Phần 4 - Quy hoạch chung xây dựng thủ đô HN đến năm 2030, tầm nhìn 2050

 
Phần 4 - Quy hoạch chung xây dựng thủ đô HN đến năm 2030, tầm nhìn 2050

Tác giả:

Nhà xuất bản: --

Mã sách: QH TT HN3-P4

Quy hoạch chung xây dựng thủ đô HN đến năm 2030, tầm nhìn 2050


Tài liệu gồm 5 phần:

Phần 1: Từ chương 1 đến chương 5.

Phần 2: Từ chương 6 đến chương 9.

Phần 3: Chương 10.

Phần 4; Chương 11 đến chương 14.

Phần 5: Chương 15 đến chương 16; Danh mục hồ sơ bản vẽ thu nhỏ.

Tổng quan về tài liệu: Xem tại đây.

 


MỤC LỤC (Phần 4; Chương 11 đến chương 14)

XI.         BẢO TỒN DI SẢN

11.1.      Tổng quan chung

11.2.      Quan điểm bảo tồn

11.3.      Các đối tượng bảo tồn

11.4.      Định hướng chung

11.5.      Định hướng bảo tồn cụ thể

XII.       ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC

12.1.     Mục tiêu bảo vệ môi trường

12.2.     Đánh giá sự thống nhất giữa mục tiêu quy hoạch và mục tiêu môi trường

12.3.     Phân vùng cải thiện, bảo vệ môi trường

12.4.     Các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực

XIII.           TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

13.1.     Tài chính đô thị

13.1.1.       Đánh giá

13.1.2.       Tổng chi phí đầu tư

13.1.3.       Các giải pháp huy động vốn:

13.1.4.       Phân kỳ phát triển

13.1.5.       Quản lý nguồn vốn đầu tư

13.1.6.       Phối hợp

13.2.     Đề xuất cơ chế chính sách

XIV.      THIẾT KẾ ĐÔ THỊ

14.1.     Mục tiêu và nguyên tắc thiết kế

14.1.1.       Mục tiêu

14.1.2.       Các nguyên tắc thiết kế đô thị

14.2.     Các giải pháp chung

14.2.1.       Ý tưởng thiết kế đô thị

14.2.2.       Cấu trúc cảnh quan đô thị

14.2.3.       Phân vùng kiến trúc cảnh quan

14.2.4.       Kiểm soát bảo vệ di sản, di tích lịch sử văn hóa

14.2.5.       Kiểm soát phát triển các vùng cảnh quan tự nhiên

14.2.6.       Kiểm soát phát triển trên các trục giao thông chính đô thị

14.2.7.       Kiểm soát phát triển các không gian công cộng đô thị

14.3.     Đề xuất giải pháp cụ thể cho các khu vực chức năng đặc thù


 

I.              BẢO TỒN DI SẢN

11.1.        Tổng quan chung

Trải qua 1000 năm phát triển, Hà Nội vẫn gìn giữ được những giá trị đặc trưng sâu sắc về văn hóa vật thể và phi vật thể của nền văn hóa Thăng Long cổ. Hà nội văn hiến được hình thành và phát triển bởi sự kế thừa tiếp nối liên tục xuyên xuốt nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc. Bên cạnh những giá trị văn hóa phi vật thể là lối sống, phong tục tập quán, nghề truyền thống… được người Hà Nội đúc kết, lưu truyền từ ngàn năm về trước đến ngày nay. Hà Nội còn lưu giữ trong mình hệ thống di sản văn hóa vật thể đồ sộ cần bảo tồn tại khu vực nội đô đó là các khu phố cổ, khu phố Pháp, làng cổ ven đô, thành cổ, những công trình kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng, các kiến trúc thuộc địa Pháp, các kiến trúc tiêu biểu thời kỳ Hòa bình lập lại…và cả hệ sinh thái cảnh quan đặc trưng là đô thị với nhiều sông hồ, cây xanh gắn với vùng sinh thái nông nghiệp. Ngày nay, Hà Nội được sáp nhập với Hà tây, cũng là vùng mang đậm văn hóa truyền thống, văn hóa Xứ Đoài.

11.2.        Quan điểm bảo tồn

Để Thủ đô Hà Nội vẫn mãi là Thủ đô Văn Hiến của cả nước, tất cả các giải pháp quy hoạch đô thị đều được thiết lập dựa trên tiêu chí bảo tồn. Công tác bảo tồn di sản của Hà Nội, bao gồm cả khu vực xây dựng và môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa.

11.3.        Các đối tượng bảo tồn

  • Bảo tồn theo đặc trưng vùng văn hoá  

Vùng văn hoá Thăng Long (Hà Nội)

Vùng văn hoá xứ Đoài (Hà Tây)

Vùng văn hoá Hoà Bình (Sơn Tây-Hoà Bình)

  • Bảo tồn 8 khu vực trọng tâm

Bảo tồn trung tâm Chính trị Ba đình và di tích Hoàng Thành Thăng Long

Bảo tồn khu phố cổ.

Bảo tồn khu phố cũ

Bảo tồn  di tích ven Hồ Tây

Bảo tồn thành Cổ Loa, thành cổ Sơn Tây

Bảo tồn các làng và làng nghề truyền thống

Bảo tồn các cụm di tích và di tích đơn lẻ

Bảo tồn các vùng cảnh quan tự nhiên

 

11.4.        Định hướng chung

Bảo tồn đặc biệt đối với khu nôi đô lịch sử: kiểm soát và giảm quy mô dân số từ 1,2 triệu dân xuống còn 0,8 triệu, khống chế tầng cao, mật độ xây dựng và có quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan từ đường vành đai 2 đến trung tâm. Đặc biệt là khu vực xung quanh Hoàng Thành, khu Ba Đình, khu phố cổ, phố Pháp, hồ Gươm, hồ Tây và một số làng truyền thống như làng hoa Tây Hồ, hoa Ngọc Hà, làng đúc đồng Ngũ Xã, làng Bưởi..., và các di tích tín ngưỡng trong các ô phố, khu dân cư. Lập kế hoạch khảo sát, đánh giá toàn diện các di tích Thăng Long cổ, khảo cổ để trùng tu, sửa chữa.

 

11.5.        Định hướng bảo tồn cụ thể

(1). Đối với di tích Thành cổ Hà Nội và di tích KCH 18 Hoàng Diệu: Khu trung tâm thành cổ (di tích KCH 18 Hoàng Diệu) được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Cần xây dựng đồ án quy hoạch chi tiết bảo tồn nhằm khảo sát đánh giá hiện trạng các di tích kiến trúc trên mặt đất, các di tích khảo cổ học. Xây dựng bảo tàng tại chỗ trưng bày hiện vật khảo cổ học, phế tích kiến trúc; Lập kế hoạch trùng tu, tôn tạo định kỳ các di tích lịch sử - văn hóa - nghệ thuật (Cột cờ, Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn...). Trên cơ sở đó phục dựng các công trình kiến trúc có giá trị trong khu Thành cổ  khi có đủ tư liệu khoa học (Điện Kính Thiên...) và thiết lập quy chế quản lý và khai thác khu di tích.

(2). Đối với khu phố cổ Hà Nội: Xây dựng chiến lược bảo tồn, phân chia thực hiện theo từng giai đoạn. Lập kế hoạch di dân nhằm giảm mật độ cư trú trong khu phố cổ. Bổ sung quy chế quản lý xây dựng và phát triển: Phân kỳ và  thực hiện thí điểm việc chỉnh trang mặt đứng, khôi phục kiến trúc - cảnh quan đặc trưng của các tuyến phố chuyên doanh. Cải tạo điều kiện vệ sinh môi trường. Quy hoạch mạng lưới giao thông tĩnh và tuyến phố đi bộ. Bảo tồn, tôn tạo các công trình TGTN và các ngôi nhà cổ.  Duy trì nét đặc trưng của phố cổ đó là mối liên hệ giữa công trình - di tích - phố nghề - sinh hoạt.

(3). Đối với khu phố cũ: Thiết lập quy chế quản lý xây dựng, kiến trúc, cảnh quan cho khu phố Pháp. Bảo tồn cấu trúc đô thị, giảm mật độ xây dựng, khống chế chiều cao xây dựng, quy định khoảng lùi cho công trình xây mới. Thống kê, khảo sát số lượng và hiện trạng các công trình kiến trúc Pháp. Bảo tồn và tôn tạo các công trình kiến trúc do Pháp xây dựng, giữ lại hình ảnh lịch sử đã đi vào tiềm thức của người dân, không cải tạo làm thay đổi cấu trúc ban đầu: công trình công cộng (ga Hàng Cỏ, cầu Long Biên, các công trình văn hóa, công sở)  và biệt thự. Đối với các  biệt thự cũ đã bị biến dạng, cần loại bỏ các phần xây cơi nới, khôi phục kiến trúc và tổng thể. Gìn giữ các khoảng không gian xanh, vườn hoa, các yếu tố  tạo thành tổng thể kiến trúc thời Pháp hoàn chỉnh. Đề nghị  công nhận khu phố cũ xây dựng thời  Pháp là di tích cấp Quốc Gia.

(4). Khu vực ven Hồ Tây: Bảo tồn các di tích cùng với hệ sinh thái tự nhiên và các giá trị văn hóa phi vật thể. Tôn tạo cảnh quan đường viền hồ Tây. Kiểm soát, khống chế mật độ xây dựng và tầng cao xây dựng các khu dân cư xung quanh. Tăng mật độ cây xanh thông qua quy chế quản lý đô thị tại khu vực này. Khuyến kích duy trì các làng truyền thống, các khu nhà ở gắn với làng hoa, cây cảnh như khu vực Tứ Liên, Nhật Tân, Nghi Tàm..., Khuyến khích hình thành các khu vui chơi giải trí và các dịch vụ du lịch cao cấp. Tu bổ định kỳ các di tích văn hóa như chùa Trấn Quốc, đền Quan Thánh và hệ thống đình đền chùa khác.

(5). Thành Cổ Loa: xây dựng đồ án quy hoạch bảo tồn tổng thể. Bảo tồn nguyên trạng di tích gốc gồm các vòng thành cũ như vòng thành đất, vòng thành đất, các cổng thành. Bảo tồn toàn bộ không gian cảnh quan kiến trúc của các toà thành này: hồ ao, hào nước, hệ thống cây xanh có niên đại lâu đời; Bảo tồn các công trình TGTN, di tích kiến trúc,  nhà truyền thống bên trong và xung quanh khu vực thành; Bảo tồn các khu vực chợ và khu sinh hoạt cộng đồng; Kiểm soát về xây dựng kiến trúc trong khu vực phạm vi bảo tồn.

