thủ đô Hà Nội là rất bức thiết hiện nay.

a. Mục tiêu phát triển

Phát triển hệ thống công sở phù hợp với yêu cầu và xu hướng phát triển tổ chức hành chính mới và định hướng phát triển của thủ đô.

Kết hợp giữa phát triển khu vực các cơ quan hành chính tập trung, cải tạo nâng cấp cơ sở hiện có và áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ để đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống trụ sở thuộc trung ương và thành phố.

Từng bước di dời hệ thống các công sở của trung ương và thành phố tại các khu vực quá tải về hạ tầng ở nội đô ra các khu vực tập trung mới nhằm giảm tải cho nội đô.

b. Định hướng phát triển

Khu vực Ba Đình

Giữ nguyên vị trí trung tâm chính trị quốc gia tại khu vực Ba Đình. Cải tạo và năng cấp trở thành quần thể kiến trúc cảnh quan tiêu biểu cho Thủ đô và cả nước. Đây là nơi lư­u giữ các giá trị di sản về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi bố trí trụ sở làm việc của Đảng, Nhà nư­ớc, Quốc hội, Chính phủ, một số cơ quan bảo vệ an ninh và công trình phục vụ hoạt động của trung tâm chính trị. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, khảo cổ Hoàng Thành và cảnh quan có giá trị.

Khu vực Ba Đình là nơi tổ chức các hoạt động chính trị, văn hoá, tham quan du lịch của nhân dân trong nước và khách Quốc tế. Khu vực này sẽ được điều chỉnh lại quy mô diện tích các cơ quan làm việc của Đảng, Nhà nư­ớc, Quốc hội và Chính phủ phù hợp với định hướng phát triển của quy hoạch chung thành phố Hà Nội.

  • Trụ sở các Bộ Ngành Trung ương

Trụ sở của các Bộ và cơ quan ngang Bộ hiện tập trung tại 4 quận nội thành có diện tích nhỏ hẹp, không đáp ứng được nhu cầu hiện nay về sử dụng và hạ tầng giao thông đô thị.

Chính phủ đã có chủ trương di dời các trụ sở làm việc của các Bộ ngành ra ngoài khu vực nội đô. Hiện đã có một số Bộ, Ngành xây dựng trụ sở mới tại khu vực dọc đường vành đai 3 hoặc khu vực Mỹ Đình. Trong thời gian tới kế hoạch di dời sẽ được tiếp tục. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội rà soát các trụ sở làm việc của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ để đưa ra 2 địa điểm mới đã được xác định tại khu vực Tây Hồ Tây khoảng 30ha và Mễ Trì khoảng 70ha (Thuộc dự kiến cho Trung tâm Hội chợ triển lãm Quốc gia). Tại các khu vực mới này sẽ khuyến khích xây dựng theo mô hình liên cơ quan để tăng cường sử dụng chung và nâng cao hiệu quả khai thác các cơ sở sở vật chất như sân bãi, phòng họp, trung tâm hội nghị, khách sạn và các tiện ích công cộng khác.

Các trụ sở cơ quan Trung ương sau khi di dời sẽ chuyển đổi thành các chức năng công cộng phục vụ mục đích an sinh xã hội, hoặc công viên cây xanh.

  • Trụ sở các Sở Ban Ngành Thành phố

Đối với trung tâm Chính trị - Hành chính của Hà Nội ở khu vực Hồ Gươm. Di dời một số đơn vị và cơ quan để quy hoạch, sắp xếp các trụ sở làm việc chính phù hợp với nhu cầu của Thủ đô như: Thành ủy, UBND, HĐND, Mặt trận Tổ Quốc. Quy hoạch chi tiết khu vực Hồ Gươm sẽ được điều chỉnh ở giai đoạn sau quy hoạch chung này.

Trụ sở các Sở, Ban, Ngành khác của thành phố bố trí chủ yếu tại khu vực Đông Nam Trần Duy Hưng (xây dựng theo mô hình Liên cơ quan).

8.2.2.      Định hướng phát triển nhà ở

a. Tổng quan chung

Quỹ nhà ở Hà Nội trong hơn mười năm trở lại đây được liên tục nâng cấp và phát triển thông qua các dự án phát triển đô thị, bất động sản và các hoạt động xây dựng, cải tạo của người dân. Đến nay, chỉ tiêu nhà ở khu vực thành thị đạt 25,1m2 sàn sử dụng/người (số liệu điều tra năm 2009), cao hơn so với chỉ tiêu chung của cả nước là 23,1m2 sàn sử dụng/người. Tuy nhiên, do tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, nhu cầu nhà ở tăng mạnh nên nhìn chung sự phát triển của quỹ nhà ở mới vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Thủ đô.

Mặt khác, quỹ nhà ở cũ của Hà Nội cũng đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Tại các khu vực phố cổ, phố cũ và tập thể cũ, sự suy giảm của chất lượng nhà và môi trường ở đang là một vấn đề hết sức bức xúc. Nhà ở do dân tự xây đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu nhà ở những năm vừa qua, nhưng do thiếu sự kiểm soát, tác động tiêu cực tới mỹ quan và không gian đô thị.

Những dự án đô thị trong đó chủ yếu là dự án nhà ở phát triển rất mạnh trên khắp địa bàn thủ đô hiện đang thiếu sự định hướng về số lượng, chất lượng và loại hình nhà ở. Người dân với mức thu nhập trung bình và thấp rất khó có điều kiện tiếp cận và nâng cao điều kiện ở của mình.

Dự án phát triển nhà ở không đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đã dẫn tới tại các khu vực phát triển mới thiếu hạ tầng xã hội, tại các khu vực nội thành bị quá tải do dân cư phải di chuyển vào nội thành để sử dụng hạ tầng. Điều kiện môi trường và điều kiện sống tại nhiều khu ở không đảm bảo, thiếu cân bằng.

b. Chỉ tiêu dự báo:

Đến năm 2030, nhà ở khu vực đô thị phấn đấu tăng từ 25,1m2 sàn sử dụng/người (năm 2009)[2], lên >30m2 sàn sử dụng/người và nhà ở nông thôn tăng từ 17,9m2 sàn sử dụng/người (năm 2009), lên >25m2 sàn sử dụng/người.

c. Chiến lược chung phát triển nhà ở:

Phát triển nhà ở theo các dự án khu đô thị mới đồng bộ: Hình thành chuỗi các đô thị mới giữa vành đai 3 và 4 và hệ thống các đô thị vệ tinh: Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sóc Sơn…  được phát triển đồng bộ về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và quy chế quản lý, kiểm soát phát triển. Phát triển đô thị mới cần thiết phải gắn với các khu vực có nhu cầu sử dụng lao động như khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ, trường đại học... để cung cấp chỗ ở tại chỗ cho các đối tượng lao động và hạn chế việc phải di chuyển thường xuyên cắt ngang thành phố gây quá tải hệ thống hạ tầng giao thông. Phát triển các khu đô thị mới phải tiến tới hình thành các cộng đồng dân cư bền vững, an toàn, thân thiện và đảm bảo các chỉ tiêu tiện nghi tiêu chuẩn như diện tích ở, diện tích cây xanh, diện tích hạ tầng, bán kính phục vụ…

Hỗ trợ nhà ở dân tự xây: Thu hút các nguồn lực xã hội vào phát triển quỹ nhà ở, đặc biệt là nguồn lực từ vốn nhân dân. Thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ tiết kiệm phát triển nhà ở, cung cấp các khoản vay dài hạn có lãi suất thấp nhằm kích thích các hoạt động cải tạo, đầu tư, xây dựng nhà ở của người dân. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép xây dựng nhà ở. Đề xuất quy chế quản lý kiến trúc, xây dựng đối với loại hình nhà ở dân tự xây để giảm bớt tình trạng xây dựng lộn xộn hiện nay.

Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển nhà ở Vùng Thủ đô, nhằm tận dụng các tiềm năng về vị trí, quỹ đất của cả Vùng hỗ trợ cho Hà Nội. Ưu tiên xây dựng, phát triển các đầu mối hạ tầng Vùng, đơn giản hóa các thủ tục hộ khẩu để tạo điều kiện cho người dân nội đô Hà Nội chuyển nơi ở đến các tỉnh lân cận (các đô thị mới của các tỉnh vùng ven Hà Nội).

Đầu tư phát triển quỹ nhà ở xã hội: Phát triển quỹ nhà ở chi phí thấp và nhà ở cho thuê, xây dựng nhà ở cho học sinh, sinh viên; xây dựng quỹ nhà ở chính sách (dành cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng). Xã hội hóa phát triển nhà ở xã hội.

Đối với các khu vực làng xóm đô thị hóa: cần kiểm soát phát triển theo hướng đô thị sinh thái (làng đô thị sinh thái) có đầy đủ các chức năng đô thị và đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, với mật độ xây dựng và thấp tầng. Đặc biệt cải tạo xây dựng mới hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước và các khu cây xanh, vườn hoa, khu vui chơi giải trí và các tiện ích đô thị.

Cải thiện chất lượng nhà ở nông thôn: Phát triển nhà ở đồng bộ gắn với quy hoạch các điểm dân cư nông thôn tập trung; Hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhà ở nông thôn cũng như các hướng dẫn thực hiện; Bảo tồn tôn tạo kiến trúc nhà ở truyền thống; Nghiên cứu phát triển các mẫu nhà ở mới phù hợp với điều kiện sản xuât, ứng phó được với thiên tai.

Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách: Thúc đẩy phát triển nhà ở thông qua các chính sách về đất đai. Hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội; Tiêu chuẩn hóa nhà ở; Phát triển thị trường nhà ở chính thức; Xây dựng hoàn thiện hệ thống quản lý nhà ở tại các khu đô thị mới.

d. Chiến lược phát triển cho các khu vực cụ thể:

Đối với khu phố cổ: Không phát triển nhà ở mới, tập trung cải tạo, nâng cấp chất lượng ở (nhà ở, môi trường ở). Xây dựng các giải pháp đồng bộ nhằm khuyến khích quá trình giảm mật độ dân số. Bảo tồn giá trị kiến trúc nhà ở, không gian ở truyền thống. Lập quy chế kiểm soát phát triển: Quy định tầng cao tối đa của nhà ở riêng lẻ cải tạo; Phong cách kiến trúc được áp dụng cho mặt đứng nhà tuyến phố; Gìn giữ và phát huy không gian ở truyền thống như: khu bán hàng, khu ở, khu phụ, sân trong... Đảm bảo các điều kiện về vệ sinh môi trường (thông thoáng, ánh sáng…). Phân kỳ và  thực hiện thí điểm việc chỉnh trang các tuyến phố, ô phố; quy hoạch mạng lưới giao thông tĩnh và tuyến phố đi bộ, bảo tồn, tôn tạo các công trình tôn giáo tín ngưỡng và các ngôi nhà cổ; duy trì nét đặc trưng của phố cổ đó là mối liên hệ giữa công trình, di tích, phố nghề, sinh hoạt.

Đối với các khu phố cũ:

Bảo tồn cấu trúc đô thị và tôn tạo không gian cảnh quan khu phố cũ. Khuyến khích quá trình giảm mật độ dân số.Không xây dựng xen cấy vào các khoảng không gian cây xanh; kiểm soát chặt chẽ việc cho phép xây dựng và cải tạo ở đây. Hạn chế phát triển nhà ở mới, tập trung vào cải tạo quỹ nhà hiện có. Kiểm kê các công trình kiến trúc Pháp, bảo tồn kiến trúc thuộc địa có giá trị. Đối với các biệt thự trong khu phố cũ cần có biện pháp bảo tồn, không phá dỡ biệt thự để thay thế vào đó là nhà cao tầng.

Đối với các khu tập thể cũ: Quy hoạch cải tạo lại các khu nhà tập thể cũ trên nguyên tắc không làm gia tăng thêm quy mô dân số, bổ sung, hoàn thiện các chức năng khu ở. Các khu tập thể cũ được chia thành hai khu vực:

Khu vực bên trong đường vành đai 2 (khu vực hạn chế phát triển) gồm: Các khu tập thể cũ sẽ được cải tạo chỉnh trang xây dựng theo hướng hạn chế phát triển dân số, không xây dựng cao tầng đối với vùng ảnh hưởng các không gian bảo tồn. Các khu tập thể cải tạo nâng tầng là các khu tập thể không ảnh hưởng tới vùng bảo tồn, nằm trên các trục đường hướng tâm, tạo được điểm nhấn kiến trúc và hình ảnh đô thị văn minh hiện đại của Thủ đô;

Các khu chung cư đang triển khai, đã có chủ trương đầu tư, đã phê duyệt hoặc chấp thuận phương án quy hoạch, đang thực hiện các thủ tục để khởi công sẽ được cải tạo xây dựng cao tầng với mật độ thấp, hạn chế gia tăng dân số, tạo được quỹ đất bổ sung cho các chức năng hạ tầng xã hội còn thiếu trong khu vực như: gia tăng diện tích cây xanh, bãi đỗ xe, tiện ích công cộng, trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, chợ...;

Các khu tập thể nằm trong khu vực có mật độ dân cư cao, không nằm trên các trục đường hướng tâm, không nằm trong vùng ảnh hưởng đến không gian bảo tồn và thiếu các cở sở hạ tầng xã hội, sẽ được cải tạo xây dựng hạn chế cao tầng với mật độ xây dựng thấp, hạn chế gia tăng dân số, tạo được quỹ đất bổ sung cho các chức năng hạ tầng xã hội còn thiếu trong khu vực. Khu vực ngoài đường vành đai 2 trở ra là khu vực không hạn chế phát triển được khuyến khích cải tạo xây dựng cao tầng đáp ứng được cấu trúc của một khu chung cư văn minh hiện đại, đảm bảo các chỉ tiêu về hạ tầng xã hội (trường học, cây xanh, bãi đỗ xe, chợ,...), phù hợp với các Tiêu chuẩn và Quy chuẩn xây dựng hiện hành, hài hòa với không gian kiến trúc cảnh quan của khu vực.

Đối với nhà ở riêng lẻ dân tự xây: cần nghiên cứu thiết kế đô thị và có chỉ dẫn cụ thể cho từng khu vực. Trên cơ sở đó quản lý của chính quyền địa phương cần thực hiện nghiêm túc việc quản lý và thanh tra xây dựng theo giấy phép trong quá trình cải tạo nhà ở của như tầng cao trình, kiến trúc mặt đứng và chức năng sử dụng công trình. Đối với những khu vực thực hiện dự án cải tạo hạ tầng đô thị, chính quyền địa phương cần có kế thu hồi các quỹ đất rộng xung quanh dự án làm cơ sở tái cơ cấu lại quỹ đất đô thị và thực hiện các dự án chỉnh trang đô thị.

Tại các khu đô thị mới  và đô thị vệ tinh: Xây dựng nhà ở đạt tiêu chuẩn quốc gia và tiến tới hoàn thiện theo tiêu chuẩn quốc tế với nhiều loại hình nhà ở (cao cấp, trung cấp và nhà ở xã hội) đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng trong xã hội. Đặc biệt tại chuỗi đô thị vành đai 3-4, khu vực Từ Liêm, Hoài Đức, Mê linh-Đông Anh, Đông Anh, Gia Lâm…, xây dựng nhà ở mới, cao tầng để giảm tải trực tiếp cho khu vực nội đô. Nâng cao chỉ tiêu, chất lượng nhà ở chung cho toàn đô thị. Hạn chế phát triển nhà ở riêng lẻ, các loại hình nhà không khai thác hiệu quả tài nguyên đất. Phát triển các khu đô thị mới với các tiện ích khu ở, công cộng đồng bộ (Trường học, bệnh viện, bãi đỗ xe, sân công viên, cây xanh...).

Đối với nhà ở tại các thị tứ: Đáp ứng các nhu cầu nhà ở tại chỗ (nhà ở lô phố, nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…). Giảm sức ép về nhà ở cho các làng truyền thống có mật độ cao.

Đối với nhà ở nông thôn: Khuyến khích bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống. Nghiên cứu thiết kế mẫu nhà ở nông thôn mới, đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, tiện nghi sinh hoạt hiện đại, thống nhất về ngôn ngữ kiến trúc, kiểm soát về mật độ và tầng cao xây dựng, giảm thiểu tối đa và khắc phục tình trạng xây dựng tự phát hiện nay. Khuyến khích sử dụng  vật liệu xây dựng địa phương, thân thiện với môi trường.

e. Nâng cao điều kiện ở

Điều kiện ở của nhân dân được hình thành từ các yếu tố như. Diện tích ở, chất lượng nhà ở, hệ thống công viên, bến bãi, khả năng tiếp cận và chất lượng các dịch vụ công cộng, chất lượng hạ tầng kỹ thuật và khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng, đặc thù cho từng khu vực.

Song hành với việc thực hiện các chiến lược nâng cao diện tích, chất lượng nhà ở cho mỗi người dân tại mỗi khu vực, thì yêu cầu phải nâng cao chất lượng hạ tầng cơ sở tại các khu vực ở và đảm bảo bán kính phục vụ. Trong đó những nhu cầu cơ bản như thương mại, giáo dục, y tế, hạ tầng kỹ thuật . . . cần phải được đáp ứng và đảm bảo sự cân bằng giữa các khu vực. Khắc phục tình trạng thiếu cân bằng và không đảm bảo chất lượng về hạ tầng xã hội tại các khu ở hiện hữu hiện nay thông qua việc tái cơ cấu lại quỹ đất thành phố sau khi đã di chuyển các công sở, nhà máy, bệnh viện, trường học ra khỏi khu vực nội đô.

Kiểm soát chặt chẽ sự hình thành hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ tại các khu ở, đặc biệt là tại các dự án khu đô thị mới làm cơ sở đảm bảo tiện nghi và điều kiện ở tại các khu vực.

Mạng lưới hạ tầng xã hội được phát triển và hình thành theo hệ thống phân cấp tầng bậc trong toàn thành phố như cấp trung ương, cấp thành phố, cấp quận, cấp phường, các đơn vị ở và cấp nhóm ở.

8.2.3.      Định hướng hệ thống các viện, trung tâm nghiên cứu,văn phòng làm việc

a. Mạng lưới các viện và trung tâm nghiên cứu

Hà Nội có nhiều viện và trung tâm nghiên cứu trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội… Do mô hình đào tạo và nghiên cứu của nước ta trước đây chủ yếu là đơn ngành nên hầu hết các viện và trung tâm nghiên cứu bố trí riêng lẻ và phân tán trên địa bàn thành phố. Chỉ một số viện và trung tâm được bố trí gắn kết với các trường đại học, cao đẳng.

Xu hướng phát triển kinh tế toàn cầu, đòi hỏi nước ta chuyển từ mô hình đào tạo từ đơn ngành sang đa ngành và các chức năng Đào tạo-Nghiên cứu-Ứng dụng sẽ phải gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau. Vì vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu lại sự phân bố mạng lưới các viện và trung tâm nghiên cứu tại Hà Nội hiện nay, để gắn kết các viện và trung tâm nghiên cứu với các trường đại học hoặc các cơ sở sản xuất.

b. Mạng lưới các văn phòng làm việc

Từ năm 1986 đến nay, khi nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang  kinh tế thị trường, nhu cầu về thị trường văn phòng làm việc ngày càng gia tăng. Phần lớn các văn phòng làm việc được bố trí trong các tòa nhà có chức năng hỗn hợp với thương mại trên các tuyến đường chính Thành phố, thuận lợi về giao thông và có bãi đỗ xe.  Một số khác sử dụng nhà ở làm văn phòng như: các căn hộ chung cư, biệt thự, các nhà phố… Đến nay chưa có kết quả thống kê và đánh giá số lượng và chất lượng các văn phòng làm việc tại Hà Nội. Trong những năm tới thành phố Hà Nội cần phải có các nghiên cứu, quy hoạch hệ thống văn phòng để làm cơ sở quản lý, kiểm soát và cung cấp hợp lý các nhu cầu về hạ tầng kỹ thuật.

8.2.4.      Định hướng phát triển khu vực an ninh quốc phòng

Những vấn đề chính về an ninh quốc phòng được  giải quyết trong quy hoạch chung, cụ thể như sau:

Về quy hoạch tổng thể không gian; hệ thống hạ tầng với giải pháp đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh, thị trấn sinh thái đã đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố, nhưng cũng phù hợp với việc triển khai bảo vệ thành phố trong tương lai. Hệ thống giao thông, đường vành đai và các đường hướng tâm đáp ứng về phòng thủ quốc phòng an ninh, phục vụ các phương tiện quốc phòng khi cần thiết.

 Vấn đề quy hoạch và phân bố các hệ thống khu chức năng tập trung đông người như quy hoạch mạng lưới các trường đại học cao đẳng, các khu vực quảng trường tập trung đông người được phân bố hợp lý đối với các vị trí hợp lý trên địa bàn toàn thành phố.

Các hệ thống sân bay quân sự trong Thủ đô Hà Nội vẫn giữ nguyên tính chất, chức năng tuy nhiên có gánh thêm chức năng dân sự .

Đối với các cơ sở an ninh quốc phòng hiện hữu trên địa bàn thành phố và khu vực Hà Tây (cũ) về cơ bản là được giữ nguyên. Các cơ sở này cũng được nâng cấp, tăng cường khả năng thích ứng công tác an ninh quốc phòng.

Trong khu vực đô thị hóa mật độ cao, tùy từng vị trí cụ thể có thể chuyển đổi thành đất phát triển đô thị. Trên cơ sở định hướng phát triển không gian mà quy hoạch chung đã xác định, các cơ quan hữu quan cần phải lập quy hoạch an ninh quốc phòng để bảo vệ cho Thủ đô trong mọi tình huống.

Khu vực phía Tây Hà Nội được tăng cương đảm bảo tính liên thông cả về dân sự và quân sự bằng việc xây thêm cầu qua sông Đà kết nối với các an toàn khu (ATK) vùng Tây Bắc: Hòa Bình, Phú Thọ...

Bộ tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng đã có ý kiến bằng văn bản thống nhất với định hướng của nội dung đồ án về đảm bảo an ninh quốc phòng.

 

8.2.5.      Định hướng quy hoạch hệ thống giáo dục đào tạo

8.2.5.1. Mạng lưới các trường đại học và cao đẳng:

Hà Nội hiện nay chiếm 1/3 tổng số trường đại học và cao đẳng toàn quốc và chiếm 40% tổng số sinh viên toàn quốc (Khoảng 66 vạn sinh viên). Trong những năm gần đây quy mô đào tạo tăng nhanh, nhưng quỹ đất và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động đào tạo tăng không đáng kể. Nhiều quỹ đất bố trí cho trường học trước đây bị chuyển đổi thành các chức năng khác của đô thị càng làm tăng mâu thuẫn với quá trình tăng quy mô đào tạo. Chỉ tiêu bình quân diện tích đất/ sinh viên và bình quân diện tích đất/ cơ sở trường rất thấp so với tiêu chuẩn quốc gia, 6 - 17m2/ sinh viên (tiêu chuẩn >25m2/sv), trong đó có 1/3 số trường đạt chỉ tiêu từ: 0,2 - 6m2/ sinh viên.

Phân bố các trường tập trung chủ yếu trong khu vực nội đô đã gây nên áp lực quá tải tới hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị. Hệ thống các cơ sở trường với quy mô đào tạo lớn tập trung chủ yếu ở các quận Hai Bà Trưng, Đống Đa, Cầu Giấy, là các khu vực có điều kiện hạ tầng thấp kém, các khu vực cửa ngõ của nội đô có tốc độ đô thị hóa rất nhanh đã ảnh hưởng tới khả năng phát triển đô thị và hoạt động đào tạo đại học.

Các cơ sở trường nằm xen lẫn trong các khu dân cư, thiếu các cơ sở vật chất, dịch vụ công cộng, phải sử dụng chung hạ tầng của đô thị như nhà ở sinh viên, dịch vụ công cộng, công trình thể dục thể thao và hạ tầng kỹ thuật đã gây áp lực tới hệ thống hạ tầng hiện đang rất thiếu của khu vực.

Nhu cầu phát triển hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo đại học là rất lớn. Trong đó, yêu cầu về quỹ đất, vị trí xây dựng hệ thống cơ chế pháp lý hỗ trợ là vô cùng bức thiết cần phải xây dựng đáp ứng.

a. Quan điểm phát triển

  • Hạn chế về tăng trưởng quy mô đào tạo về số lượng, chuyển hướng sang đào tạo chất lượng cao, đào tạo sau đại học để cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho sự phát triển của đất nước và đòi hỏi của xã hội.
  • Di dời quy mô đào tạo tập trung tại khu vực các quận huyện nội thành hiện nay ra các khu vực đô thị vệ tinh, để hình thành các khu đào tạo đại học tập trung với hệ thống hạ tầng đồng bộ đáp ứng nhu cầu đào tạo đại học trong thời đại mới.
  • Bố trí quỹ đất cho các cơ sở trường phát triển trong giai đoạn trước mắt tại các vị trí có điều kiện tự nhiên thuận lợi, quỹ đất phù hợp , có khả năng cung cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dự trữ cho các kế hoạch phát triển dài hạn.

b. Mục tiêu

-Tiếp tục phát triển Hà Nội trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn nhất cả nước.

-Phát triển Hà Nội trở thành trung tâm cung cấp dịch vụ đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực.

-Phân bố mạng lưới cơ sở trường hợp lý làm động lực thúc đẩy sự phát triển đô thị theo mô hình cấu trúc đã được lựa chọn.