Đối với thành cổ Sơn Tây: Thành được dựng hình tứ giác kiểu thành Vauban mang tính chất thành quân sự được xây dựng theo cấu trúc của thành Hà Nội và nằm trọng trong khu đô thị vệ tinh Sơn Tây - đô thị có nhiều giá trị văn hoá, lịch sử và quỹ di tích kiến trúc rất đặc biệt về nghệ thuật và phong cách đặc trưng vùng văn hoá xứ Đoài. Tôn tạo khu vực cổng thành. Bảo tồn nguyên trạng các vòng thành, tránh can thiệp mạnh, xử dụng hóa chất đực dụng để xử lý chống lún, ẩm mốc... Bảo tồn các công trình kiến trúc, hệ thống tường thành; nạo vét lòng hào và quy hoạch công năng sử dụng. Đối với các hạng mục di tích đã và đang tiến hành trùng tu, tôn tạo cần phải có sự thẩm định lại về giá trị kiến trúc đảm bảo tôn trọng các chi tiết kiến trúc gốc. Mọi công tác thiết kế bảo tồn và tôn tạo trong khu vực thành cũng không được phá vỡ cấu trúc thành trong lịch sử.

Đối với các thành cổ khác

Thành Bình Lỗ thuộc khu vực sông Cà Lồ và sông Cầu thuộc Sóc Sơn hiện nay. Thành Dền (còn gọi là thành Cự Triền, thành Trại, thành Cờ) thuộc xã Tự Lập, huyện Mê Linh, tương truyền là doanh trại của Trưng Nhị. Các thành chỉ còn lại dấu vết một đoạn tường, móng, hay cổng thành nằm len lỏi trong khu vực dân cư. Các thành cũng có những cấu trúc và tính chất khác nhau. Khoanh vùng bảo vệ các vòng thành hoặc dấu vết để khảo cổ học. Tìm hiểu tư liệu lịch sử, khảo cổ học trước khi có kế hoạch trùng tu tôn tạo hoặc phục dựng.

- Thành Phong Châu (thành Mê Linh) thuộc làng Hạ Lôi, Mê Linh. Đang triển khai Quy hoạch bảo tồn tôn tạo đền thờ Hai Bà Trưng và Thành cổ Mê Linh (1/500). Khu vực I. Giữ nguyên trạng (3,2ha) các công trình kiến trúc; Khu vực II (6,61ha): bố trí các công trình phụ trợ và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ lễ hội như bãi đỗ xe, quảng trường, công viên cây xanh, hồ nước.. Khu vực III (1,12ha): tiếp giáp với khu dân cư thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh dành để bố trí khu vườn cây ăn quả, hồ mắt voi 2, công trình phục chế Thành ống (thành cổ)… Quy hoạch bãi đỗ xe tập trung diện tích 5.558m2  phía tây nam khu di tích phụ vụ cho du khách ngày lễ hội.

 (6). Làng và làng nghề truyền thống: Bảo tồn cấu trúc làng, các công trình  kiến trúc cấu thành (bao gồm các công trình TGTN: đình, đền, chùa; Các công trình kiến trúc dân gian: cổng, điếm, cầu, quán...),  các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, đặc biệt đối với các làng có nhiều giá trị về văn hóa như làng cổ Đường Lâm, Bát Tràng, Vạn Phúc…; Phát huy và nhân rộng mô hình bảo tồn làng cổ Đường Lâm hiện nay. Định hướng cho người dân trong việc xây dựng nhà ở (về kiến trúc, vật liệu xây dựng...). Khuyến kích xây dựng các loại nhà nông thôn truyền thống. Không cấp phép xây dựng nhà ở kiểu chia lô trong làng. Hỗ trợ các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các làng nghề. Hạn chế không san lấp ao hồ, khoét núi. Tạo các liên kết về cảnh quan kết nối hệ thống di tích của làng với vùng cảnh quan lân cận. Thí điểm xây dựng và phát triển làng theo mô hình nông thôn mới.

(7). Các di tích đơn lẻ khác tiếp tục khảo sát và xây dựng danh mục công trình, cụm công trình di tích để đánh giá, xếp hạng và có kế hoạch bảo tồn. Các cụm công trình có giá trị về văn hóa lịch sử như: Chùa Thầy, chùa Tây Phương, đình Thụy Phiêu, đình Tây Đằng, Chu Quyến… tiếp tục nâng cấp bảo tồn di tích, khoanh vùng bảo vệ và kiểm soát các hoạt động xây dựng khu vực xung quanh di tích, loại bỏ các kiến trúc ảnh hưởng đến cảnh quan di tích. Các hoạt động trùng tu tôn tạo di tích cần phải cẩn trọng và tuân thủ Luật di sản, luật xây dựng. Áp dụng các nguyên tắc các hiến chương quốc tế một cách linh hoạt trong công tác bảo tồn, quản lý di sản, di tích. Nâng cấp cảnh quan khuôn viên xung quanh các điểm di tích, tạo các khoảng mở xanh trong đô thị hoặc làng xóm. Quản lý xây dựng chặt chẽ đối với các công trình xây dựng xung quanh các di tích về mật độ, chiều cao và hình thức kiến trúc.

(8).  Bảo tồn cảnh quan tự nhiên,  các vùng cảnh quan sinh thái đặc biệt quan trọng như vườn Quốc gia Ba Vì, hồ Đồng Mô, hồ Tây, Hương Sơn, khu thiên nhiên bán sơn địa vùng Sơn Tây, vùng sinh thái tự nhiên ven sông Hồng, sông Đáy… Thiết lập đồ án quy hoạch xây dựng cho các quỹ đất ven sông (cải tạo và phát triển đô thị ven sông, xây dựng công viên vui chơi giải trí, quy hoạch đường ven sông…). Xây dựng quy chế quản lý xây dựng và khai thác du lịch cho từng vùng sinh thái lớn.

 

II.          ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC

Trong quá trình nghiên cứu phát triển không gian và hạ tầng kỹ thuật với các giải pháp nêu trên đã lồng ghép việc giải quyết vấn đề môi trường góp phần rất lớn trong việc nghiên cứu đánh giá môi trường chiến lược.

Thủ Đô Hà Nội sau khi sáp nhập đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường bức xúc như: ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ-Đáy, suy thoái tài nguyên nước mặt, nước ngầm, ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải, khí thải từ sinh hoạt, sản xuất và giao thông đô thị, suy giảm các hệ sinh thái, tai biến môi trường và ngập úng... Vì vậy các mục tiêu môi trường cơ bản mà đồ án cần hướng tới:

 

12.1.        Mục tiêu bảo vệ môi trường

  1. Giảm thiểu ô nhiễm đất:

Cải thiện chất lượng đất thông qua bảo tồn 40% diện tích đất nông nghiệp năng suất cao, vùng bảo vệ đa dạng sinh học nằm trong hành lang xanh. Hình thành các vùng sản xuất sạch như: vùng sản xuất rau an toàn, trồng hoa và cây cảnh; Xử lý chất thải rắn và nghĩa trang theo hướng tập trung, liên kết giữa các đô thị, lựa chọn vị trí xa khu dân cư và áp dụng công nghệ hiện đại, 50% các đô thị có công trình tái chế, giảm tỷ lệ chôn lấp: 40-15%, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại thu gom và xử lý 80%, trong đó 70% được thu hồi để tái sử dụng và tái chế; 60% tổng lượng chất thải rắn nguy hại tại các KCN được xử lý đảm bảo môi trường. Xây dựng khu liên hợp xử lý chất thải rắn, công nghệ hiện đại, áp dụng công nghệ hỏa táng với mỗi khu vực đảm bảo tiết kiệm diện tích, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất; Xây dựng mô hình “Nông thôn mới”, làng sinh thái, xử lý chất thải làng nghề theo hướng phân cụm các hộ sản xuất để xử lý chất thải.

  1. Cải thiện chất lượng nước:

Kiểm soát lũ lụt bằng các biện pháp thoát nước bền vững như phân lũ sông Đáy, cải tạo hệ thống thoát nước, mở rộng phạm vi phục vụ của các hệ thống thoát nước, đạt 90% và tiến tới đạt 100%, xây dựng các hồ điều hòa chiếm 7% diện tích trong đô thị trung tâm. Các đô thị khác, nghiêm cấm san lấp hồ hiện có, tận dụng tối đa các khu vực trũng địa hình phía Nam để xây dựng các hồ đa mục đích. Giảm dần khối lượng khai thác nước ngầm tại Hà Nội cũ tăng khối lượng khai thác nước mặt từ 65% (năm 2020) đến 83% (năm 2030), ngừng khai thác tại các nhà máy nước Tương Mai, Hạ Đình, Pháp Vân. Nước thải nội đô sử dụng hệ thống thoát nước hỗn hợp, các khu vực phát triển mới sử dụng hệ thống thoát nước thải riêng, xử lý nước thải tập trung quy mô lớn, công nghệ hiện đại, bố trí công trình xử lý trong vùng đệm dọc lưu vực các sông để giảm thiểu ô nhiễm nước mặt. Di dời ra các KCN tập trung nội đô gây ô nhiễm ngoại thành. Xây dựng mỗi KCN mới có 1 hoặc 2 trạm XLNT. Cải tạo nghĩa trang khu vực nội đô sau khi đóng cửa thành nghĩa trang công viên.

  1. Giảm thiểu ô nhiễm không khí, tiếng ồn:

Giảm thiểu ô nhiễm bằng việc thiết kế mạng lưới giao thông hướng tâm kết hợp các đường vành đai và hệ thống giao thông công cộng chiếm 45-55%. Thiết lập hành lang xanh, vành đai xanh, nêm xanh, vùng đệm dọc lưu vực sông kết nối Khu vực nội đô mở rộng và khu phát triển mới tạo lập cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, giảm nhẹ ô nhiễm không khí, tiếng ồn. Xây dựng hệ thống đường cảnh quan không cho phát triển đô thị dọc hành lang. Dành quỹ đất hợp lý (20%-26%) để phát triển hạ tầng giao thông đô thị.