-Đưa ra giải pháp để thực hiện công tác di dời quy mô đào tạo ra khỏi khu vực nội đô làm cơ sở giảm tải dân số cho khu vực nội đô.

c. Các chỉ tiêu áp dụng

  • Đất học tập:                                  20 – 30 m2/ sinh viên
  • Đất ký túc xá:                               10 – 15 m2/ sinh viên
  • Đất khu thể dục thể thao:             tối thiểu 10 m2/ sinh viên
  • Đất công cộng:                              5 – 10 m2/ sinh viên
  • Đất khu đại học tập trung:                        50 – 60 m2/sinh viên

d. Định hướng phát triển mạng lưới

Định hướng đến năm 2030 quy mô đào tạo khu vực thủ đô Hà nội khoảng 65 – 70 vạn sinh viên, chiếm 40% tổng số sinh viên vùng đồng bằng sông Hồng. Phát triển đào tạo theo hướng nghiên cứu, chất lượng cao ở hệ đại học và hướng đào tạo nghề hướng nghiệp ở hệ cao đẳng. Xây dựng mới các cơ sở trường theo hướng các khu, cụm đại học tập trung, được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất phù hợp với môi trường giáo dục đào tạo đại học tại các đô thị vệ tinh để dịch chuyển quy mô đào tạo từ đô thị trung tâm ra các đô thị vệ tinh.

Tại khu vực đô thị trung tâm sẽ hạn chế phát triển các cơ sở trường có quy mô đào tạo lớn, loại hình đào tạo mang tính chất đại trà, hướng nghiệp và có những cơ chế nghiêm ngặt để quản lý việc cải tạo chất lượng cơ sở vật chất hiện có góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

Phát triển các mô hình đô thị đại học, khu đại học tập trung, cụm trường tại các khu vực đô thị để đáp ứng nhu cầu phát triển trường rất đa dạng hiện nay. Hệ thống trường này gắn kết với các cảnh quan tự nhiên, cây xanh sinh thái và các giải pháp tổ chức hình thái đô thị để tạo nên các không gian đô thị sinh thái phù hợp với môi trường đào tạo đại học.

Ngành nghề đào tạo và lĩnh vực đào tạo phải đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực trước mắt và yêu cầu chiến lược nguồn nhân lực của quốc gia trong tương lai. Hạn chế tối đa việc đào tạo theo thị trường làm mất cân đối cơ cấu nguồn nhân lực qua đào tạo.

Quỹ đất dự kiến bố trí xây dựng các cơ sở đào tạo phải đáp ứng các yêu cầu gắn kết giữa đào tạo – nghiên cứu – ứng dụng, kết nối dễ dàng, điều kiện tự nhiên  phù hợp với chức năng đào tạo, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp và đáp ứng các nhu cầu dự trữ cho phát triển trong dài hạn. Quỹ đất bố trí phát triển trường bao gồm các chức năng: học tập, nghiên cứu, dịch vụ công cộng, thể dục thể thao, ký túc xá sinh viên, nhà ở cán bộ, công viên cây xanh, dự trữ phát triển và hệ thống hạ tầng hỗ trợ khác.

Bảng 33: Dự báo nhu cầu quỹ đất và quy mô đào tạo

STT

Danh mục đô thị

Quy mô đào tạo (sv)

Quỹ đất (ha )

Ngành nghề đào tạo ưu tiên

1

Đô thị trung tâm

 

 

 

 

Khu vực nội đô lịch sử

200.000 – 250.000

350 - 400

Trung tâm nghiên cứu, trường đầu ngành, trọng điểm quốc gia

 

Khu vực Gia Lâm

50.000 - 60.000

200 - 250

Nông nghiệp, kỹ thuật

 

Khu vực nội đô mở rộng phía nam sông Hồng

50.000 - 100.000

200 - 300

Đa ngành

2

Đô thị vệ tinh Sóc Sơn

80.000 -100.000

600 - 650

Kỹ thuật, công nghệ, đào tạo nghề

3

Đô thị vệ tinh Sơn Tây

40.000-50.000

300 - 350

Văn hóa, nghệ thuật, xã hội và quân đội

4

Đô thị vệ tinh Hòa Lạc

120.000-150.000

1100 - 1200

Đào tạo cơ bản, công nghệ và kỹ thuật

5

Đô thị vệ tinh Xuân Mai

80.000-100.000

600 - 650

Kỹ thuật, kinh tế tài chính

6

Đô thị vệ tinh Phú Xuyên

15.000 - 20.000

100 - 120

Kỹ thuật, công nghệ, đào tạo nghề hướng nghiệp

7

Thị trấn sinh thái Chúc Sơn

20.000-30.000

150 - 200

Kỹ thuật, thủy lợi, giao thông, sư phạm

 

Tổng cộng

650.000 – 700.000

3.500 - 4.400

 

  • Khu vực đô thị trung tâm

Quy hoạch phát triển, tái thiết, cải tạo xây dựng và giãn các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp nhằm mục đích giảm tải cho khu vực trung tâm. Khuyến khích di dời các cơ sở ra khu vực có khả năng đất đai; chú trọng di chuyển đến các đô thị vệ tinh nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển đô thị, tăng trưởng kinh tế và đầu tư trong tương lai. Tăng chỉ tiêu sử dụng đất các trường đào tạo đạt ngưỡng quy định trên cơ sở đánh giá, lựa chọn cụ thể các trường đảm bảo các tiêu chí gồm: Cơ sở giữ nguyên, cải tạo, chỉnh trang và nâng cấp là các trường có quy mô diện tích từ 2ha trở lên, giảm quy mô đào tạo hiện nay nhằm đặt chỉ tiêu 20m2/SV, đối với các trường “đặc thù” có thể có quy mô nhỏ hơn 2ha nhưng chỉ tiêu đạt ³20m2/SV có thể cho phép nâng cấp, khuyến khích và  tăng cường sát nhập các trường nhằm đảm bảo quy mô đất đai; Cơ sở di dời là các trường có quy mô diện tích nhỏ hơn 2ha (trừ những trường “đặc thù” có quy mô nhỏ hơn 2ha nhưng chỉ tiêu đạt ³20m2/SV nói trên) di chuyển ra ngoài đô thị trung tâm.

Giảm quy mô đào tạo tại khu vực nội đô tính từ vành đai sông Nhuệ vào các quận nội thành xuống tối đa khoảng 20 vạn sinh viên. Bảo tồn, cải tạo các cơ sở trường có lịch sử phát triển lâu đời như đại học Tổng hợp Dược, đại học Bách khoa, đại học Y Hà Nội . . . Các cơ sở đào tạo khác sẽ chuyển đổi thành các trung tâm nghiên cứu, hợp tác quốc tế hoặc đào tạo chất lượng cao sau đại học. Đối với các cơ sở trường có vị trí không phù hợp với phát triển đô thị và cơ sở vật chất không phù hợp với hoạt động giáo dục đào tạo phải di dời và chuyển đổi chức năng sử dụng đất thành các chức năng khác của đô thị, ưu tiên các công trình công cộng, cây xanh, bãi đỗ xe… hạ tầng đô thị phục vụ đủ cho khu vực.

e. Các giải pháp di dời trường ra khỏi khu vực nội đô

  • Đề xuất tiêu chí di dời

Tiêu chí 1- vị trí trường:  Các cơ sở trường nằm ở vị trí có các tuyến giao thông quan trọng chạy qua, khu vực sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm . . . không phù hợp với môi trường giáo dục đào tạo cần phải dịch chuyển đến vị trí mới có môi trường thích hợp cho hoạt động đào tạo, giáo dục đại học. Các vị trí nằm trong định hướng phát triển chiến lược của đô thị, cần phải chuyển đổi để bố trí cho các mục đích khác của đô thị như hạ tầng đầu mối, an ninh quốc phòng, dịch vụ công cộng . . . .

Tiêu chí 2- môi trường: Quá trình phát triển của các cơ sở trường và hoạt động phát triển tự phát thiếu kiểm soát của đô thị đã tạo nên mối quan hệ hữu cơ, tác động tương hỗ lẫn nhau. Tốc phát triển quy mô đào tạo rất nhanh, trong điều kiện cơ sở vật chất rất hạn chế tại các khu vực trường như ký túc xá, dịch vụ công cộng, dịch vụ sinh hoạt . . . đã hình thành tự phát các dịch vụ đô thị theo nhu cầu của kinh tế thị trường như nhà ở cho thuê, dịch vụ công cộng, dịch vụ hỗ trợ học tập, thông tin bưu điện . . . .

Tiêu chí 3- quy mô đất đai: Diện tích đất đai xây dựng và nhu cầu phát triển của trường, điều kiện cơ sở vật chất hiện có, khả năng đáp ứng phát triển. Diện tích đất bao gồm đất dành cho bố trí các khu chức năng như: khu hiệu bộ, khu học tập, khu thí nghiệm thực hành, khu sân bãi thể thao, khu ký túc xá, khu bố trí các công trình dịch vụ công cộng khác . . . Hệ thống các cơ sở vật chất này cùng với giáo viên, chương trình giảng dạy và sinh viên tạo thành môi trường đào tạo đại học cao đẳng.

Tiêu chí 4- lịch sử phát triển: Thời gian hình thành phát triển trường và vai trò của trường đối với không gian đô thị. Hệ thống các cơ sở giáo dục đại học cao đẳng có lịch sử phát triển lâu dài, trải qua các giai đoạn lịch sử đã góp phần đào tạo nên các thế hệ nhân lực tham gia vào các cuộc kháng chiến, đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước. Hình ảnh mái trường với bao kỷ niệm gắn bó với người sinh viên được lưu giữ theo năm tháng góp phần tạo nên hình ảnh chung của mỗi không gian đô thị, tạo ra các giá trị sống từ các không gian đô thị hiện hữu. Nhiều cơ sở trường đóng vai trò là di sản của đô thị như đại học Tổng hợp ( đại học Đông dương ), đại học bách khoa ( Đông dương học xá ), đại học sư phạm, đại học mỹ thuật Yết Kiêu ( mỹ thuật Đông Dương), đại học Y hà nội . . . .

Tiêu chí 5- ngành nghề và lĩnh vực đào tạo: Ngành nghề đào tạo của hệ thống giáo dục đại học cao đẳng luôn luôn thay đổi và phát triển theo sự phát triển chung của xã hội, nhiều ngành nghề mới liên tục được hình thành, xuất hiện. Việc đó sẽ rất khó khăn cho công tác dự báo về loại hình nghề và nhu cầu về số lượng về nguồn nhân lực của mỗi ngành nghề đào tạo.

  • Phân loại thực hiện di dời

Nhóm 1: Giữ lại, nâng cấp cải tạo: Các cơ sở được giữ lại tại chỗ, điều chỉnh lại tính chất chức năng và quy hoạch kiến trúc cho phù hợp với yêu cầu của phát triển đô thị và nhu cầu phát triển của trường. Đối với các trường có lịch sử phát triển lâu đời cần có biện pháp tu bổ, bảo tồn để trở thành di sản đô thị. Cần phối hợp đồng bộ giữa cải tạo không gian hiện hữu của trường và các không gian vùng phụ cận nhằm đảm bảo tạo môi trường tốt cho những cơ sở trường được giữ lại cho phù hợp cho hoạt động đào tạo giáo dục đại học.

Nhóm 2: Di chuyển 1 phần: Di chuyển 1 phần quy mô đào tạo, 1 số chức năng . . . hoặc chuyển đổi loại hình đào tạo ra cơ sở 2 nằm ở các khu vực nằm ngoài đô thị trung tâm, cơ sở hiện hữu được cải tạo nâng cấp hoặc chuyển đổi mục đích 1 phần sang các mục đích đô thị khác. Cơ sở hiện hữu cần được quản lý phát triển chặt chẽ phù hợp với định hướng phát triển chung của toàn đô thị.

Nhóm 3: Di chuyển toàn bộ cơ sở đào tạo: Di chuyển hoàn toàn hoạt động đào tạo ra vị trí mới đã được hoạch định từ trước. Cơ sở hiện hữu được chuyển sang các mục đích đô thị khác như công viên, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ . . . Trong đó ưu tiêu cho các mục đích tăng cây xanh, chỉ tiêu hạ tầng xã hội và chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật của khu vực hoặc sử dụng cho các chức năng đặc biệt của đô thị. Hạn chế tối đa việc chất tải thêm quy mô dân số đối với hạ tầng hiện có của khu vực.

  • Giải pháp cụ thể và lộ trình thực hiện

Phấn đấu đến năm 2015, các cơ sở có quy mô đào tạo > 1,5 vạn sinh viên phải có cơ sở 2 để di chuyển ra ngoài nội đô như: Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Xây dựng, Kinh tế, Ngoại Thương, Giao thông, Đại học Mở, Ngân hàng, Thủy Lợi, Mỏ địa chất, Thương Mại…. . Đối với các trường chưa có điều kiện tới cơ sở 2, sẽ được hỗ trợ khu ở ký túc xá tại dự án nhà ở sinh viên theo chương trình phát triển nhà ở xã hội. Những trường công lập có diện tích quá nhỏ (dưới 2ha) ở trong khu vực nội thành sẽ di dời ra bên ngoài. Lộ trình chuyển các cơ sở này sẽ thực hiện trong vòng 10 năm. Làm được việc này sẽ giảm thiểu đáng kể sức ép tăng trưởng dân số trong đô thị.