  1. Bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học:

Nguyên tắc phát triển cân bằng  dựa trên bảo tồn mà trọng tâm là hành lang xanh chiếm 68% diện tích Hà Nội, bao gồm diện tích đồi núi, mặt nước, vùng đồng bằng ngập lũ, đất nông nghiệp, làng nghề thủ công. Phát triển các khu đô thị sinh thái mật độ thấp là Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn. Thiết lập vành đai xanh dọc sông Nhuệ sẽ giảm tối đa mật độ xây dựng, không phát triển dân cư đô thị chỉ có các công trình công cộng, cây xanh sinh thái và mặt nước. Bảo vệ hệ sinh thái rừng khu vực Ba Vì, Sóc Sơn, Hương Sơn, đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng đạt 10-12%.

  1. Ứng phó với biến đổi khí hậu:

Coi trọng quy hoạch hệ thống hạ tầng thoát nước, chống ngập lụt cho các vùng thủ đô Hà Nội, đặc biệt là đối với đô thị trung tâm (Hà Nội cũ). Bảo đảm đến năm 2030 TP. Hà Nội không bị úng ngập khi cường độ mưa lớn hơn hay bằng 50 mm/trận mưa. Qui hoạch đô thị ven sông Hồng xem xét kỹ các trận lũ lụt xảy ra bất thường, có quy hoạch chống sạt lở bờ sông và bảo vệ vững chắc đê sông Hồng, đê sông Đuống. Qui hoạch các KCN, hệ thống giao thông theo hướng sử dụng và tiêu phí năng lượng, nhiên liệu ít nhất, phát triển sử dụng năng lượng sạch, nhiên liệu sạch. Quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp tính đến tác động của biến đổi khí hậu như là nhiệt độ không khí tăng lên 1-2 độ, lượng mưa thay đổi tới 20%, hạn hán và lũ lụt có thể xảy ra.

 

12.2.        Đánh giá sự thống nhất giữa mục tiêu quy hoạch và mục tiêu môi trường

  • Đánh giá về quan điểm, ý tưởng phát triển

Tiêu chí đặt ra trong đồ án quy hoạch là phát triển “cân bằng” dựa trên bảo tồn phù hợp với các tiêu chí của phát triển bền vững (phát triển cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường). Quan điểm này sẽ hạn chế cơ bản mọi tác động tiêu cực đối với môi trường.

Quan điểm phát triển một thành phố phát triển bền vững; kiểm soát sự phát triển tự nhiên, không cho phát triển theo kiểu “vết dầu loang” như hiện nay, cùng với sự hình thành các đô thị vệ tinh có sức hút dân cư, tạo đà phát triển kinh tế, du lịch, thương mại dịch vụ đồng thời giảm áp lực lên đô thị trung tâm, giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay.

Định hướng bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử của đô thị cũ trong đồ án giảm tác động tiêu cực của phát triển đô thị đến các khu vực khu phố cổ, phố Pháp, đô thị cổ Sơn Tây.

Ý tưởng “thành phố xanh” với việc tạo các hành lang xanh, chiếm 60-70% diện tích, trong đó 40-45% là các vùng bảo tồn (các vùng nông nghiệp, đa dạng sinh học, di sản văn hóa) và 20-25% là các vùng phát triển dựa trên bảo tồn (cụm làng nghề, nông thôn mới, du lịch sinh thái, TDTT vui chơi giải trí) sẽ tạo một môi trường đô thị có các hệ sinh thái bền vững, có sức chịu tải môi trường lớn.

Định hướng di chuyển các khu công nghiệp cũ, các cơ sở giáo dục, y tế ra khỏi nội thành giảm các áp lực về môi trường tại đô thị trung tâm như giảm ô nhiễm không khí, giảm phát thải, giảm tiêu thụ tài nguyên, giảm các nhu cầu xã hội...

Quy hoạch đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông hiện đại, thân thiện môi trường, hạ tầng thoát nước đô thị, xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang... phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường.

  • Đánh giá về các định hướng phát triển
  • Cấu trúc phát triển đô thị

Đô thị phát triển cân bằng, giảm sức ép môi trường lên đô thị trung tâm bằng mạng lưới các đô thị vệ tinh, kết nối với đô thị trung tâm bằng hệ thống giao thống hướng tâm kết hợp các vành đai và hệ thống giao thông công cộng.

Mật độ dân số các khu vực phát triển mới được giữ cân bằng đều dưới 8000 người/km2. Tuy nhiên trong tương lai những thách thức về quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm các vùng đô thị vệ tinh sẽ rất lớn do chưa được đầu tư hạ tầng.

Hướng phát triển đô thị về phía Tây và phía Bắc là những vùng an toàn về môi trường, có điều kiện địa chất tốt, sức chịu tải môi trường cao, hạn chế những tác động đến vùng tập trung dân cư nông thôn và nông nghiệp vùng phía Nam và sông Đáy.

Đánh giá hiện trạng môi trường cho thấy, những vùng có điều kiện môi trường tốt, chưa bị tác động là phía Tây và phía Bắc Hà Nội. Những vùng có điều kiện an toàn và môi trường không tốt là vùng trung tâm, vùng phía Nam (hạ lưu lưu vực sông Nhuệ), phía Đông (Gia Lâm, Long Biên), dọc 2 bên sông Hồng và trong tương lai là vùng xả lũ sông Đáy. Như vậy việc phân bố dân cư ra các đô thị vệ tinh (Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai ở phía Tây, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn ở phía Bắc, vùng phía Bắc khu vực phát triển mới của đô thị trung tâm) sẽ nằm trong vùng an toàn về môi trường. Khu phía Nam đô thị trung tâm, phía Bắc khu vực Long Biên-Gia Lâm, hạ lưu lưu vực sông Nhuệ-Đáy là những khu vực đang bị ảnh hưởng về môi trường nên hạn chế phát triển.

Đô thị trung tâm phát triển dựa trên bảo tồn, cải thiện các giá trị sinh thái môi trường đô thị, đồng thời phân bố các hệ thống trung tâm giáo dục, y tế, công nghiệp, thương mại-dịch vụ ra ngoài đô thị trung tâm, hạn chế ô nhiễm môi trường.

Ngăn cách giữa các khu đô thị mới và đô thị cũ bằng các hành lang xanh, các vùng đệm môi trường tạo chức năng: giữ cân bằng sinh thái đô thị, điều hòa khí hậu, giảm nhẹ ô nhiễm, tăng khả năng tự làm sạch môi trường, bảo tồn sinh thái, di sản.

Phát triển kiểm soát sự phát triển tự nhiên, không cho phát triển theo kiểu “vết dầu loang” như hiện nay giúp kiểm soát và quản lý được các vấn đề môi trường. Hiện nay chúng ta chưa kiểm soát được các vấn đề môi trường Hà Nội.

  • Phân bố dân cư đô thị:

Định hướng về phân bố dân cư ra các đô thị vệ tinh giảm tỷ lệ dân số 8 quận xuống 47% (hiện tại chiếm gần 70% dân số đô thị trung tâm)

Mật độ dân số 8 quận nội thành năm 2030 giảm xuống 16,7ngàn/km2 (nếu không phân bố dân cư ra các khu đô thị mới phát triển ở vành đai 3-4, Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh và Yên Viên-Long Biên-Gia Lâm thì mật độ dân số của đô thị nén lên đến 35,5ngàn/km2)

Tuy nhiên dân số đô thị trung tâm chiếm đến 68% (4,4 triệu người) tổng dân số đô thị của Hà Nội thì mức độ tiêu thụ tài nguyên, năng lượng và xả thải sẽ là thách thức lớn cho hoạt động quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm.

 

12.3.        Phân vùng cải thiện, bảo vệ môi trường

Dựa trên chức năng và mục tiêu bảo vệ môi trường lồng ghép trong từng khu vực quy hoạch, Hà Nội được phân thành 7 vùng:

  • Vùng bảo tồn hạn chế phát triển:

Khu phố cổ, phố Pháp, đô thị Sơn Tây, Hương Sơn, các vùng di tích văn hóa: Bảo tồn di sản, bảo vệ cảnh quan, phục hồi môi trường các hồ ô nhiễm, cải thiện giao thông đô thị, cải thiện các khu nhà ổ chuột

  • Vùng cải thiện chất lượng môi trường:

Khu vực đô thị trung tâm mới phát triển dọc các đường vành đai 2, vành đai 3: Kiểm soát ô nhiễm môi trường đô thị cải thiện các khu nhà ở cũ như Kim Liên, Thành Công, Thanh Xuân

  • Vùng di dời các cơ sở gây ô nhiễm:

Khu vực công nghiệp cũ phía Nam Hà Nội (Thượng Đình, Minh Khai, Pháp Vân, Văn Điển), Đức Giang, Long Biên, Đông Anh: Xử lý triệt để các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm, phục hồi các kênh mương, hồ ô nhiễm, cải tạo hệ thống thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm không khí, tiếng ồn, cải thiện giao thông đô thị.

  • Vùng kiểm soát môi trường đô thị và khu công nghiệp:

Vùng đô thị lõ mở rộng từ sông Nhuệ đến vành đai 4: Cải thiện ô nhiễm làng nghề, giảm nhẹ tác động do thay đổi sử dụng đất, nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo việc làm, tái định cư, kiểm soát ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp.

Khu vực đô thị mới Hòa Lạc, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Xuân Mai, Mê Linh-Đông Anh, Phú Xuyên: Kiểm soát ô nhiễm, nông nghiệp sinh thái, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.

  • Vùng phòng hộ môi trường:

Vùng dọc 2 bên sông Hồng: Giảm nhẹ tác động lũ lụt, phòng ngừa sự cố, bảo vệ hệ sinh thái.

Vùng hành lang xanh 2 bên sông Nhuệ: Xử lý rác thải, nước thải, phục hồi môi trường sông Nhuệ, kiểm soát ô nhiễm, hình thành các hệ sinh thái ven sông, điều hòa vi khí hậu.

Vùng Hàng lang xanh thuộc vùng xả lũ sông Đáy và sông Tích: Giảm nhẹ tác động lũ lụt, làm sạch môi trường, xử lý rác thải, nước thải, cải thiện ô nhiễm làng nghề, làm sống lại dòng sông Đáy, tạo vành đai xanh, điều hòa vi khí hậu, xây dựng các mô hình làng sinh thái.

  • Vùng bảo vệ nghiêm ngặt hệ sinh thái rừng đặc dụng, đất ngập nước

Khu vực Ba Vì, Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn, Hồ Tây: Bảo tồn di sản, bảo vệ cảnh quan sinh thái, bảo vệ rừng quốc gia, đa dạng sinh học.

Khu vực Sóc Sơn, Hương Sơn: Bảo vệ cảnh quan sinh thái, bảo vệ khu bảo tồn, đa dạng sinh học, xây dựng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường.

  • Vùng kiểm soát môi trường nông thôn, làng nghề:

Khu vực Thạch Thất, Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Oai, ứng Hòa, Thường Tín, Phú Xuyên: Bảo tồn di sản, du lịch sinh thái, kiểm soát ô nhiễm, giảm nhẹ tác động do tái định cư, thay đổi sử dụng đất, tạo việc làm.

 

12.4.        Các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực

Trong quá trình đề xuất các định hướng quy hoạch, đồ án đã thống nhất với các giải pháp bảo vệ môi trường nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường bức xúc hiện nay.

Trong quá trình đề xuất các định hướng quy hoạch, đồ án đã thống nhất với các giải pháp bảo vệ môi trường nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường bức xúc hiện nay.

  • Môi trường nước

Cần phân vùng thoát nước và xử lý nước thải của vùng nội thành cũ thành 7 tiểu vùng và xây dựng các trạm xử lý nước thải tập trung với công nghệ hiện đại cho các khu dân cư và KCN; xây dựng tự hoại, xí 2 ngăn, hầm biogas, xử lý sinh học tự nhiên các trạm xử lý theo cụm bằng kênh ôxy hoá tuần hoàn, aeroten tại các làng nghề, khu vực nông thôn.

Cần xây dựng trạm xử lý nước thải cục bộ tại các nhà máy, cơ sở sản xuất, bệnh viện...

Lưu thông kết nối hồ khu vực với các lưu vực sông. Tăng khả năng tự làm sạch bằng cách bổ xung nước sông Hồng vào các lưu vực sông Nhuệ, Đáy, Tích, Cầu Bây.

Với nước ngầm: cần hạn chế khai thác khu vực phía Nam; khai thác các bãi giếng xây dựng mới phía Bắc sông Hồng, Đuống; Cải tạo, hoàn chỉnh hệ thống cấp nước giảm tỷ lệ thất thoát; ứng dụng các công nghệ mới xử lý Asen, nitơ trong nước ngầm phía Nam.

Phải tạo các hồ chứa bổ cập nước ngầm gắn với các lưu vực sông.

 

  • Môi trường không khí

Hoàn thiện, phát triển giao thông công cộng; kiểm soát phương tiện gây ô nhiễm, khuyến khích loại hình giao thông ít gây ô nhiễm; thiết lập hệ thống cây xanh, tường chắn tại khu vực dân cư; thiết lập trạm rửa xe ở một tuyến cửa ngõ và rải rác trong đô thị.

Di dời dần các nhà máy, cơ sở gây ô nhiễm cũ ra khỏi thành phố: Giai đoạn đến năm 2020: Di rời các cơ sở gây ô nhiễm trong phạm vi từ vành đai 3 ra khỏi đô thị trung tâm. Giai đoạn đến năm 2030: Xử lý triệt để ô nhiễm (cải tiến công nghệ, xử lý ô nhiễm hoặc di rời, đóng cửa) các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ vành đai 3 - vành đai 4 như KCN Văn Điển-Cầu Bươu, Chèm-Nam Thăng Long, Cầu Diễn-Mai Dịch, Gia Lâm-Yên Viên, Đông Anh, Sài Đồng, Đài Tư). Sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường.

Hạn chế sử dụng năng lượng hóa thạch mà khuyến khích chuyển sang sử dụng năng lượng sạch. Gián tiếp giảm tác động của biến đổi khí hậu.

  • Môi trường đất

Trồng rừng tại các khu vực địa hình có độ dốc lớn (Sóc Sơn, Ba Vì) và rừng phòng hộ 2 bên sông Hồng

Hạn chế sử dụng phân bón hóa học, thuôc BVTV; dùng phân hữu cơ, vi sinh; chuyển dần sang nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sạch; hạn chế phát triển nông nghiệp trên khu vực đất bị ô nhiễm, và các nguồn tưới ô nhiễm (Thanh Trì).

  • Quản lý chất thải rắn

Khống chế diện tích khu Nam Sơn (160ha), hạn chế tiến đến không chôn chất thải chưa qua xử lý, tái chế; quy hoạch mạng lưới trung chuyển rác; đóng cửa bãi Núi Thoong, Đồng Ké, chuyển nhà máy Cầu Diễn về Nam Sơn, ưu tiên thực hiện dự án khu xử lý Tân Tiến của vùng; các khu rải rác khác xây dựng thành khu tái chế và trung chuyển.

  • Sinh thái và đa dạng sinh học

Bảo vệ rừng phòng hộ (Sóc sơn, Ba Vì) (gián tiếp bảo vệ nguồn nước) và công viên, hệ thống hành lang cây xanh đô thị. Đến 2050 tỷ lệ cây xanh là 10-15m2/người.

  •  Tai biến môi trường

Động đất: cần nghiên cứu kháng chấn trong xây dựng các công trình vì Hà Nội nằm trong vùng động đất cấp 7-8.

Lũ lụt: phân lũ cho các sông, kiên cố hệ thống đê điều, đảm bảo hệ thống bơm thoát vận hành tốt.

Xói lở bờ: tu bổ, bê tông hóa đê với một số khu vực như Cổ Đô, Đan Hoài, Chèm, Tầm Xá...; hạn chế phát triển khu vực ngoài đê; kiểm soát khai thác cát trên sông Hồng, Đuống; dần di chuyển các khu dân cư ngoài đê, quy hoạch khu vực này thành công viên, cây xanh như hành lang an toàn bảo vệ

Hình thành các khu vực, công trình công cộng được cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường cân thiết cho người dân sơ tán khi có trường hợp xấu xảy ra

 

III.      TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

13.1.        Tài chính đô thị

13.1.1.  Đánh giá

a. Mục tiêu của Chính phủ Việt Nam: Trở thành một nước công nghiệp có thu nhập trung bình

Theo các cuộc phỏng vấn với các cơ quan Chính phủ, tất cả các cơ quan này đều có rất nhiều các chương trình và kế hoạch khác nhau cho tương lai, thì mục tiêu trong vòng 20 năm tới của Chính phủ Việt Nam, nói một cách đơn giản, là trở thành “một nước công nghiệp có thu nhập trung bình”.

Nếu như mục tiêu này có thể đạt được, thì về mặt tài chính, điều này sẽ có nghĩa là:

            - Việt Nam sẽ có một nền kinh tế và nguồn ngân sách lớn hơn rất nhiều

            - Mức độ rủi ro kinh doanh của Việt Nam hiện đang ở hạng B (không phù hợp cho đầu tư) sẽ vươn lên hạng phù hợp cho đầu tư (Hạng BBB và cao hơn); điều này có nghĩa là việc tiếp cận vốn sẽ dễ dàng hơn.

Cho đến khi đạt được mục tiêu này, nguồn tài chính của Việt Nam vẫn còn hạn chế. Vì vậy, một kế hoạch tài chính được dự trù kĩ lưỡng và thực thi một cách cẩn thận là yếu tố then chốt để có thể đạt được các mục tiêu của Chính phủ. Có 6 thành tố chính về tài chính bao gồm:

            1. Ngân sách nhà nước.

            2. Nguồn vốn ODA.

            3. Nguồn vốn liên doanh (FDI,...)

            4. Đầu tư tư nhân trong và ngoài nước

            5. Hợp tác giữa Nhà nước và nhân dân (PPP).

            6. Vay tín dụng tại các ngân hàng thương mại.

Hà Nội, thủ đô của Việt Nam, sẽ thiết lập tiêu chuẩn cho việc thực thi 4 thành tố then chốt của tài chính đô thị

b. Ngân sách Nhà nước phân bổ cho Thủ đô Hà Nội và khu vực phía Bắc Việt Nam (2010 - 2030)

Tài chính đô thị cho thủ đô Hà Nội mở rộng phụ thuộc vào Ngân sách Nhà nước Việt Nam. Mặc dù ngân sách nhà nước không phải là nguồn tài chính duy nhất cho kế quy hoạch mở rộng Hà Nội nhưng lại là một phần quan trọng trong tài chính đô thị. Chiến lược cấp quốc gia được phản ánh trong cơ cấu ngân sách, và việc phân bổ các nguồn tài chính cho các sáng kiến, đặc biệt ở khu vực phía bắc Việt Nam có vai trò quan trọng đối với sự thành công của kế quy hoạch mở rộng Hà Nội.

Ở đây chúng ta hãy xem xét tổng quan tình hình Ngân sách nhà nước để hiểu rõ hơn về tài chính đô thị của Hà Nội mở rộng. Chúng ta cần lưu ý là hiện nay, quy hoạch chung phát triểntổng thể kinh tế xã hội cho Hà Nội mở rộng đến năm 2030 chỉ đang trong giai đoạn hoàn thiện chứ chưa được hoàn tất. Do đó, trong tài liệu này, chúng tôi cung cấp các số liệu dựa trên các số liệu trước đây của Chính phủ như là một xuất phát điểm để nắm rõ bối cảnh chung trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn chế. Quy hoạch chung xây dựng phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.

Từ khi áp dụng chính sách Đổi mới (đổi mới kinh tế) năm 1986, Việt Nam đã đạt được những hiệu quả kinh tế từ các thị trường mở cửa, nới lỏng quy định và tự do hóa. Nhờ có phương thức tiếp cận vốn linh hoạttư bản chủ nghĩa này mà đất nước đã trải qua giai đoạn tăng trưởng kinh tế đồng bộ và nâng cao mức sống của người dân. Trong vòng hai mươi năm (1987-2007), đất nước đã có những thay đổi đáng kể trong mọi mặt kinh tế và xã hội.

Kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng mạnh mẽ từ năm 1996 và gặp ít rủi ro hơn so với các nước khác trong khu vực. Bất chấp những sụt giảm mạnh mẽ trong GDP đối với phần lớn các nước Đông Nam Á trong cuộc khủng hoảng tài chính, Việt Nam chỉ trải qua một đợt suy giảm nhẹ và vẫn duy trì mức tăng trưởng dương. Năm 2008, GDP bình quân đầu người/năm của Việt Nam đã đạt 1.034 USD, của Hà Nội 1.696 USD.