Quỹ đất hiện hữu của các cơ sở trường đại học cao đẳng trong khu vực nội thành với diện tích khoảng 350 – 400 ha đáp ứng dung nạp khoảng  20 vạn sinh viên (20m2/sinh viên) sẽ được áp dụng chỉ tiêu riêng về mật độ, tầng cao, diện tích để phù hợp với điều kiện hiện có của khu vực nội đô. Tăng cường diện tích đất hỗ trợ cho các cơ sở trường thông qua cơ cấu lại quỹ đất sau khi di dời các cơ sở bệnh viện, các dự án nhà ở xã hội và các dịch vụ hạ tầng hỗ trợ đô thị.

Trong khu vực đô thị trung tâm ưu tiên các đào tạo chất lượng cao, đào tạo sau đại học và các ngành nghề về văn hóa nghệ thuật, dịch vụ du lịch, tài chính, bồi dưỡng lý luận chính trị, an ninh quốc phòng . . . .

Đối với các dự án hiện đang ở trong khu vực vành đai 3 – 4 cần phải điều chỉnh di dời ra các khu vực đã bố trí ở đô thị vệ tinh, hạn chế việc tiếp tục tăng sinh viên tại khu vực đô thị trung tâm.

g. Các giải pháp xây dựng cơ sở trường mới

Dự kiến bố trí tại các đô thị vệ tinh như Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên, Chúc Sơn, Sóc Sơn… Xây dựng các cơ sở trường mới theo mô hình Khu đại học tập trung để tiết kiệm quỹ đất, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng và tạo điều kiện xây dựng cơ sở trường theo mô hình tiên tiến đáp ứng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn, dự kiến chỉ tiêu 50 - 60 m2đất/SV.

Các ngành nghề đào tạo tại các cụm trường sẽ được phân bố hợp lý với tính chất và chức năng của vùng đô thị xung quanh. Khu vực Sơn Tây ưu tiên đào tạo các ngành văn hóa, du lịch, nghệ thuật. Khu vực Hòa lạc ưu tiên đào tạo chất lượng cao, đào tạo các khoa học cơ bản. Phú Xuyên ưu tiên đào tạo các ngành liên quan đến ứng dụng phục vụ công nghiệp đa ngành. Sóc Sơn ưu tiên đào tạo các ngành nghề về kinh tế, thương mại, ngân hàng. Xuân Mai ưu tiên đào tạo các ngành về sư phạm …

Để có cơ sở nhanh chóng hình thành các cụm trường tại các đô thị vệ tinh và thúc đẩy quá trình di dời quy mô đào tạo từ khu vực nội đô ra bên ngoài cần phải đầu tư hệ thống các tuyến giao thông hướng tâm kết nối từ đô thị trung tâm ra các đô thị vệ tinh để giảm thời gian di chuyển qua lại.

  • Khu vực đô thị vệ tinh Sóc Sơn

Bố trí khu đại học tập trung tại khu vực phía Đông Nam với quy mô đất đai 600 – 650 ha, ngành nghề đào tạo dự kiến là kỹ thuật, công nghệ thông tin và đào tạo nghề để cung cấp nguồn nhân lực qua đào tạo cho khu vực phía Bắc và vùng công nghiệp dọc theo quốc lộ 18. Khu vực này sẽ xây dựng đồng bộ khu vực học tập, nghiên cứu, ký túc xá, cây xanh công viên thể dục thể thao . . .

  • Khu vực đô thị vệ tinh Sơn Tây

Bố trí các cụm trường tại khu vực phía Tây Bắc khu quy hoạch với quy mô đất đai 300 – 350 ha, quy mô đào tạo 4 – 5 vạn sinh viên. Ngành nghề đào tạo tại khu vực chủ yếu là văn hóa xã hội, sư phạm, du lịch kết hợp với hệ thống trường quân đội hiện có trên địa bàn tạo nên các cụm trường tập trung.

  • Khu vực đô thị vệ tinh Hòa Lạc

Bố trí khu đại học tập trung với nòng cốt là khu đại học quốc gia ( 1000ha), đại học công nghệ và đại học FPT tại khu công nghệ cao Hòa Lạc, và cụm trường tập trung tại khu vực phía nam của đường cao tốc Hòa Lạc – Hòa Bình. Hệ thống trường trong khu vực kết hợp với khu công nghệ cao và các trung tâm nghiên cứu góp phần tạo nên tính chất đô thị khoa học cho Hòa Lạc. Quy mô đất đai dự kiến khoảng 1100 – 1200 ha, quy mô đào tạo dự kiến 12 – 15 vạn sinh viên, ngành nghề đào tạo dự kiến là khoa học cơ bản, công nghệ, kỹ thuật, y dược và các nghiên cứu chuyên sâu. Trong đó dự án đại học quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc là công trình mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển của mô hình khu đại học tập trung.

  • Khu vực đô thị vệ tinh Xuân Mai

Bố trí cụm trường phân tán tại phía Bắc gắn với trục quốc lộ 6 và quốc lộ 21, quy mô dự kiến khoảng 100ha và khu đại học tập trung tại phía nam với quy mô dự kiến 500 – 600 ha. Quy mô đào tạo tại khu vực dự kiến 8 – 10 vạn sinh viên với ngành nghề đào tạo dự kiến là kinh tế, kỹ thuật, nông lâm nghiệp

  • Khu vực đô thị vệ tinh Phú Xuyên

Bố trí cụm trường cao đẳng dạy nghề kỹ thuật và nông lâm ngư nghiệp với diện tích 100 – 120 ha, quy mô đào tạo dự kiến 2 – 3 vạn sinh viên, cung cấp dịch vụ đào tạo cho vùng công nghiệp và vùng nông thôn phía nam thủ đô Hà Nội. Ngoài ra tại khu vực dự kiến sẽ hình thành tổ hợp y tế tập trung với quy mô 200 ha bao gồm đào tạo y dược, khám chữa bệnh, nghiên cứu và sản xuất y dược, quy mô sinh viên trong khu vực này sẽ được tính toán riêng

  • Khu vực thị trấn sinh thái Chúc Sơn

Bố trí cụm trường tập trung tại khu vực thị trấn hiện hữu với diện tích 150 – 200 ha, quy mô đào tạo dự kiến 2,5 - 3 vạn sinh viên, ngành nghề đào tạo về kỹ thuật, thủy lợi, giao thông, sư phạm thể dục thể thao.

  • Các thị trấn huyện lỵ: Dự kiến hình thành các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp 3 – 5 ha/ trường để hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trong vùng nông thôn.

8.2.5.2. Hệ thống giáo dục phổ thông

Hiện nay, mạng lưới các trường phổ thông phát triển không đồng đều, các trường trong nội thành cũ của Hà Nội đều bị quá tải. Trung bình toàn thành phố đạt 8 - 10 m2 đất/học sinh, khu vực 4 quận nội thành <6m2/học sinh (tiêu chuẩn quốc gia >15m2/hs).

a. Mục tiêu

Xây dựng hệ thống các trường phổ thông đáp ứng tiêu chuẩn giáo dục toàn diện: Trí-Đức-Thể-Mỹ. Đến năm 2020, tỷ lệ trường đạt tiêu chuẩn quốc gia >60%.

b. Định hướng hệ thống giáo dục phổ thông

Định hướng trong những năm tới, thực hiện Chương trình kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa các trường mầm non và phổ thông trên toàn địa bàn thành phố. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng các trường chất lượng cao ở các bậc học và cấp học. Xây dựng một số trường phổ thông đạt trình độ khu vực và quốc tế

  • Đối với khu vực nội đô, ngoài việc cải tạo và nâng cấp cơ sở vật chất các trường hiện có, tăng cường diện tích xây dựng trường thông qua các dự án tái đầu tư quỹ đất từ cải tạo khu chung cư cũ, chuyển đổi chức năng KCN, các trụ sở cơ quan...
  • Thực hiện rà soát lại toàn bộ quỹ đất khu vực nội đô như các quỹ đất công, đất trống chưa sử dụng và các quỹ đất tại các dự án đô thị bố trí làm trường học để đầu tư cơ sở trường lớp, đáp ứng yêu cầu về cơ sở đào tạo hiện nay.
  • Đối với các đô thị mới, kiểm soát chặt chẽ việc bố trí quỹ đất xây dựng trường học phổ thông theo tiêu chuẩn và quy chuẩn xây dựng hiện hành.

8.2.6.      Định hướng quy hoạch hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Hà Nội là một trong hai trung tâm y tế có qui mô lớn nhất nước, tập trung nhiều bệnh viện Trung ương, Bộ ngành. Tuy nhiên, mạng lưới bệnh viện tại Thủ đô hiện nay phân bố còn chưa hợp lý: Các bệnh viện tuyến Trung ương, Thành phố, nhất là các bệnh viện chuyên khoa có kỹ thuật cao chủ yếu tập trung ở khu vực nội thành. Trong khi đó nhiều khu vực đô thị mới đã hình thành còn thiếu các bệnh viện và cơ sở y tế phát triển tương xứng. Bệnh viện tuyến Trung ương bị quá tải trầm trọng, phải tiếp nhận số lượng lớn bệnh nhân các tỉnh phía Bắc  (nhiều bệnh viện công suất sử dụng giường bệnh đến 200%). Các bệnh viện tập trung vào khu vực trung tâm gây quá tải về hạ tầng đô thị, không có điều kiện phát triển mở rộng. Còn thiếu cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt là tuyến cơ sở: Chỉ tiêu số lượng giường bệnh trên quy mô dân số thấp (năm 2009 : 13 giường/ 10.000 dân).

a.  Quan điểm, nguyên tắc   

Phát triển cân đối, hài hòa giữa các tuyến; Tạo thuận lợi chuyển giao kỹ thuật, hợp tác về khám chữa bệnh, nghiên cứu đào tạo; Gắn kết hữu cơ giữa nghiên cứu- đào tạo và khám chữa bệnh;

Nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh của nhân dân, không phân biệt địa giới hành chính nhưng phân công rõ ràng về không gian phục vụ, tránh chồng chéo: Tuyến Trung ương phục vụ chủ yếu phạm vi Vùng, một phần phục vụ nhân dân Hà Nội; Tuyến Thành phố, quận huyện phục vụ dân cư trên địa bàn theo đặc điểm phân bố dân cư;

Đẩy mạnh xã hội hóa  trong lĩnh vực Y tế: Các bệnh viện Bộ ngành phục vụ cán bộ nhân viên trong ngành đồng thời góp phần phục vụ nhân dân; Nâng cao tỷ lệ giường bệnh ngoài công lập.

b. Mục tiêu:

  • Xây dựng hệ thống y tế Hà Nội hiện đại, hoàn chỉnh và hiệu quả; Phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao, đa dạng của nhân dân Thủ đô và nhân dân khu vực lân cận; Trở thành  trung tâm dịch vụ chất lượng cao khu vực phía Bắc, một trong những trung tâm y tế lớn của cả nước và dần tiến tới là một trung tâm y tế có uy tín ở khu vực và quốc tế.
  • Giảm tải các cơ sở khám chữa bệnh hiện nay tại Hà Nội; Giãn mật độ các bệnh viện Trung ương và Thành phố hiện đang tập trung trong Nội thành; Tạo sự phối hợp hoạt động giữa các bệnh viện Trung ương, Bộ ngành và Thành phố có hiệu quả, tránh chồng chéo, đảm bảo phát triển kỹ thuật chuyên sâu.

c. Chỉ tiêu và nhu cầu phát triển:

  • Chỉ tiêu về giường bệnh (tuyến thành phố và quận/ huyện/thị xã, gồm cả các bệnh viện ngoài công lập): Năm 2020: 20,5- 25 giường /10.000 dân; Năm 2030: 25- 30 giường /10.000 dân.

Chỉ tiêu về diện tích đất/giường bệnh: 120 m2 đất/giường bệnh.

  • Nhu cầu giường bệnh và quy mô đất xây dựng:

+ Nhu cầu giường bệnh: Năm 2020: Khoảng 16.400-20.000 giường; Năm 2030: Khoảng 25.000-30.000 giường.

+ Nhu cầu quy mô đất xây dựng:

Nhu cầu tới năm 2020 (so với 2010): 430 ha, gồm:

  • Khối Bệnh viện: Nhu cầu đất là 200 ha (Trung ương: 85 ha; Bộ ngành: 20 ha; Thành phố- bao gồm cả tư nhân: 95 ha)
  • Khối đào tạo: Nhu cầu đất là 160 ha (Trung ương: 100 ha; Thành phố: 60 ha)
  • Các khối khác: Nhu cầu đất là 70 ha (Y tế dự phòng, Công nghiệp Dược Trang thiết bị y tế…)

Nhu cầu tới năm 2030 (so với 2010): Nhu cầu đất là 660 ha, gồm:

  • Khối Bệnh viện: Nhu cầu đất là 350 ha (Trung ương:  120 ha; Bộ ngành: 30 ha; Thành phố - bao gồm cả tư nhân: 200 ha)
  • Khối đào tạo: Nhu cầu đất là 310 ha (Trung ương: 200 ha; Thành phố: 110 ha).

Nhu cầu tới năm 2050 (so với 2010): khoảng 1.000 ha.

d. Tiêu chí quy hoạch:

  • Tiêu chí di dời, chuyển đổi chức năng và xây dựng cơ sở mới tại địa điểm phù hợp đối với các bệnh viện:

Điều trị các bệnh truyền nhiễm, nằm trong khu vực mật độ dân cư quá dày đặc;

Có tính chất độc hại, mức độ lây nhiễm cao, lượng chất thải y tế lớn không có khả năng xử lý. Bệnh viện đa khoa có khoa lây không đủ điều kiện cách ly theo quy định.