Với mức tăng trưởng nhanh về GDP, ngân sách nhà nước không ngừng lớnliên tục tăng mạnh. Chi ngân sách nhà nước tăng gấp 4 lần so với năm 2000.

c. Ngân sách Thủ đô Hà Nội (2010 – 2030)

Trong tổng ngân sách của Việt Nam, ngân sách cụ thể của Thủ đô Hà Nội cần được xem xét lại, cân đối với ngân sách cả nước.

Tại Việt Nam, GDP bình quân đầu người đang tăng. Thu nhập khả dụng ở cả khu vực nông thôn và thành thị đều cao hơn, nhưng 2 khu đô thị chính có mức tăng rõ rệt nhất.

Trong vòng 3 năm trở lại đây, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã đat được mức tăng trưởng lớn, GDP bình quân đầu người ở 2 thành phố này tăng hơn 2 lần so với các khu vực còn lại trên toàn quốc. Với chức năng là các trung tâm thương mại và trung tâm lớn, nhưng Chính phủ hi vọng các tỉnh thành khác và các thành phố loại 2 sẽ có thể bắt kịp 2 thành phố này. Thu nhập của Hà Nội năm 2006 có mức tăng lớn và năm 2007 cũng vậy.

Thậm chí với tốc độ GDP đầu người tăng nhanh và kéo theo ngân sách thành phố tăng, thì tổng ngân sách cũng vẫn chỉ là 1 phần nhỏ trong tổng chi cần thiết để thực hiện mở rộng Hà Nội.

Hiện nay, tổng ngân sách thành phố là vào khoảng 1,5 tỉ đô la Mỹ. Con số này sẽ còn tăng theo sự tăng trưởng GDP của cả nước. Trong số 1,5 tỉ đô la Mỹ, số tiền chi vào các sáng kiến xây dựng cơ sở hạ tầng không đủ cho tất cả các dự án. Việc đầu tư và sử dụng nguồn vốn ODA và FDI của các ngành tư nhân là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công của dự án quy hoạch mở rộng.

 

Bảng 69: Tổng hợp nguồn vốn đầu tư phát triển đô thị

STT

Chi phí đầu tư

2008

2009

Kế hoạch

năm 2010

 
 

 

Tổng (triệu USD)

5,824.294

6,941.176

8,352.941

 

I

Đầu tư phát triển do địa phương quản lý

5.703

6,653.176

8,044.529

 

1

Ngân sách trung ương

615.471

794.706

1,478.706

 

 

- Vốn trong nước

576.118

783.529

1,234.118

 

 

- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

39.353

11.176

244.588

 

2

Vốn trái phiếu chính phủ

10.235

22.765

78.235

 

3

Vốn tín dụng đâu tư phát triển của Nhà nước

350.176

406.647

429.176

 

4

Vốn đầu tư của các doanh nghiêp nhà nước

305.882

335.294

348.471

 

5

Vốn đầu tư của người dân và các doanh nghiêp ngoài nhà nước

3,882.000

4,564.353

5,151.118

 

6

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

539.412

529.412

558.824

 

II

Vốn đầu tư phát triển do các bộ ngành trung ương quản lý

121.118

288.000

308.412

 

 

* Nguồn: Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hà Nội năm 2010

 

 

* Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Hình 13.1.1 Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tư

d. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

GDP bình quân đầu người của Việt Nam hiện nay là hơn 1000 USD. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang trở thành một nước có thu nhập trung bình. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ có thêm các nguồn vốn ODA kém ưu đãi hơn như OCR từ Ngân hàng phát triển châu Á và IBRD từ Ngân hàng Thế giới. Điều này được thể hiện rõ trong bản tóm tắt cam kết của Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam được tổ chức từ ngày 3- 4 tháng 12 năm 2009. Mặc dù tổng số vốn cam kết tài trợ năm 2010 là 8 tỉ USD, tăng 2 tỉ USD so với số vốn cam kết 6 tỉ USD năm 2009, số vốn tăng 2 tỉ đô này hầu như hoàn toàn là ‘ODA kém ưu đãi hơn’.

ODA ưu đãi có lãi suất khoảng 0.7% một năm với ân hạn 10 năm và thời hạn 40 năm.

Lãi suất ODA kém ưu đãi hơn được tính bằng lãi suất LIBOR + 1.5% (đây chỉ là tỉ lệ tương đối, có thể thay đổi) và thời gian ân hạn ngắn. Điều này tạo thêm áp lực cho khả năng cân đối thu chi của chính phủ. Các nguồn vốn ODA kém ưu đãi hơn vẫn là công cụ tài chính rẻ hơn rất nhiều so với mức lãi suất trên thị trường có thời gian ân hạn ngắn hơn rất nhiều và lãi suất ở vào khoảng lãi suất LIBOR + 4% do mức độ rủi ro đầu tư của Việt Nam.

Nhật Bản, Pháp và Hàn Quốc là 3 nhà tài trợ vốn ODA song phương lớn nhất cho năm 2010, Ngân hàng Thế giới và Ngân Hàng phát triển châu Á tài trợ gần một nửa toàn bộ số vốn ODA và hầu hết vốn ODA đa phương.

Giải ngân vốn ODA của Việt Nam ước đạt gần 2 tỉ USD (trong tổng số vốn ODA cam kết là 4.45 tỉ USD) năm 2007, vươt  5% chỉ tiêu. Đây là năm thứ 3 liên tiếp giải ngân vốn ODA của Việt Nam đat ngoài dự kiến.

Theo Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam, giải ngân vốn ODA hàng năm cần đạt 2.6-2.7 tỉ USD trong vòng 3 năm tới để có thể hoàn thành chỉ tiêu giai đọan 2006-2010 là 11.9 tỉ USD.

Theo Tổng cục thống kê, vốn ODA cam kết trong quý 1 năm 2008 đạt khoảng 369 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Giải ngân vốn ODA đạt mức dự kiến của năm là 11%, tương đương 210 triệu USD.

Chính phủ đã xác định các lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA khác bao gồm giao thông, cấp thoát nước, tưới tiêu, xây dựng trường học, giáo dục, đào tạo nhân lực và một số chương trình phát triển nông nghiệp khác có tỷ lệ hoàn vốn đầu tư cao, tạo thêm công ăn viêc làm và góp phần giảm nghèo.

 Hiện nay GDP trên đầu người của Việt Nam vượt 1000 usd, con số này sẽ càng gây khó khăn hơn cho việc thu hút vốn ODA. Làm hài hòa giữa nhu cầu của Hà Nội và nhu cầu của các nước phát triển là điều vô cùng quan trọngcòn quan trọng hơn trước đây. Cần phải có sự phối hợp liên tục giữa các nước hỗ trợ ODA truyền thống như Châu Âu và Nhật Bản cùng với các nước hỗ trợ mới như Hàn Quốc để duy trì đầu vào của dòng vốn ODA. Thêm vào đó, tổng số vốn ODA phải giữ ở mức bền vững.

e. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 

Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư Việt Nam (MPI) đã chính thức đặt mục tiêu thu hút vốn FDI cho năm 2009. Trong năm 2009 Việt Nam đặt mục tiêu thu hút 30 tỉ USD, chỉ bằng một nửa chỉ tiêu của năm 2008. Các nhà chức trách đã đưa ra một số lí do giải thích điều này: (1) khủng hoảng tài chính thế giới (2) Các nước trong khu vực đã nâng cao chỉ số cạnh tranh và điều này có thể thu hút nhiều vốn FDI hơn vào nước họ (3) Các nguyên nhân khác xuất phát từ khả năng cạnh tranh của đất nước như các điều kiện về cơ sở hạ tầng, các thủ tục hành chính.

Ngày 1/7/2006, Việt Nam ban hành Luật Đầu tư Nước ngoài và Luật Doanh nghiệp, vào tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, tổ chức thương mại lớn nhất thế giới.

Ngay sau 2 sự kiện lớn này, hàng loạt nghị định và thông tư đã được Chính phủ ban hành nhằm nới lỏng và thanh lọc môi trường đầu tư.

Năm 2007, với tổng dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam là 20,3 tỷ Đô la Mỹ, Việt Nam đã phá kỷ lục nguồn vốn FDI chảy vào ở mức 9,9 tỷ Đô la Mỹ đạt được vào năm 2006. Đã có hơn 17 tỷ Đô la Mỹ đầu tư vào các dự án mới cùng với 3 tỷ Đô la Mỹ  từ các cam kết tăng vốn của các dự án vài năm trước đây. Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất, tiếp theo là Hà Nội và Hà Tây và các tỉnh xung quanh Hà Nội.

Trong quý đầu năm 2008, Việt Nam đã thu hút được 5,44 tỉ đôla Mỹ vốn FDI trong đó có 280,3 triệu đôla vốn tăng thêm và 5,16 tỉ đôla Mỹ vốn mới.

FDI là một phần tài chính đô thị quan trọng dành cho Hà Nội mở rộng. FDI không ảnh hưởng đến hệ số nợ có thể kiểm soát được của Việt Nam. Theo kế hoạch Kinh tế - Xã hội của Hà Nội đến năm 2030, FDI là nhân tố quan trọng hàng đầu trong 20 năm tới (2010 – 2030).

Hà Nội đã và đang là đơn vị được nhận FDI lớn kể từ đầu những năm 1990 và mặc dù có giảm sút từ năm 1999 đến 2004, nhưng FDI gần đây đã tăng lên đáng kể. Trong ba năm qua đã ghi nhận những kỷ lục cao nhất. Năm 2007 là năm có kỷ lục cao thứ hai với 1,5 tỷ Đô la Mỹ từ FDI.

Bí quyết nhằm thu hút nhiều FDI hơn cho đồ án này chính là việc ưu tiên các dự án cơ sở hạ tầng trọng yếu, và dịch các dự án này sang ngôn ngữ tài chính quốc tế. Điều này sẽ tăng độ tin cậy và giảm rủi ro cho các tổ chức cung cấp FDI trên thế giới. Danh sách ưu tiên này được thống nhất với một ngân hàng phát triển đáng tin cậy như Ngân hàng Thế giới hoặc Ngân hàng Phát triển Châu Á để thúc đẩy một môi trường đầu tư tích cực cần thiết cho việc đầu tư hạ tầng đô thị quy mô lớn để phục vụ thực hiện dự án.