Các cơ sở cũ được chuyển đổi thành các cơ sở nghiên cứu hoặc dịch vụ khám chữa bệnh chủ yếu phục vụ dân cư Đô thị trung tâm.

  • Tiêu chí xây dựng cơ sở 2 đối với các bệnh viện:

Nằm trong khu hạn chế phát triển, có mức độ gây quá tải về hạ tầng cao;

Quy mô quá nhỏ, không có điều kiện mở rộng và cải tạo để đáp ứng chỉ tiêu và quy mô giường bệnh;

Cơ sở có tính chất tạm bợ, không ổn định, không có điều kiện phát triển.

Có nhu cầu phát triển lớn cần quỹ đất lớn xây dựng tại khu vực phát triển mới của thành phố, cơ sở hiện tại chưa đầu tư xây dựng lớn.

Các cơ sở cũ được nâng cấp, cải tạo đảm bảo chỉ tiêu đất theo quy chuẩn xây dựng xây dựng, không mở rộng quy mô, chuyển đổi thành các cơ sở nghiên cứu hoặc dịch vụ khám chữa bệnh chủ yếu phục vụ dân cư Đô thị trung tâm.

  • Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện tuyến TW

Không xây dựng mới trong Đô thị trung tâm; Cách trung tâm thành phố trong bán kính từ 25 đến 30 km2;

Xây dựng tại các khu vực đầu mối giao thông và hành lang kinh tế cấp vùng và quốc gia nhằm thuận lợi cho các hoạt động mang tầm quốc gia và quốc tế;

Có không gian cảnh quan thoáng rộng, đảm bảo quỹ đất xây dựng, có khả năng liên kết với các cơ sở y tế lân cận có thể tận dụng trang thiết bị, cơ sở hạ tầng cũng như hỗ trợ trong trường hợp cần thiết;

Kết nối thuận lợi với Đô thị trung tâm, gần đường các quốc lộ chính để đảm bảo phục vụ cho nhân dân Thành phố cũng như các tỉnh thành lân cận khám bệnh và điều trị.

  • Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện tuyến Thành phố

Xây dựng gắn kết theo phân bố không gian các bệnh viện tuyến TW và tuyến quận/ huyện/ thị xã nhằm thuận lợi chuyển giao kỹ thuật giữa các tuyến và đảm bảo phục vụ thuận lợi cho nhân dân Thành phố.

  • Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện tuyến quận, huyện, thị xã

Mở rộng tại vị trí cũ và nâng cấp cơ sở vật chất; Xây dựng thêm cơ sở mới để phù hợp với thực tế phát triển:

Gần khu trung tâm của quận, huyện, thị xã; đảm bảo bán kính phục vụ cho dân cư trên địa bàn;

Thuận tiện liên hệ với trục đường liên huyện hoặc trục đường chính liên tỉnh đảm bảo thuận tiện cho người dân trong huyện đến khám và chữa bệnh.

  • Tiêu chí quy hoạch các cơ sở khám chữa bệnh tuyến xã, phường, thị trấn

Mở rộng tại vị trí cũ và nâng cấp cơ sở vật chất; Xây dựng thêm cơ sở mới để phù hợp với thực tế phát triển:

Nằm gần hoặc tại khu trung tâm của xã, phường, thị trấn và tập trung dân cư, đảm bảo bán kính phục vụ cho dân cư trên địa bàn;

Thuận tiện liên hệ với trục đường liên xã, đảm bảo thuận tiện cho người dân trong xã đến khám và chữa bệnh.

  • Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện tư nhân

Đối với quy mô nhỏ: ở ven các điểm dân cư có thể tranh thủ hạ tầng cơ sở cũng như các tiện ích xã hội; Phân bố tại các khu dân cư, đô thị mới ;

Đối với quy mô lớn: có tính chất địa điểm giống như bệnh viện tuyến trung ương, thành phố.

  • Tiêu chí quy hoạch các bệnh viện Bộ ngành

Xây dựng trên cơ sở sử dụng quỹ đất thuộc ngành quản lý, đảm bảo thuận lợi phục vụ chữa bệnh cho cán bộ công nhân viên thuộc ngành và kết hợp phục vụ nhân dân Thành phố.

e. Định hướng phát triển mạng lưới

Phát triển các tổ hợp công trình y tế đa chức năng, chất lượng cao, tầm cỡ quốc tế (nghiên cứu, đào tạo, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, sản xuất dược và trang thiết bị y tế...) nhằm hội nhập quốc tế, tiếp cận khoa học kỹ thuật tiên tiến và cũng là các động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các đô thị vệ tinh; Phát triển mạng lưới y tế theo phân cấp tầng bậc từ Trung ương, thành phố đến quận huyện, phường xã theo đặc điểm phân bố dân cư và định hướng phát triển không gian quy hoạch, bảo đảm cho mọi người dân tiếp cận một cách thuận lợi với các dịch vụ khám, chữa bệnh tại các tuyến và không phân biệt địa giới hành chính; Tăng cường và hoàn thiện trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội; Xây dựng một số bệnh viện đa khoa và chuyên khoa hiện đại, trình độ cao đạt đẳng cấp quốc tế. Nâng cấp và hiện đại hóa y tế tuyến cơ sở; Cải tạo nâng cấp hệ thống cơ sở dịch vụ y tế hiện nay trong khu vực trung tâm nội thành và các quận huyện nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh trước mắt của nhân dân Thủ đô; Từng bước thực hiện việc di chuyển các cơ sở điều trị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm tại khu vực nội thành ra khu vực thích hợp; Phát triển hệ thống y tế tại các khu vực phát triển đô thị mới, các khu vực nông thôn nhằm đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh, bán kính phục vụ và nâng cao năng lực y tế cộng đồng; Khuyến khích phát triển bệnh viện tư nhân, các khoa, các phòng bán công trong bệnh viện công lập, các phòng khám đa khoa tư nhân ở ngoại thành và các dịch vụ y tế tư nhân sử dụng công nghệ y học cao, hiệu quả khám chữa bệnh lớn, không gây ô nhiễm môi trường.

f. Quy hoạch hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh

  1. Chia sẻ với các tỉnh lân cận về nhu cầu tăng giường bệnh phục vụ cấp vùng để giảm tải cho Hà Nội thông qua việc xây dựng các bệnh viện đa khoa cấp vùng và các trung tâm y tế chất lượng cao quy mô vùng tại Sơn La (vùng Tây Bắc), Thái Nguyên (vùng Đông Bắc), Hải Phòng (Bắc vùng duyên hải Bắc Bộ), Nam Định (Nam vùng duyên hải Bắc Bộ), Hải Dương ( Đông vùng Thủ đô Hà Nội), Vĩnh Yên (Tây Bắc vùng Thủ đô Hà Nội và một số tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc), Phủ Lý (Nam vùng thủ đô Hà Nội và một số tỉnh Bắc Trung Bộ) và Hòa Lạc (vùng Tây Hà Nội và Hòa Bình);
  2. Xây dựng 05 tổ hợp công trình y tế đa chức năng, chất lượng cao, tầm cỡ quốc tế (tổ hợp công trình y tế với các chức năng nghiên cứu, đào tạo, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, sản xuất dược và trang thiết bị y tế...) tại khu vực Gia Lâm – Long Biên (khoảng 50 ha), Hòa Lạc (khoảng 200ha) ; Sóc Sơn (khoảng 80-100ha) ; Phú Xuyên (khoảng 200ha), Sơn Tây (khoảng 50ha). Ưu tiên sử dụng quỹ đất tại các tổ hợp công trình y tế đa chức năng để xây dựng các cơ sở mới cho các bệnh viện chuyên sâu tuyến Trung ương và Thành phố hiện đang tập trung trong Nội thành. Cụ thể:
  • Khu vực phía Bắc : Bố trí tại Sóc Sơn (khoảng 80- 100 ha).
  • Các công trình thuộc Trung Ương: Nhu cầu 60 ha, dự kiến xây dựng BV Mắt TW, Viện các bệnh nhiệt đới và truyền nhiễm QG, BV Quốc tế kỹ thuật cao và Trung tâm đào tạo kỹ thuật viên châm cứu...
  • Các công trình thuộc Thành phố: Nhu cầu 35 ha
  • Công lập (25 ha): Dự kiến xây dựng 01 bệnh viện đa khoa, 04 bệnh viện chuyên khoa và 02 cơ sở đào tạo.
  • Tư nhân (10 ha)
  • Các công trình thuộc các Bộ Ngành : Nhu cầu 05 ha
  • Khu vực phía Nam : Bố trí tại Phú Xuyên (khoảng 200 ha)
  • Các công trình thuộc Trung Ương: Nhu cầu 120ha, dự kiến xây dựng Viện Pháp y Tâm thần, BV  Lao & Bệnh phổi TW, Viện Dinh dưỡng, Viện kiểm nghiệm ATVS thực phẩm, Viện Dược liệu, Trung tâm bảo tồn giống cây thuốc...
  • Các công trình thuộc Thành phố: Nhu cầu 70 ha

Công lập (50 ha) : Dự kiến xây dựng 01 bệnh viện đa  khoa, 02 bệnh viện chuyên khoa và 02 cơ sở đào tạo.

Tư nhân (20 ha) 

  • Các công trình thuộc các Bộ Ngành: Nhu cầu 10 ha
  • Khu vực phía Đông : Bố trí tại Gia Lâm (khoảng 50 ha).
  • Các công trình thuộc Trung Ương: Nhu cầu 30ha, dự kiến xây dựng BV Việt Đức, Viện Tim mạch Quốc gia, Bệnh viện Lão khoa TW, Trường cao đẳng nghề sửa chữa thiết bị y tế.
  • Các công trình thuộc Thành phố: Nhu cầu 20 ha

Công lập (15 ha) : Dự kiến xây dựng 01 bệnh viện đa khoa, 01 bệnh viện chuyên khoa và 02 cơ sở đào tạo.

Tư nhân (5 ha) 

  • Khu vực phía Tây : Bố trí tại Hòa Lạc (khoảng 200 ha).
  • Các công trình thuộc Trung Ương: Nhu cầu 120ha, dự kiến xây dựng Bệnh viện Bạch Mai, Viện RHM Quốc gia, Bệnh viện Phụ sản TW, Trường ĐH Dược Hà Nội, Trường ĐH Y HN, BV Tai mũi họng và Viện vệ sinh dịch tễ TW...
  • Các công trình thuộc Thành phố: Nhu cầu 70 ha

Công lập (50 ha): Dự kiến xây dựng  01 bệnh viện đa khoa, 02 bệnh viện chuyên khoa, 01 cơ sở đào đạo và 01 cơ sở nghiên cứu.

Tư nhân (20 ha).

  • Các công trình thuộc các Bộ Ngành : Nhu cầu 10 ha
  • Khu vực phía Tây Bắc : Bố trí tại Sơn Tây (khoảng 50 ha).
  • Các công trình thuộc Trung Ương: Nhu cầu 30ha, dự kiến xây dựng BV Hữu Nghị, BV Da liễu TW, Viện Y học lao động và VSMT, Học viện Y dược học cổ truyền...
  • Các công trình thuộc Thành phố: Nhu cầu 20 ha.

Công lập (15 ha): Dự kiến xây dựng 01 bệnh viện đa khoa, 02 bệnh viện chuyên khoa và 01 cơ sở đào tạo.

Tư nhân (5 ha).

  1. Khu vực đô thị trung tâm:

Cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị các cơ sở hiện có nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều kiện phục vụ.

Chuyển đổi chức năng và xây dựng cơ sở mới quy mô lớn hơn cho các bệnh viện chuyên sâu trong nội thành tại các tổ hợp công trình y tế đa chức năng theo quy hoạch trên địa bàn Hà Nội. Các cơ sở cũ được chuyển đổi thành các cơ sở nghiên cứu, y tế dự phòng  hoặc dịch vụ khám chữa bệnh, chủ yếu phục vụ dân cư Đô thị trung tâm.

Di chuyển các bệnh viện điều trị bệnh truyền nhiễm khỏi khu vực nội đô, nơi đông đúc dân cư đến khu vực thích hợp. Các cơ sở cũ được chuyển đổi thành các cơ sở nghiên cứu, y tế dự phòng  hoặc dịch vụ khám chữa bệnh, chủ yếu phục vụ dân cư Đô thị trung tâm; Lộ trình thực hiện dự kiến trong vòng 10 năm.

  1. Mạng lưới trung tâm y tế khu vực (Nhu cầu đến năm 2020: 250 ha, đến năm 2030 : 400 ha; Phân bổ 18- 20 khu vực, mỗi khu vực từ 10- 20 ha- riêng Đan Phượng, Thạch Thất- Quốc Oai và Vân Đình mỗi khu vực khoảng 50 ha): Xây dựng mạng lưới bệnh viện đa khoa khu vực (tuyến 1) đạt tiêu chuẩn hạng III tại các khu, cụm dân cư quận, huyện và đô thị vệ tinh căn cứ theo quy mô dân số từng khu vực như: Sóc Sơn, Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên, Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh, Gia Lâm, Quốc Oai, Chúc Sơn, Kim Bài, Vân Đình…; Sử dụng một phần quỹ đất tại các khu vực này để bố trí các dự án bệnh viện và cơ sở đào tạo của Thành phố đã được thống nhất, quy hoạch  (đặc biệt các dự án bệnh viện tại Mê Linh, Đan Phượng, Thạch Thất- Quốc Oai, Gia Lâm và Phú Xuyên).
  2. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho mạng lưới y tế xã, phường; Quan tâm phát triển mạng lưới y tế cấp trung tâm cụm xã nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của dân cư nông thôn, nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ y tế thiết yếu.
  3. Phát triển các bệnh viện ngoài công lập, phấn đấu đến năm 2020-2030 đạt tỷ lệ 20- 30% giường bệnh ngoài công lập (khoảng 6.000- 8.500 giường); Nhu cầu đất khoảng 80 ha: Khuyến khích đầu tư các dự án bệnh viện có qui mô trung bình từ 200 - 400 giường vào các khu, cụm dân cư, đô thị phát triển mới trên toàn địa bàn Hà Nội; Các dự án bệnh viện có qui mô lớn hơn 500 giường và đạt tiêu chuẩn quốc tế đầu tư vào các tổ hợp công trình y tế đa chức năng theo quy hoạch trên địa bàn Hà Nội.

g. Lộ trình thực hiện

Hoàn thành chương trình di dời các bệnh viện điều trị bệnh truyền nhiễm trong nội thành và các khu vực tập trung dân cư đến các khu vực thích hợp theo quy hoạch;

Triển khai chương trình chuyển đổi chức năng và xây dựng cơ sở mới cho một số bệnh viện TW và Thành phố tập trung trong nội thành;

Hoàn thành các dự án xây dựng bệnh viện Thành phố tại Mê Linh, Đan Phượng, Thạch Thất- Quốc Oai, Gia Lâm và Phú Xuyên;

Hoàn thành các chương trình cải tạo nâng cấp bệnh viện và trung tâm y tế các tuyến

Triển khai dự án tổ hợp công trình y tế tại Sóc Sơn, Hòa Lạc, Sơn Tây, Gia Lâm.

Hoàn thành chương trình chuyển đổi chức năng và xây dựng cơ sở mới cho một số bệnh viện TW và Thành phố tập trung trong nội thành;

Hoàn thành các chương trình xây dựng mới bệnh viện tuyến quận, huyện, thị xã và trung tâm y tế tuyến xã, phường, thị trấn;

Triển khai dự án tổ hợp công trình y tế tại Phú Xuyên.

8.2.7.      Định hướng quy hoạch hệ thống công trình văn hóa

Hệ thống các công trình văn hoá, lịch sử luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân đô thị và được xem là biểu tượng của nền văn minh đô thị. Các công trình văn hóa lớn thường là công trình vĩnh cửu, vượt qua giới hạn thời gian sử dụng để sống cùng lịch sử đô thị.

Ở Thủ đô Hà Nội, hệ thống các công trình văn hóa rất đa dạng và phong phú, nhiều công trình văn hóa đã trở thành biểu tượng của đô thị, như: Nhà hát lớn thành phố, Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô, các bảo tàng (lịch sử, nghệ thuật,...), trung tâm hội nghị quốc gia, các rạp múa rối nước,..v..v.... Đóng góp vào sự đa dạng của hệ thống công trình văn hóa còn có hàng ngàn các công trình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn Thành phố.

Tuy nhiên, đến nay nhiều công trình đang có xu hướng xuống cấp, bị che khuất bởi các hoạt động thương mại khác. Thậm chí 1 số công trình văn hóa bị chuyển chức năng sử dụng đất sang dịch vụ công cộng, nhà hàng ăn uống do tính chất sử dụng của các công trình này không phù hợp với điều kiện mới theo cơ chế thị trường. Dự án Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô - Ngải Sơn đã được triển khai từ nhiều năm, đến nay mới dừng lại ở hạng mục xây dựng hạ tầng kỹ thuật và mới khai trương Làng các dân tộc Việt Nam.

a. Quan điểm

Phát triển mạng lưới công trình văn hóa đa dạng và có giá trị tiêu biểu nhất của cả nước, tương xứng với Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Tiếp tục tạo nên hình ảnh văn hóa mới cho Hà Nội, thông qua mạng lưới các công trình văn hóa gắn với các các khu cụm dân cư, các trung tâm đô thị và các không gian cảnh quan đặc trưng của Thủ đô.

b. Mục tiêu

Tiếp tục xây dựng Thủ đô Hà Nội là tượng văn hóa của cả nước và vùng Đồng bằng sông Hồng. Xứng tầm với truyền thống ngàn năm văn hiến, danh hiệu Thủ đô anh hùng, thành phố vì Hòa Bình.

Xây dựng mạng lưới các công trình văn hóa đáp ứng toàn diện yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân Hà Nội, cả nước và khách quốc tế.

c. Định hướng phát triển mạng lưới

  • Xác định lại các mô hình thiết chế văn hóa từ cấp trung ương đến cấp quận huyện, thị xã, cấp phường xã theo xu hướng gắn kết chặt chẽ với các công trình hiện trạng, di tích lịch sử và các công trình thương mại dịch vụ mới.
  • Đối với các công trình văn hóa tiêu biểu của Thủ đô: Dành vị trí thích hợp trong trung tâm đô thị hoặc nơi có cảnh quan đẹp để xây dựng; tăng chỉ tiêu đất xây dựng công trình.
  • Xác định các lộ trình cải tạo, chỉnh trang và xây dựng mới công trình văn hóa nhằm thiết lập quy hoạch chuyên ngành co mạng lưới hệ thống thiết chế văn hóa Thủ đô.

d. Định hướng cụ thể

d1. Cải tạo chỉnh trang các trung tâm văn hóa hiện hữu trong khu vực nội đô lịch sử

Đối với các công trình văn hóa cấp thành phố và quốc gia như bảo tàng, nhà hát..., cải tạo chỉnh trang khuôn viên bên trong hàng rào công trình. Tạo lập các hướng mở thuận tiện đến các khu dân cư và các tuyến giao thông chính thành phố.

Đối với trung tâm sinh hoạt văn hóa cấp quận: Đánh giá lại hiệu quả sử dụng và nhu cầu hưởng thụ văn hóa mới của người dân trong những năm tới để có hướng cải tạo, nâng cấp và mở rộng các trung tâm văn hóa hiện hữu, tránh lãng phí. Biến các trung tân văn hóa này thành không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng hấp dẫn và có ý nghĩa. Trong khu vực nội đô Hà Nội, bổ sung quỹ đất xây dựng trung tâm văn hóa cấp quận từ chuyển đổi đất công nghiệp, công sở cơ quan, trường đại học.  

d2. Xây dựng các trung tâm văn hoá cấp quốc gia, cấp thành phố

-Xây mới hệ thống trung tâm văn hoá dọc, : tổ, các . Không gian sinh hoạt văn hóa được xây dựng mới hợp ctrình công đa chức năng và không gian cây xanh công viên.

-Trung tâm văn hóa , x văn hóa Thủ đô như: , quảng trường văn hóa hướng ra hồ Tây... khoảng 50-70ha.

  • Xây dựng Trung tâm văn hóa quốc gia trên trục Hồ Tây – Ba Vì: Đoạn từ vành đai xanh sông Nhuệ đến đường vành đai 4. Dành quỹ đất khoảng 200-250 ha xây dựng mới Quảng trường Hòa Bình; trung tâm giao lưu văn hóa quốc gia, quốc tế (nơi tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo, triển lãm giới thiệu văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới); trung tâm nghệ thuật đương đại; Bảo tàng cấp quốc gia, cung biểu diễn nghệ thuật quốc gia, cung văn hóa cấp quốc gia, cung hòa nhạc quốc gia, cung triển lãm, hệ thống quảng trường lớn kết hợp tượng đài...

Đoạn qua từ đường vành đai 4 đến Hòa Lạc, tổ chức các không gian văn hóa gắn kết với công viên sinh thái nông nghiệp, tạo điều kiện tiếp cận với các công trình văn hóa tiêu biểu trong khu vực hành lang xanh. Đây là vùng có nhiều di tích văn hóa, đình chùa, làng mạc đặc trưng của vùng văn hóa Xứ Đoài.

 Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam vị trí kết thúc trục Hồ tây - Ba Vì: tiếp tục hoàn thiện và phát triển thành trung tâm giao lưu, nghiên cứu nền văn hóa các dân tộc trên toàn quốc, với mọi hình thức mô phỏng cuộc sống người dân Việt Nam trên mọi vùng miền của tổ quốc. Bên cạnh đó có thể kết hợp khai thác dịch vụ du lịch, nhằm tăng thêm sức thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Khoảng 1000 ha

Phát triển trung tâm nghiên cứu và học tập, trung tâm giao lưu, hợp tác với các nền văn hóa trên thế giới và trong khu vực.

  • Bảo tồn khu vực văn hóa Sơn Tây

Bảo tồn thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, Đình chùa truyền thống và các danh lam thắng cảnh lưu giữ dấu ấn lịch sử văn hóa khu vực.

Trung tâm đô thị Sơn Tây, phát triển các bảo tàng, trung tâm lưu giữ thông tin văn hóa xứ Đoài, các lễ hội truyền thống kết hợp với các hoạt động, lưu giữ lại từng giai đoạn phát triển của nền văn hóa dân gian đã tồn tại từ lâu đời. quy mô dự kiến 50-70 ha gồm Bảo tàng truyền thống, nhà văn hóa cấp thành phố, trung tâm nghiên cứu văn hóa Phương Đông, thư viện, trung tâm trường quay, trường học và câu lạc bộ dành cho chức năng lưu truyền văn hóa truyền thống...

  • Xây dựng mới trung tâm văn hóa trong các đô thị vệ tinh và khu vực mở rộng của đô thị trung tâm. Tùy thuộc vào tính chất và dân số đô thị để bố trí trung tâm văn hóa có quy mô phù hợp.

-Nâng cấp và xây mới hệ thống những công trình văn hóa theo mô hình trung tâm văn hóa liên hoàn gồm: Nhà văn hóa, nhà hát, rạp chiếu phim, thư viện...  gắn với các hoạt động TDTT, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật cộng đồng, đăc biệt là gắn với hệ thống các công trình văn hóa tín ngưỡng truyền thống. Lồng ghép các yếu tố văn hóa trong  từng hộ gia đình, từng cụm dân phố ( tạo nên quần thể văn hóa thực sự trong các khu ở.

-Liên kết với các khu cụm du lịch, hình thành tuyến du lịch - văn hóa tạo điều kiện cho người dân các tỉnh trong cả nước và quốc tế tham gia các hoạt động văn hóa xã hội của thành phố.

d3. Tạo dựng các trục văn hóa:

-Trục văn hóa Đông Tây:

Thiết lập trục văn hóa lịch sử với ngôn ngữ hình ảnh của kinh đô Thăng Long ngàn năm văn hiến.

Thiết lập trục giao lưu văn hóa quốc tế với các công trình thiết chế văn hóa cấp quốc gia và thành phố như: Cung hòa nhạc quốc gia, Cung biểu diễn nghệ thuật, Cung triển lãm, Cung múa rối Thăng Long...

-Trục văn hóa phía Bắc: kết nối từ khu vực trung tâm tới các trung tâm văn hóa thuộc khu vực phía Bắc của Hà Nội như: Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh, trong đó tập trung tại một số trọng điểm như:

Văn hóa tâm linh: thành Cổ Loa, đền Sóc, đền Hai Bà Trưng.

Thiết chế văn hóa: Các trung tâm văn hóa, nhà hát kịch, bảo tàng, rạp chiếu phim…

-Trục văn hóa phía Đông: Kết nối khu vực trung tâm với các trung tâm văn hóa thuộc khu vực phía Đông của Hà Nội như: Long Biên, Gia Lâm, trong đó

Văn hóa làng nghề: tập trung tại làng nghề gốm sứ Bát Tràng và các trung tâm văn hóa cấp thành phố.

Thiết chế văn hóa: Các trung tâm văn hóa, nhà hát kịch, bảo tàng, rạp chiếu phim… cấp thành phố.

-Trục văn hóa phía Nam: kết nối từ khu vực trung tâm tới các trung tâm văn hóa thuộc khu vực phía Nam của Hà Nội như Hương Sơn, Thường Tín

Văn hóa tâm linh: Chùa Hương, đền Dầm – Lộ.

Văn hóa làng nghề: Khảm trai, mây, tre đan, nón, thêu, điêu khắc, cỏ tế..

Thiết chế văn hóa: Các trung tâm văn hóa, nhà hát kịch, bảo tàng, rạp chiếu phim… cấp thành phố.