13.1.2. Tổng chi phí đầu tư

 

Bảng 70: Tổng chi phí đầu tư

TT

Hạng mục

Giai đoạn 2010-2020

Giai đoạn 2021-2030

Giai đoạn 2031-2050

Tổng 2 giai đoạn(2010-2030)

Tỉ lệ(%)

Nguồn vốn

Chú thích

tỉ VN đồng

tỉ USD

tỉ VN đồng

tỉ USD

tỉ USD

tỉ VN đồng

tỉ USD

 

Tổng cộng

568.167

30,7

534.473

28,9

29,9

1.102.640

60

100

 

Quy đổi: 1$=18.500VND

1

Giao thông

377.748,3

20,4

237.916,1

12,9

16,8

615.664,4

33,3

55,8

Đa dạng

Đơn giá tham khảo các đồ án QH của Hà Nội và theo các dự án

 

Trong đó: tuyến metro

 

 

181.010

9,8

8,2

181.010,0

9,8

16,4

ODA, vay

 

2

Chuẩn bị kỹ thuật

75.695,5

4,1

145.991,7

7,9

6,0

221.687,2

12,0

20,1

Ngân sách, trái phiếu Chính phủ, vay

Đơn giá tham khảo các đồ án QH của Hà Nội và theo các dự án(nhưng tính gấp đôi)

3

Cấp nước

14.825,0

0,8

15.835,0

0,9

0,6

30.660,0

1,7

2,8

Ngân sách, trái phiếu Chính phủ, vay

 

4

Cấp điện

57.651,0

3,1

54.289,0

2,9

3,0

111.940,0

6,1

10,2

Trái phiếu Chính phủ, vay, liên doanh, tư nhân

 

5

Thoát nước thải

30.247,5

1,6

41.884,0

2,3

2,0

72.131,5

3,8990

6,5

ODA

 

6

Quản lý chất thải rắn

11.803,0

0,6

24.364,5

1,3

1,0

36.167,5

1,9550

3,3

Liên doanh, tư nhân

 

7

Nghĩa trang, nhà tang lễ

196,840

0,01064

391,275

0,02115

0,02

588,115

0,0318

0,1

Ngân sách, tư nhân

Theo đơn giá Hàn quốc, đền bù đất nông nghiệp của Việt Nam, tham khảo giá lò hỏa táng Văn Điển

8

Tuynel kỹ thuật(85,3 km)

 

 

13.801,0

0,7

0,5

13.801,0

0,7

1,3

ODA, vay, liên doanh

 

Chú thích:

  1. Kinh phí chỉ tính đến khung-mạng hệ thống kỹ thuật chính, mạng nhánh sẽ được tính chi tiết trong QH phân khu, QH chi tiết ở các bước sau.
  2. Toàn bộ các khu đô thị, du lịch-nghỉ dưỡng, công nghiệp, cây xanh... sẽ được đầu tư bằng nguồn vốn của ngành, liên doanh, trái phiếu Chính phủ, tự có…trong dự án thành phần sau này
  3. Kinh phí chưa tính phí mua trang thiết bị và nhân công trong bảng trên
  4. Không tính kinh phí đền bù giải phóng mặt bằng trong quy hoạch chung
  5. Quy đổi 1 triệu USD bằng 18,5 tỉ VND
  6. Đơn giá xây dựng tuynel kỹ thuật: 8.750 $/m
  7. Đơn giá xây dựng metro: 40-60 triệu đô/km

 

 

Dự kiến giai đoạn 2010-2050 sẽ xây dựng hoàn chỉnh các công trình hạ tầng kỹ thuật khung cho toàn đô thị (bao gồm hệ thống giao thông, chuẩn bị kỹ thuật, cấp thoát nước, cấp điện, khu xử lý chất thải rắn, nhà hỏa táng, nghĩa trang và các tuyến tuynel kỹ thuật chính), tổng kinh phí cần khoảng 90 tỷ USD. Trong đó, giai đoạn 2010-2020 để tạo động lực phát triển, Hà Nội sẽ đẩy mạnh xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung với tổng kinh phí khoảng 30,7 tỷ USD (giao thông chiếm 56% tổng vốn đầu tư tương ứng khoảng 20,4 tỷ USD); giai đoạn 2020-2030, kinh phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung tăng thêm khoảng 28,9 tỷ USD (giao thông tăng thêm khoảng 12,9 tỷ USD); giai đoạn 2030-2050, cần tăng thêm khoảng 29,9 tỷ USD (giao thông tăng thêm khoảng 16,8 tỷ USD).

Theo báo cáo tổng hợp “QH tổng thể KT-XH thành phố Hà Nội tầm nhìn đến năm 2030” với tốc độ tăng trưởng GDP 9% tổng nhu cầu vốn đầu tư xã hội sẽ khoảng 160 tỉ USD, gồm 16-18% vốn đầu tư của ngân sách nhà nước ; 1,5-1,8% vốn tín dụng nhà nước ; 9-12% vốn doanh nghiệp nhà nước ; 52-55% vốn của nhân dân và doanh nghiệp ngoài nhà nước ; 14-16% vốn FDI ; 2,2-2,5% vốn khác. Dự thảo Luật Thủ đô dành cho xây dựng hạ tầng 40-50% tổng vốn. Như vậy trong giai đoạn này sẽ có khoảng 20-30 tỉ USD đầu tư vào thực hiện xây dựng khung hạ tầng quy hoạch chung xây dựng Hà Nội. Đến năm 2030, trong tổng vốn 280 tỉ USD sẽ trích khoảng 10-20% cho xây dựng hạ tầng khung, tương đương 20-30 tỉ USD khái toán.

13.1.3. Các giải pháp huy động vốn:

Xây dựng hạ tầng khung đô thị cho Thủ đô Hà Nội chủ yếu sẽ dựa vào sức các nhà đầu tư, sức dân và quỹ đất; hạn chế việc sử dụng vốn ngân sách và vốn vay.

Do vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước sẽ liên tục giảm dần, đến 2020 có 3,5 tỉ USD. Ưu đãi của vốn ODA đến 2020 có 2,5 tỉ USD. Các năm sau giảm đi do tăng trưởng GDP tăng lên-thu nhập bình quân đầu người tăng và 2 tỉ USD vốn FDI đến 2020.Sau đó từ từ tăng, tức cải thiện môi trường đầu tư-tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. Đồng thời tỉ lệ vốn huy động từ các doanh nghiệp, chú trọng thu hút vốn tư nhân nâng lên -chiếm tới 1/2 tổng vốn xây dựng. Dự án điện và giao thông rất thuận lợi cho nhà đầu tư tư nhân, dễ thu hồi vốn thông qua thu phí. Ngoài các loại hình vốn trên vẫn cần vay vốn. Kinh nghiệm của các nước đang phát triển như vay của một tổ chức, IDA, trong Tập đoàn ngân hàng thế giới với lãi suất rất thấp 0,75%/năm hoặc không lãi suất, kỳ hạn 40 năm và ăn hạn 10 năm. Đây chính là nguồn vay “nợ bền vững”. Hợp tác giữa nhà nước và tư nhân-PPP. Hình thức huy động vốn này sẽ giảm rủi ro cho các nhà đầu tư như cấp bảo lãnh/hoặc liên kết cơ cấu cấp vốn để điều chỉnh lãi suất với các nhà đầu tư và tranh thủ được sự quản lý có hiệu quả, áp dụng tiến bộ kỹ thuật của họ.

Như vậy, nguồn vốn ngân sách của Nhà nước sẽ được sử dụng như nguồn vốn khởi động để khuyến khích các nguồn vốn ODA, FDI vào xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung; thực hiện phân kỳ đầu tư và có thứ tự ưu tiên đầu tư. Ví dụ như: giai đoạn 2010-2020, tập trung nguồn lực xây dựng hạ tầng kỹ thuật như hoàn thiện các tuyến vành đai 3, vành đai 4, các tuyến giao thông huyết mạch, hạ tầng các KCN, khu thương mại đầu mối...đảm bảo cân đối hợp lý giữa các mục tiêu và nguồn lực.

Để phát triển kết cấu hạ tầng khung cần huy động tối đa nguồn vốn nội lực, chủ yếu từ nguồn kinh phí đấu giá quỹ đất xây dựng đô thị, tài sản công thuộc sở hữu Nhà nước. Trong dó, đất đai là nguồn lực vô cùng lớn và hiệu quả, đặc biệt là ở Thủ đô Hà Nội. Nguồn lực từ đất đai sẽ gia tăng giá trị rất lớn khi có quy hoạch tốt và Nhà nước có cơ chế, chính sách với nhiều phương thức đầu tư linh hoạt như BT, BOT, BOO hoặc PPP, đảm bảo hài hoà lợi ích của người dân - nhà đầu tư - Nhà nước, từ đó thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế, xã hội hoá lĩnh vực đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý Nhà nước là làm thế nào để kiểm soát và thu được nguồn lợi từ đất đai này để đầu tư trở lại cho đô thị, chứ không phải để nó rơi vào khâu trung gian hoặc giới đầu cơ. Ngoài ra, có thể thu hút vốn từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.

13.1.4. Phân kỳ phát triển

a. Phân kỳ đầu tư

Đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội sẽ được triển khai thực hiện theo các mốc thời gian như sau:

  • Giai đoạn từ năm 2010-2020. Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung, trong đó ưu tiên xây dựng mạng lưới giao thông công cộng, hạ tầng các KCN, các khu thương mại đầu mối, hạ tầng các cơ sở trường đại học, các đô thị mới phía Đông đường vành đai IV và phía Bắc sông Hồng. Tiếp tục hoàn thiện các khu vực dự án: Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà nội, Khu công nghệ cao trong đô thị Hòa Lạc
  • Giai đoạn 2020-2030. Tiếp tục xây dựng các hạng mục công trình đã triển khai trong giai đoạn 2010-2020. Xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội trong các đô thị mới mở rộng của đô thị trung tâm và HTKT các đô thị vệ tinh khác. Cải tạo khu vực nội đô. Xây dựng hạ tầng khu dân cư nông thôn.
  • Giai đoạn 2030-2050. Phát triển hài hòa và tiếp tục hoàn thiện các hạng mục công trình đã xây dựng trong giai đoạn 2010-2030.

b. Phân kỳ đầu tư các dự án hạ tầng kỹ thuật khung

Các dự án quy hoạch Hà Nội mở rộng được phân thành 3 loại: 1) Phát triển bền vững (cơ sở hạ tầng, môi trường và sử dụng đất); 2) Phát triển con người; 3) Giảm nghèo và Quản lý kinh tế. Các dự án ưu tiên bao gồm: Giao thông công cộng; Đường xá; Năng lượng ; Cấp nước; Thoát nước; Thông tin liên lạc; Chất thải rắn. Tổng chi phí đầu tư các dự án là 29,214 triệu USD.

1) Giai đoạn 2010-2020:

a) Giao thông

(Chi tiết trong mục Quy hoạch xây dựng đợt đầu 2010-2020)

b) Chuẩn bị kỹ thuật

  • Dự án sông Đáy: XD mới công trình phân lũ; Cải tạo lòng dẫn sông Đáy; Cải tạo, nâng cấp hệ thống đê sông Đáy
  • Nâng cấp đê sông
  • Dự án thoát nước giai đoạn II: TB Yên Sở ; Cải tạo kênh các lưu vực s.Tô Lịch, Lừ, Hoàng Liệt, Sét, Kim Ngưu; Cải tạo hồ:Bảy Gian, Hào Nam, Bảy Mẫu, Đống Da 1, Hố mẻ, Phương Liệt, Khương Trung 1,2; Tân Mai, Định Công , Linh Đàm
  • Cải tạo, nâng cấp trục sông Nhuệ
  • Đầu tư CBKT  các khu dự kiến xây dựng đợt đầu: Vành đai 3-4, khu đô thị Hoà Lạc, Sóc Sơn…

c) Cấp nước

  • Nâng công suất NMN mặt sông Đà đạt công suất 600.000 m3/ngđ
  • Xây dựng NMN sông Hồng công suất 300.000 m3/ngđ
  • Xây dựng NMN sông Đuống công suất 300.000 m3/ngđ
  • Xây dựng các trạm cấp nước quy mô nhỏ cho khu vực nông thôn tổng công suất  200.000 m3/ngđ
  • Xây dựng mạng lưới cấp nước và các trạm bơm tăng áp của các đô thị phát triển giai đoạn 2010- 2020

d) Cấp điện

  • Xây mới các trạm 500KV Quốc Oai, Hòa Hiệp, Đông Anh; cải tạo mở rộng trạm 500KV Thường Tín. Xây dựng đường dây 500KV từ Việt Trì qua Quốc Oai về Thường Tín và tuyến 500kV Hiệp Hòa – Phố Nối.
  • Xây mới hệ thống và cải tạo 21 trạm 220KV với tổng công suất 9.000MVA.
  • Xây mới các trạm và đường dây 110KV cấp nguồn đến từng vùng phụ tải.

e) Thoát nước thải

  • Xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải đô thị trung tâm (từ vành đai 4 trở vào khu trung tâm).
  • Xây dựng tuyến cống bao dọc sông Tích, phục vụ các phường đông sông Tích và 1 đơn nguyên trạm XLNT phục vụ đô thị Sơn Tây.
  • Xử lý nước thải cho khu ĐHQG, đô thị Hòa Lạc theo quy hoạch.
  • Xử lý nước thải cho các KCN tập trung.

f) Quản lý chất thải rắn:

  • Mở rộng khu xử lý CTR Sóc Sơn thêm 70 ha; nhà máy xử lý CTR Sơn Tây thêm 10 ha (bao gồm cả đốt CTR y tế nguy hại)
  • Xây dựng các nhà máy xử lý CTR mới tại Đồng Ké (Chương Mỹ); Cao Dương (Thanh Oai); Việt Hùng (Đông Anh); Châu Can (Phú Xuyên); các huyện Thạch Thất, Đan Phượng theo quy hoạch.
  • Xây dựng các bãi đổ CTR tại Thanh Trì, Đông Anh.
  • Sử dụng tối đa công suất các nhà máy xử lý CTR hiện có (Cầu Diễn, Kiêu Kỵ).

g) Nghĩa trang, nhà tang lễ:

  • Mở rộng các nghĩa trang Thanh Tước (Mê Linh), Trung Sơn Trầm (Sơn Tây).
  • Xây dựng mới các nghĩa trang Xuân Nộn (Đông Anh), Mai Dịch II (Thạch Thất), Minh Phú (Sóc Sơn); nghĩa trang huyện Gia Lâm với các công nghệ táng đã đề xuất.
  • Xây dựng các nhà tang lễ phục vụ khu vực Hà Nội cũ và khu vực vành đai 3-4.

2.Giai đoạn 2020-2030:

a) Giao thông:

  • Xây dựng, hoàn chỉnh (nâng tầng) các tuyến đường vành đai 2,3, xây mới tuyến vành đai 4, tuyến trục đô thị giữa đường vành đai 3 và 4 (đường Lê Trọng Tấn; Cải tạo mở rộng Ql3,6, đường 70, tuyến Xuân Mai- Sơn Tây;
  • Xây dựng các tuyến cao tốc Hà Nội – Việt Trì, Hà Nội Thái Nguyên, Hà Nội – Hải Phòng; Nội Bài – Hạ Long và các tuyến Hồ Tây- Sơn Tây, Đỗ Xá-Quan Sơn, tuyến Bắc Nam qua hành lang xanh sông Đáy;
  • Xây dựng mạng lưới 5 tuyến đường sắt đô thị, ưu tiên tuyến số 2 đi Nội Bài;
  • Nâng cấp đường sắt quốc gia;
  • Mở rộng cảng hàng không Nội Bài.

b) Chuẩn bị kỹ thuật:

  • Dự án sông Tích
  • Đầu tư CBKT các khu dự kiến dài hạn: khu đô thị Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên……
  • Tiếp tục nâng cấp đê sông

c) Cấp nước:

  • Nâng công suất NMN mặt sông Đà lên thêm 300.000 m3/ngđ đạt công suất 1.200.000 m3/ngđ
  • Nâng công suất NMN sông Hồng đạt  công suất 450.000 m3/ngđ
  • Nâng công suất NMN sông Đuống đạt  công suất 600.000 m3/ngđ
  • Nâng công suất các trạm cấp nước quy mô nhỏ cho khu vực nông thôn đạt  công suất  250.000 m3/ngđ
  • Xây dựng mạng lưới cấp nước và các trạm bơm tăng áp của các đô thị phát triển giai đoạn 2020-2030

d)Cấp điện:

Xây mới các trạm 500KV Đan Phượng; cải tạo mở rộng các trạm 500KV đã có đến 2020 là Thường Tín, Quốc Oai, Hiệp Hòa, Đông Anh.

  • Giai đoạn này hệ thống điện chính đã định hình, bổ xung thêm 04 trạm 220KV và cải tạo 21 trạm 220KV đã có đến 2020 với tổng công suất hoàn thiện đạt 14250MVA. Hạ ngầm các tuyến 220KV Hà Đông – Chèm, Thành Công – Mai Động.
  • Định hình bổ xung công suất hoặc xây mới các trạm và đường dây 110KV cấp nguồn cho từng khu vực của thành phố.

e) Thoát nước thải:

  • Xây dựng hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải các đô thị vệ tinh, các thị trấn theo quy hoạch.

f) Quản lý chất thải rắn:

  • Mở rộng, nâng công suất các khu xử lý CTR Sóc Sơn; Châu Can; Cao Dương; Đồng Ké; Việt Hùng; Sơn Tây theo quy hoạch.
  • Xây dựng mới khu xử lý CTR Phù Đổng (Gia Lâm); Lại Thượng (Thạch Thất) theo quy hoạch.

g) Nghĩa trang, nhà tang lễ:

  • Mở rộng nghĩa trang Thanh Tước, Minh Phú, nghĩa trang huyện Gia Lâm, Mai Dịch 2, Vĩnh Hằng theo quy hoạch.
  • Xây dựng mới nghĩa trang Yên Kỳ 2 theo quy hoạch.
  • Xây dựng  nhà tang lễ cho các đô thị còn lại.

3.Giai đoạn 2030-2050

a). Giao thông:

Hoàn thiện hệ thống giao thông của đô thị

b). Chuẩn bị kỹ thuật:

  • Tiếp tục hoàn thiện các trục sông đi qua đô thị
  • Thực hiện hoàn chỉnh hệ thống thoát nước tại các đô thị, thị trấn…
  • Xây dựng các hệ thống tái sử dụng nước mưa với công nghệ hiện đại

c). Cấp nước:

  • Nâng công suất NMN mặt sông Đà lên thêm 300.000 m3/ngđ đạt công suất 1.200.000 m3/ngđ
  • Nâng công suất NMN sông Đuống đạt  công suất 900.000 m3/ngđ
  • Nâng công suất các trạm cấp nước quy mô nhỏ cho khu vực nông thôn đạt  công suất  300.000 m3/ngđ

d). Cấp điện:

  • Giai đoạn sau 2030 đến 2050, hệ thống điện TP đi vào hoạt động ổn định. Giai đoạn này chủ yếu bổ xung hoặc thay thế các đường dây tiết diện nhỏ thành dây chịu nhiệt để tăng khả năng tải điện. Thay thế các máy biến áp chính quá tải bằng các máy biến áp có công suất lớn hơn.

e). Thoát nước thải:

  • Xây dựng hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải các thị trấn, các điểm dân cư nông thôn, các làng nghề theo quy hoạch.

f). Quản lý chất thải rắn:

  • - Mở rộng, nâng công suất các khu xử lý CTR Sóc Sơn; Việt Hùng; Châu Can; Phù Đổng;  Cao Dương; Đồng Ké; Việt Hùng; Sơn Tây, huyện Thạch Thất, Đan Phượng theo quy hoạch.
  • - Xây dựng mới khu xử lý CTR Tiến Sơn theo quy hoạch.

g) Nghĩa trang, nhà tang lễ:

  • - Mở rộng các nghĩa trang Minh Phú, Thanh Tước, nghĩa trang huyện Gia Lâm, Mai Dịch 2, Yên Kỳ 2 theo quy hoạch.