-Trục văn hóa phía Tây: là trục văn hóa kết nối từ khu vực trung tâm của Hà Nội về phía Tây như: Ba Vì, Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai

Văn hóa tâm linh: Thành cổ, đền Và, chùa Thầy , chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Trầm…

Văn hóa làng nghề: Thêu, tạc tượng, lụa, khảm trai, quạt vác, giò chả, điêu khắc…

Thiết chế văn hóa: Các trung tâm văn hóa, nhà hát kịch, bảo tàng, rạp chiếu phim… cấp thành phố.

d4. Quy hoạch hệ thống bảo tàng tại Thủ đô:

Xây mới hệ thống bảo tàng cấp quốc gia và cấp thành phố như: Bảo tàng lịch sử quốc gia Việt Nam (trên cơ sở bảo tàng lịch sử Việt Nam và bảo tàng Cách mạng Việt Nam), bảo tàng cách mạng Việt Nam, Bảo tàng nghệ thuật Châu Á hoặc Bảo tàng nghệ thuật Phương Đông, Bảo tàng lịch sử tự nhiên Việt Nam, Bảo tàng nghệ thuật đương đại, Bảo tàng các dân tộc trên thế giới…

Xây mới một số bảo tàng chuyên ngành như: Bảo tàng văn học Việt Nam; Bảo tàng Nghệ thuật truyền thống Việt Nam; Bảo tàng Giáo dục Việt Nam.. cùng nhiều bảo tàng chuyên đề cấp quốc gia và thành phố trên các trục kết nối văn hoá và các cụm trung tâm văn hoá lớn cấp quốc gia: Bảo tàng múa rối nước, Bảo tàng gốm sứ, Bảo tàng dệt truyền thống ...

Khuyến khích hình thành các bảo tàng chuyên đề gắn với các trường đại học (Y học, Sinh vật học, Nông nghiệp, Kiến trúc…).

Hoàn thiện xây dựng bảo tàng Hà Nội

Hình thành và phát triển bảo tàng tư nhân: Bảo tàng cổ vật Thăng Long (Sưu tập Phan Đình Nhân).

Những bảo tàng đang được đầu tư nâng cấp: Bảo tàng hàng không Việt Nam, Bảo tàng bưu điện Việt Nam, Bảo tàng Xi măng Việt Nam. Hoàn thiện xây dựng bảo tàng Hà Nội.

Tiếp tục đầu tư nâng cấp những bảo tàng hiện có như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng công an nhân dân, Bảo tàng phụ nữ Việt Nam…

d5. Quy hoạch hệ thống công trình biểu tượng công cộng (tượng đài, tượng đường phố, tranh tường nghệ thuật lớn)

Xây mới các quảng trường văn hóa mới gắn với hệ thống tượng đài mang tích lịch sử nghìn năm Thăng Long. Tạo những tượng đài mang tính nghệ thuật cao kết hợp với các không gian công cộng, các không gian công viên vườn hoa, khu vực vui chơi giải trí.. Xây dựng công viên, Tượng đài thành phố vì hòa bình tại Từ Liêm; Các công trình văn hóa tượng đài, phù điêu… về sự kiện Cách mạng tháng 8, quận Hoàn Kiếm. Tượng đài chiến thắng Cầu Giẽ tại Phú Xuyên; Tượng đài Nguyễn Trãi tại Hà Đông; Tượng đài chiến thắng B52; Khuyến kích nhân rộng mô hình tranh tường lớn mang tính nghệ thuật cao như Con đường gốm sứ dọc đê sông Hồng....

Xây dựng đài Độc Lập biểu tượng cho nền độc lập của dân tộc, việc lựa chọn vị trí của tượng đài sẽ được xác định cụ thể ở giai đoạn sau trên cơ sở xem xét các tiêu chí gắn với giá trị các lịch sử, văn hóa, với trung tâm Hà Nội, đảm bảo là công trình văn hóa và nghệ thuật hiện đại tiêu biểu cấp Quốc gia.

 

8.2.8.      Định hướng quy hoạch hệ thống thể dục thể thao

Trên cơ sở cập nhật và tiếp thu đề án Quy hoạch Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể thao quốc gia đến năm 2020 (Bộ văn hóa, thể thao và du lịch) và nghiên cứu của nhóm quy hoạch chung, hiện trạng Hà Nội dựa nhiều các công trình thể thao cơ bản phần lớn được xây dựng và phát triển từ thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước như: trung tâm tập huấn thể thao quốc gia (Nhổn -Từ Liêm), Khu liên hiệp thể thao quốc gia (Mỹ Đình - Từ Liêm), Khu liên hợp thể thao Trịnh Hoài Đức, Câu lạc bộ TDTT quân đội (Ba Đình), Câu lạc bộ thể thao Ba Đình, Tổ hợp thể thao sinh viên Bách Khoa (quận Hai Bà Trưng), Trung tâm đào tạo năng khiếu thể thao Quần Ngựa (Ba Đình), Khu liên hợp thể thao thương mại (quận Hai Bà Trưng), Tổ hợp thể thao Quán Thánh (Ba Đình), Trung tâm TDTT Công an nhân dân (Thanh Liệt – Thanh Trì), Trung tâm thể thao thành phố Hà Đông, Hệ thống sân bãi TDTT trong các học viện, trường đại học, Hệ thống sân bãi TDTT ở các xã: Phú Lương, Phú Lãm, Yên Nghĩa, Văn Khê, Văn Mỗ… khoảng 10 cơ sở, trung tâm thể thao thành Phố Sơn Tây. Đa số được xây dựng từ rất lâu, phân bố không đồng đều, chất lượng kém, trang thiết bị lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu tổ chức thi đấu cấp quốc gia và thành phố. Quy hoạch xây dựng các khu đô thị chưa quan tâm dành quỹ đất cho cây xanh, thể thao một cách đầy đủ.

a. Quan điểm

Phát triển mạng lưới TDTT hiện đại, hoàn chỉnh, đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia, tương xứng với các nước trong khu vực và làm điểm đến cho các sự kiện lớn trong thể thao quốc tế.

b. Mục tiêu

Xây dựng hệ thống các công trình thể dục thể thao có tầm cỡ quy mô lớn, làm tiền đề phát triển cơ sở vật chất cho ngành thể thao nước nhà và đảm bảo đáp ứng cho mọi hoạt động thi đấu có quy mô lớn cấp quốc gia và cấp thành phố.

c. Định hướng chung

Các cơ sở vật chất thể thao cấp Quốc gia: Hoàn thiện trung tâm thể thao quốc gia Mỹ Đình, xây mới khu thể thao Olympic phía Bắc sông Hồng phục vụ ASIAD hoặc Olympic trong tương lai khoảng 200ha. Các cơ sở vật chất thể thao cấp Thành phố và khu vực Cải tạo và nâng cấp các cơ sở TDTT hiện có.

Xây mới: Trung tâm thể thao dưới nước Hồ Tây (5ha), Trung tâm giải trí thể thao cảm giác mạnh: loại hình thể thao cảm giác mạnh gắn với công viên giải trí lớn của thủ đô, Trung tâm thể thao vùng phía Bắc – Mê Linh (20ha), Sóc sơn (15-20ha), Trung tâm thể thao vùng phía Tây – Sơn Tây (20ha), Hà Đông (10-15ha), Trung tâm thể thao vùng phía Nam – Phú Xuyên (20ha), Trung tâm thể thao địa hình Viên Nam-Ba Vì: loại hình leo núi, tàu lượn, nhảy dù, xe địa hình, Xây dựng tổ hợp thể thao có đua ngựa, đua xe công thức I…

Tăng cường xây dựng các công trình thể thao tại các trường học, các điểm dân cư. Phát triển đa dạng các loại hình thể thao quần chúng bằng cách thiết lập các sân bãi thể thao, hồ bơi… trong các khu đô thị mới.

Xây dựng bổ sung, nâng cấp các công trình thể thao cấp quận huyện, sân thể thao xã phường, đơn vị ở. Khai thác quỹ đất từ việc di chuyển các cơ sở công nghiệp trong khu vực nội thành cũ, ưu tiên cho công trình thể thao, công cộng, hạ tầng xã hội.

 

IV.        ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

9.1.            Tổng quan chung

Thực trạng khu vực nông thôn Hà Nội là toàn bộ địa bàn lãnh thổ các huyện, xã thuộc phạm vi lãnh thổ hành chính Thủ đô Hà Nội. Sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp cho khu vực đô thị Hà Nội đặc biệt là hoa, rau xanh và các sản phẩm từ chăn nuôi. Sản xuất CN-TTCN khu vực nông thôn Hà Nội trong những năm vừa qua khá phát triển và phát triển đều khắp trong các huyện, trong đó chủ yếu là sản xuất làng nghề. Sản xuất dịch vụ khu vực nông thôn Hà Nội mặc dù có tiềm năng nhưng chưa phát triển mạnh.

Nông thôn Hà nội hiện nay (năm 2010) chiếm 58% về dân số và chiếm 70% tổng diện tích tự nhiên. Đến năm 2030, dân số nông thôn chiếm 32% dân số Thủ đô.  Nông thôn Hà Nội luôn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, không gian và phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô. Ngoài nhiệm vụ đóng góp trong phát triển kinh tế chung, khu vực nông thôn Hà Nội còn phải đảm nhận nhiệm vụ hết sức quan trọng là tạo ra môi trường sống tốt cho đô thị Hà Nội.

Do đô thị hóa mạnh mẽ và lan rộng, nên phát triển dân cư khu vực nông thôn Hà Nội hiện đang trong tình trạng phát triển thiếu định hướng, mang nặng tính tự phát, không kiểm soát được quá trình phát triển. Hệ thống công trình công cộng khu vực nông thôn Hà Nội nhìn chung khá tốt so với các khu vực nông thôn khác trong cả nước, nhưng chưa đạt yêu cầu đối với một khu vực dân cư thuộc Thủ đô Hà Nội.

9.2.            Những vấn đề cần giải quyết

  • Vấn đề dân cư lao động: Dân cư và lao động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số của Hà Nội hiện nay. Tuy nhiên khu vực nông thôn không đáp ứng đủ việc làm và thu nhập cho các hoạt động sinh sống. Phần lớn lao động phải di chuyển vào trung tâm thành phố để tìm kiếm việc làm, gây khó khăn cho công tác quản lý và thực hiện các chính sách. Quá trình đô thị hóa thu hẹp quỹ đất sản xuất sẽ tiếp tục làm gia tăng khó khăn cho vấn đề giải quyết việc làm cho lao động trong nông thôn.
  • Vấn đề đô thị hóa: Đô thị hóa thiếu kiểm soát và lan tỏa hiện nay tạo nên môi trường không ổn định cho vùng nông thôn, đặc biệt là tại các khu vực giáp ranh đô thị. Nhiều vấn đề phát sinh của đô thị hóa hiện chúng ta chưa có cơ chế kiểm soát phát triển phù hợp. Nhà ở trong nông thôn đang phát triển tự phát theo mô hình nhà chia lô xen cấy như đô thị, thiếu bản sắc, nhưng hạ tầng thì không có sự chuẩn bị tương ứng. Vì vậy định hướng về không gian, phạm vi và tính chất cho đô thị hóa là rất cần thiết để có kiểm soát. Đặc biệt là hạ tầng trong nông thôn
  • Vấn đề môi trường: Môi trường trong vùng nông thôn đang bị phá vỡ nghiêm trong do bản thân hoạt động sản xuất trong nông thôn và do các đô thị, khu công nghiệp ở đầu nguồn nước, hướng gió tác động vào. Hoạt động trong vùng nông thôn làm phát sinh các nguy cơ phá vỡ sự cân bằng và phát triển không bền vững.
  • Vấn đề văn hóa, lối sống: Quá trình mở rộng thủ đô Hà Nội cũng đặt vùng nông thôn rộng lớn trong địa bàn thủ đô trước câu hỏi là phải phát triển như thế nào? Trong đó, văn hóa lối sống nói chung bị biến dạng khá nhanh, cộng đồng làng xã không còn giữ được nếp sống như trước đây. Nhiều tệ nạn xã hội tại các vùng ven đô thị phát sinh, nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương. Giải quyết các vấn đề về văn hóa lối sống đóng vai trò quan trọng để phát triển thủ đô trở thành “ Xanh – Văn Hiến – Văn Minh – Hiện Đại”
  • Vấn đề quản lý phát triển vùng nông thôn: Nông thôn Hà Nội nói riêng và nông thôn cả nước nói chung hiện rất thiếu các công cụ kiểm soát phát triển. Hiện nay chủ yếu mới dừng lại ở đất đai, các chế tài cho kiểm soát về xây dựng, hạ tầng, môi trường, văn hóa hiện gần như không có và mất cân đối so với khu vực đô thị. Trong điều kiện chịu các tác động phát triển là như nhau đã dẫn tới vùng nông thôn phát triển không thể kiểm soát như hiện nay. Cần sớm có những ban hành cụ thể các công cụ quản lý để định hướng sự phát triển trong vùng nông thôn phù hợp với Định hướng quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội.

9.3.            Nguyên tắc phát triển

  • Phát triển nông thôn Hà Nội theo đặc trưng riêng của nông thôn trong thủ đô về mọi phương diện cơ sở vật chất, văn hóa lối sống, lao động việc làm và môi trường sản xuất.
  • Phát triển cân bằng và hài hòa giữa đô thị và nông thôn. Hạn chế tối đa sự phân hóa giàu nghèo và điều kiện sống.
  • Hình thành các khu vực phát triển ổn định và ban hành các công cụ quản lý phát triển cụ thể cho khu vực nông thôn.
  • Từng bước chuyển dịch nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sản xuất hàng hóa chất lượng cao, cung ứng các sản phẩm cho nhu cầu của thủ đô.
  • Phát triển nông thôn nhằm bảo tồn được các giá trị cảnh quan, văn hóa lối sống và di sản, di tích trong vùng nông thôn
  • Khắc phục được các vấn đề môi trường trong nông thôn hiện nay.

9.4.            Định hướng chung

Phát triển nông thôn Hà Nội theo mô hình “Nông thôn mới” trong đô thị đặc biệt, tạo ra hàng lang xanh-môi trường sống tốt cho người dân thủ đô. Thực hiên chiến lược “hiện đại hóa nông thôn Hà Nội” để thu hẹp khoảng cách giữa khu vực đô thị và nông thôn bằng các biện pháp:

Hà Nội đạt 70% số xã, thị trấn đạt chuẩn (bộ tiêu chí) nông thôn mới (cả nước là 50%). Đặc biệt trong bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới của Hà Nội đã xây dựng một số chỉ tiêu cao hơn bình quân chung của khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước (như tỉ lệ hộ nghèo; tỉ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; tỉ lệ hộ được sử dụng nước sạch...). Xây dựng mô hình nông thôn mới không chỉ phát triển nông nghiệp truyền thống, thuần túy mà phải hướng đến phát triển nông thôn mới theo hướng nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch sinh thái; tiến hành tổ chức lại sản xuất, gắn nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị theo quy hoạch. Hiện nay, dù mới đang ở bước đầu khởi động thực hiện mô hình nông thôn mới nhưng trên thực tế đã hình thành nhiều vùng trồng rau, hoa, quả sạch ở các huyện Mê Linh, Đông Anh, Sóc Sơn, Thường Tín, Hoài Đức, Thanh Oai, Từ Liêm, Thanh Trì...; các khu du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử gắn với ẩm thực nổi tiếng ở Ba Vì, Sơn Tây, Mĩ Đức...

Chú trọng phát triển nông nghiệp sinh thái, ven đô, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quanh các đô thị, các vành đai rau xanh an toàn, hoa, cây ăn quả sạch, phát triển rừng và cây xanh phục vụ cho các đô thị, khu công nghiệp, đảm bảo môi trường sinh thái cho Thủ đô. Với vị trí, vai trò  thủ đô của cả nước, phát triển nông nghiệp Hà Nội phải trở thành mô hình mẫu cho cả nước về công nghệ cao, hiện đại, hiệu quả, đi đầu trên cả nước về thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác… Trong quy hoạch này đã nghiên cứu giữ lại các vùng nông nghiệp năng suất cao  ở Thanh Oai, Phú Xuyên, Ứng Hòa và Mỹ Đức; vùng sản xuất rau sạch theo công nghệ sạch ở Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Phúc Thọ. Đan Phượng, Quốc Oai... Duy trì các vùng hoa truyền thống Tứ Liên, Phú Thượng, Quốc Oai… duy trì các vùng hoa truyền thống, Tứ LIên, Phú Thượng, Đông Ngạc, Tây Tựu… Mở rộng các vùng trồng hoa mới như Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn. 

Cải thiện môi trường sống nông thôn. Hình thành mới các trung tâm tiểu vùng là các thị trấn hoặc thị tứ để tăng cường khả năng tiếp cận của các làng nông thôn với các dịch vụ đô thị. Phát triển mạng lưới giao thông liên thôn, liên xã gắn kết với giao thông ngoại thị. Giao thông các tuyến đường chính trong làng xóm sẽ được mở rộng đảm bảo cho nông dân có điều kiện sử dụng ô tô phục vụ sản xuất. Giao thông nông thôn được nghiên cứu trong Quy hoạch chung giữ vị trí quan trọng để phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội trong quá trình phát triển mô hình “Nông thôn mới” của Thủ đô.

Nâng cao thu nhập của người dân nông thôn trong đô thị Hà Nội bằng cách xây dựng các mô hình sản xuất mới phù hợp với hoàn cảnh từng khu vực, khai thác thị trường lao động tại chỗ, khôi phục và phát triển các nghề truyền thống gắn với khai thác du lịch và giải trí; phát triển các công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, kiểm soát chặt chẽ về vấn đề môi trường và phát triển hạ tầng. 

Hiện đại hóa cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra sản phẩm mũi nhọn về giống cây trồng, vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp Hà Nội. Trước mắt ở Gia Lâm, Đông Anh, Thường Tín và Phúc Thọ, tương lai sẽ mở rộng tới các địa bàn khác.

Quy hoạch phát triển nông nghiệp-nông thôn trong Quy hoạch chung Hà nội được thực hiện trong các nghiên cứu về quy hoạch sản xuất, phân bố dân cư, lao động, tổ chức không gian chức năng, quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xây dựng các mô hình phát triển nông thôn theo tiêu chí mô hình nông thôn mới gắn kết giữa nông nghiệp - nông thôn và nông dân.

Để đảm bảo quản lý phát triển đồng bộ nông thôn mới - phát triển đô thị - bảo vệ môi trường sinh thái, trên cơ sở định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô được duyệt, thành phố Hà Nội tiếp tục triển khai lập quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn theo các quy định hiện hành. Đối với các điểm dân cư nông thôn thuộc khu vực dự kiến phát triển đô thị giai đoạn dài hạn, cần phải lập quy hoạch chi tiết cải tạo nâng cấp chỉnh trang, trước mắt phục vụ công tác quản lý đầu tư xây dựng để đảm bảo phát triển hạ tầng cơ sở đồng bộ trong quá trình đô thị hóa và phù hợp với các quy hoạch phân khu sau này. 

9.5.            Định hướng cụ thể

9.5.1.      Về dân cư – Lao động

Dân số trong vùng nông thôn bao gồm dân số sống,làm việc trong vùng nông thôn và dâ số làm việc trong khu vực đô thị, nhưng sinh sống trong vùng nông thôn. Xu hướng phát triển trong tương lai sẽ có lượng lớn cư dân làm việc trong các lĩnh vực đô thị nhưng về ở trong các dự án sinh thái trong vùng nông thôn. Ranh giới giữa đô thị nông thôn cần được mềm dẻo và linh hoạt hơn so với việc quản lý cứng nhắc như hiện nay.

Cần tiếp tục chuyển đổi cơ cấu lao động hiện nay sang các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ để đảm bảo thu nhập và việc làm trong tương lai, phù hợp với điều kiện quỹ đất sản xuất bị thu hẹp.

9.5.2.      Mô hình điểm dân cư nông thôn

Xây dựng mô hình thí điểm các cụm dân cư đổi mới gắn với các trung tâm dịch vụ sản suất tại các cụm, điểm dân cư trung tâm xã như:

  • Điểm dân cư xã sản xuất lúa tại Thanh Oai,
  • Điểm dân cư xã chăn nuôi bò sữa, trồng chè tại Ba Vì,
  • Điểm dân cư xã nuôi trồng thủy sản tại Mỹ Đức,
  • Điểm dân cư xã trồng rau sạch tại Đông Anh, Sóc Sơn,
  • Điểm dân cư xã trồng cây ăn quả tại Đan Phương,
  • Điểm dân cư xã trồng hoa tại Mê Linh và công viên hoa thành phố vùng,
  • Điểm dân cư xã điểm dân cư TTCN, làng nghề tại Thường Tín, Chương Mỹ...

Xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ, bảo hộ về thuế và giống cây trồng, vật nuôi cho các hộ dân. Từng bước nhân rộng mô hình này, tạo nên vùng nông thôn đặc trưng cho Thủ đô Hà nội, kết hợp với việc giữ gìn và phát huy bản sắc các làng xóm, di tích tín ngưỡng khai thác phát triển du lịch. Hạn chế tăng mật độ dân số khu vực nông thôn và tăng cường các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn, đặc biệt tại các làng nghề.

Bổ sung các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất ở vùng nông thôn thông qua hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, tiêu thụ sản phẩm.

9.5.3.      Về nhà ở nông thôn

Đối với nhà ở nông thôn, khuyến khích bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống. Hướng dẫn thiết kế mẫu nhà ở nông thôn điển hình, xây dựng với mật độ thấp, đáp ứng tiện nghi và sinh hoạt hiện đại, thống nhất về ngôn ngữ kiến trúc, tiến tới mô hình nông thôn hiện đại có bản sắc trong Thủ đô.

Khắc phục tình trạng xây dựng tự phát trong vùng nông thôn thông qua kiểm soát hồ sơ thiết kế, giám sát thi công và hình thành các đơn vị thi công chuyên nghiệp để kiểm soát được chất lượng và hình thái kiến trúc nông thôn.

Ban hành quy chế quản lý phát triển nhà ở nông thôn đồng nhất với quản lý trong khu vực đô thị với hệ thống giám sát, kiểm tra, xử phạt nghiêm khắc. Đồng thời cũng cần có những cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển nhà ở theo mô hình mẫu, do điều kiện kinh tế nhân dân trong vùng nông thôn còn nhiều khó khăn.

9.5.4.      Về hạ tầng xã hội

Kiểm soát số lượng, chỉ tiêu và chất lượng cơ sở hạ tầng xã hội theo phân cấp tầng bậc của toàn đô thị. Đảm bảo về bán kính phục vụ, chỉ tiêu về quy mô, đặc điểm phân bố dân cư và đáp ứng khả năng tiếp cận thuận lợi cho mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó khuyến khích phát triển các dịch vụ chất lượng cao để nhân dân trong vùng nông thôn có nhu cầu sử dụng sẽ không phải di chuyển vào đô thị trung tâm để làm việc.

Đầu tư đồng bộ các bệnh viện đa khoa, trường dạy nghề, trung tâm thương mại, trung tâm về thông tin, tài chính ... tại các thị trấn huyện lỵ.

Tại các nhóm cụm xã phát triển trường phổ thông trung học, các trung tâm về văn hóa, các trung tâm chuyển giao công nghệ.

Tại các trung tâm xã hình thành đầy đủ các công trình hạ tầng xã hội như trường học, trạm y tế, chợ, bưu điện, nhà văn hóa . . .  theo tiêu chuẩn quốc gia và quy định riêng của thủ đô Hà Nội.

Tiếp tục khuyến khích xã hội hóa để phát triển mạng lưới hạ tầng xã hội sâu rộng trong các cụm điểm dân cư, thôn, xóm như nhà văn hóa thôn, thư viện dòng họ, truyền nghề truyền thống. . .

Toàn bộ hệ thống công trình xã hội trong vùng nông thôn cùng với trong vùng đô thị tạo thành hệ thống phủ khắp, dễ dàng tiếp cận và sử dụng của mọi người dân. Không phân biệt về chất lượng, số lượng giữa khu vực đô thị và nông thôn.

9.5.5.      Về hạ tầng kỹ thuật

Phát triển hệ thống hạ tầng khung của toàn đô thị đến các thị trấn huyện lỵ trong toàn bộ thành phố.

Từ các đầu mối về hạ tầng khung đô thị, phát triển mạng lưới hạ tầng cấp huyện, mạng lưới hạ tầng cấp xã, đảm bảo tất cả cụm điểm dân cư trong thủ đô được tiếp cận và sử dụng.

Các tuyến đường giao thông nông thôn phải đảm bảo hoạt động sản xuất công nghiệp hóa và sử dụng các phương tiện cơ giới.

Phấn đấu 100% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, cấp điện lưới đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.

Khuyến khích áp dụng công nghệ mới về tự chủ, tự cung, tự cấp và cân bằng hạ tầng nông thôn như: tự chủ về năng lượng, tự chủ về nước sạch, tự chủ môi trường.

9.5.6.      Về giải quyết môi trường nông thôn

Giải quyết vấn đề môi trường nông thôn được giải quyết thông qua giải quyết môi trường ở cấp độ vùng, cấp độ toàn thành phố và cấp độ cụm điểm dân cư như khắc phục các nguồn gây ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước.

Thực hiện các chương trình cải tạo chất lượng môi trường hiện nay theo từng khu vực cụ thể như:

  • Di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu vực nông thôn.
  • Chuyển đổi công nghệ sản xuất theo hướng hạn chế tác động môi trường.
  • Áp dụng các công nghệ sinh học để xử lý môi trường tại chỗ.
  • Xác định các vấn đề môi trường của từng khu vực để đưa ra hướng giải quyết riêng.
  • Đề xuất các nguyên tắc, quy chế hoạt động theo hướng bảo vệ môi trường.

 

 


[1] Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 05/5/2008

[2] Nguồn: (Tổng Điều tra dân số, nhà ở năm 2009)


 [CL1]Need data

 [CL2]Need data

 [CL3]Need data

 [CL4]Need data

 [CL5]Need data

 [CL6]Need data

 [CL7]Need data

 [CL8]Need data

 [CL9]Need data

 [CL10]Need data

 [CL11]Need data

 [CL12]Need data

Theo dõi chúng tôi