13.1.5.  Quản lý nguồn vốn đầu tư

1) Tổ chức thực hiện

Trong vòng mười năm qua, kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh trong đó mức tăng trưởng trung bình của GDP là 7.2%. Chính phủ Việt Nam đang dự kiến mở rộng thành phố thủ đô của mình là Hà Nội nhằm bắt kịp tốc độ tăng trưởng của thành phố.

 Diện tích đô thị Hà Nội cũ là 186.22km2, và ranh giới thành phố đã mở rộng đến 3.344.7km2 theo kế hoạch của chính phủ. Dân số dự kiến tăng từ 6.3 triệu đến 10 triệu người. Tổng dự toán vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng Thành phố Hà Nội vào khoảng 90 tỉ USD, Về thời hạn và quy mô dự án, chúng tôi cho rằng khoản vay Chính phủ và cấp vốn dự án là những nguồn tài chính phù hợp.

Về lãi suất, thời gian ân hạn, và kỳ hạn, khoản vay Chính phủ là nguồn vốn tốt hơn cho Chính phủ Việt Nam. Chẳng hạn, IDA, một tổ chức trong Tập đoàn Ngân hàng Thế giới, cấp vốn rẻ không lãi suất hoặc lãi suất rất thấp, 0.75%, kỳ hạn 40 năm và ân hạn 10 năm.

Quá trình nghiên cứu đã tiến hành phân tích 'nợ bền vững' để xem xét khả năng của nền kinh tế Việt Nam và khả năng vay mượn trong tương lai của nền kinh tế này. Căn cứ vào nghiên cứu thực nghiệm về 'nợ bền vững' ở những nước đang phát triển, sử dụng 60% 'nợ bền vững' làm giả thiết cơ sở. Theo phân tích với các chỉ số kinh tế vĩ mô hiện nay, kinh tế Việt Nam tương đối ổn định và thuận lợi cho khả năng vay mượn trong tương lai có sử dụng nợ công trong điều kiện bình thường.

Tuy nhiên, việc phân tích tính nhạy cảm trong phạm vi các giả thiết vĩ mô cho thấy nợ bên ngoài mà Chính phủ Việt Nam có thể vay mượn rất bất ổn và hạn chế trong một số trường hợp. Theo giả thiết về tỷ suất hối đoái không ổn định, tình hình có thể xấu hơn. Để giảm rủi ro nợ bên ngoài không ổn định, Chính phủ nên đa dạng hóa các nguồn tài chính của mình cho tài chính tư nhân, đặc biệt là cấp vốn dự án.

Chính phủ có thể hưởng lợi ích phụ từ nguồn vốn tư nhân; 1) nhằm giảm rủi ro chung cho những thành phần tham gia dự án chính, và 2) có thể tranh thủ sự quản lý hiệu quả hơn từ khu vực tư nhân.

Hiện nay, cho vay cấp vốn dự án đã tăng lên đáng kể, do đó, Việt Nam có thể tranh thủ nguồn vốn từ việc cấp vốn dự án, đặc biệt với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế vĩ mô.

Có một số yêu cầu đối với việc thu xếp cấp vốn dự án. Cấp vốn dự án chỉ dựa vào một tài sản duy nhất, do đó, các dự án Hà Nội cần được phân ra thành những dự án nhỏ hơn như điện, giao thông vận tải, viễn thông, nước & nước thải, chất thải và tái chế và nông nghiệp.

Rủi ro đối với nước Việt Nam cao hơn mức mà hầu hết các nhà đầu tư có thể gánh chịu. Để giảm rủi ro này, Chính phủ Việt Nam có thể cấp bảo lãnh cho những rủi ro không thể chấp nhận và/hoặc liên kết cơ cấu cấp vốn nhằm điều chỉnh lãi suất đối với các nhà đầu tư.

Quy mô và thời hạn đầu tư cho từng dự án là những vấn đề hết sức quan trọng đối với việc cấp vốn. Đặc biệt trong các thị trường mới nổi như Việt Nam, các nhà đầu tư luôn tỏ ra thận trọng hơn và quy mô đầu tư thường nhỏ hơn. Công nghiệp cũng có tác động mạnh đến khả năng cấp vốn. Nhìn chung, điện và giao thông vận tải là những ngành công nghiệp cấp vốn dự án thuận lợi nhất và nông nghiệp, chất thải & tái chế là những ngành kém lợi thế nhất. Chúng tôi cho rằng nên sử dụng sơ đồ dưới đây để xác định điều gì phù hợp với một dự án, tài chính công hoặc tài chính tư. Rõ ràng điều này phụ thuộc vào tính khả dụng tài chính công và mục tiêu của chính phủ.

Lợi thế lớn nhất của việc cấp vốn dự án là quản lý rủi ro. Những người tham gia có thể quản lý các rủi ro dự án bằng cách phân bổ, chia sẻ và ngăn cản hợp lý. Tuy nhiên, rủi ro chính trị rất khó giảm thiểu và nó có thể là trở ngại lớn đối với một số nhà đầu tư muốn tham gia kinh doanh. Trên thực tế, rủi ro chính trị tại Việt Nam tương đối thấp so với các nước mới nổi khác nhưng vẫn ở mức thận trọng. Chính phủ có thể hỗ trợ tích cực trong việc giảm thiểu những lo lắng của nhà đầu tư và tăng khả năng cấp vốn dự án nếu cần thiết.

PPP, Hợp tác Nhà nước - Tư nhân là một hình thức cụ thể của cấp vốn dự án trong đó Chính phủ tích cực chia sẻ rủi ro và tham gia ban hànhthiết lập quyết định. PPP cũng có một số rủi ro riêng. Để tránh những rủi ro này cho PPP và thực hiện thành công một dự án PPP, Chính phủ cần thực hiện những biện pháp sau: 1) Phân bổ và quản lý rủi ro hợp lý, 2) Quy trình mua sắm rõ ràng và hiệu quả, 3) quản lý tốt, 4) hỗ trợ chính trị, 5) chính sách kinh tế hợp lý, 6) khả năng cấp vốn dự án của khu vực nhà nước, 7) các hợp đồng rõ ràng, 8) hành lang pháp lý phù hợp, 9) cơ quan phối hợp và hỗ trợ.

Nếu những vấn đề trên không được kiểm soát đúng cách, nguy cơ thất bại sẽ gia tăng như trường hợp của chương trình đặc nhượng đường bộ Mehico.

Khi áp dụng các khuôn khổ vào quy hoạch tổng thể Hà Nội, chúng tôi cho rằng nên bắt đầu những dự án nhỏ ở ngay giai đoạn đầu để xem xét thị trường và giảm rủi ro cho cả các nhà đầu tư công và nhà đầu tư tư nhân.

Chúng tôi đề nghị áp dụng ba tiêu chí: quy mô, dân số của khu vực và khoảng cách từ khu vực nội đô Hà Nội. Quy mô càng nhỏ, khu vực càng thưa dân. Điều này có thể mang lại chi phí thấp hơn cho kế hoạch phát triển.

Để xác định nguồn tài chính mà Chính phủ sử dụng cho các dự án tiểu ngành trong từng khu vực, chúng tôi đề nghị nên áp dụng tiêu chí ngành làm tiêu chí cơ bản. Tuy nhiên, quy mô đầu tư, tỷ lệ vốn vay yêu cầu và nhu cầu của Chính phủ đối với công nghệ khu vực tư nhân và các kỹ năng quản lý cũng có thể được xem xét khi đưa ra các quyết định cuối cùng.

Ngoài ra, dự án mở rộng Hà Nội còn có một vấn đề đáng bàn nữa là mối quan hệ giữa các dự án tiểu ngành. Sự chậm trễ của một dự án cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dòng tiền dự kiến cho các dự án khác trong cùng khu vực. Giải pháp duy nhất chỉ có thể là sự bảo đảm của Chính phủ hoặc một số hình thức bảo hiểm khác, tuy nhiên điều này có thể gây ra một số vấn đề khác như quá nhiều rủi ro cho chính phủ.

Chúng tôi cho rằng Chính phủ có thể giảm rủi ro bằng cơ cấu tài chính. Về mặt kế hoạch, các dự án có nguồn vốn Chính phủ linh hoạt hơn các dự án có nguồn vốn tư nhân. Chúng ta có thể sử dụng đặc điểm của từng loại hình cấp vốn để giảm rủi ro chung bằng cách phân bổ hợp lý số dự án được cấp vốn nhà nước và tư nhân.

2) Ứng dụng

 Kế hoạch phân kỳ

Hà Nội cũng như Việt Nam không phải là những nơi đã được chứng minh cấp vốn dự án, và vì thế việc bắt đầu dự án nhỏ để khảo sát thị trường và giảm rủi ro cho cả nhà đầu tư công và nhà đầu tư tư nhân là một chiến lược phân kỳ thường được sử dụng.

Quy hoạch cấp vốn cho từng dự án ngành ở các khu vực

Sáu tiểu dự án bao gồm điện, giao thông, viễn thông, nước & nước thải, chất thải & tái chế và nông nghiệp ở từng khu vực cần được triển khai để hoạt động hiệu quả.

Nông nghiệp: Nông nghiệp là ngành kém thuận lợi nhất theo quan điểm của các nhà đầu tư tư nhân không phải do khả năng sinh lợi mà do nhiều rủi ro. Các sản phẩm do các trang trại sản xuất được bán trên các thị trường trong nước hoặc trao đổi trên thị trường hàng hóa toàn cầu. Điều này có nghĩa là các nhà đầu tư có thể hứng chịu rủi ro thị trường lẫn rủi ro nước hữu quan. Do đó, nguồn vốn Chính phủ có lẽ là phù hợp với phát triển nông nghiệp hơn cả. 

Nước & nước thải, chất thải & tái chế: Chi phí các dịch vụ này tương đối thấp do đây là hàng hóa xã hội cơ bản và giá trị kinh tế của các dự án đối với các nhà đầu tư tư nhân thấp. Theo đó, tỷ trọng nguồn vốn các dự án nước & nước thải xấp xỉ 2% tổng nguồn vốn vay và chất thải & tái chế chiếm gần như 0%. Rốt cuộc, không rõ liệu chúng ta có thể vay vốn từ các nhà đầu tư tư nhân hay không.

Trên thực tế, Chính phủ ngày càng thu được ít lợi ích hơn từ cấp vốn dự án cho những ngành này. Một trong những ưu điểm lớn nhất của cấp vốn dự án là tiến bộ kỹ thuật & quản lý hiệu quả của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, nước & nước thải và chất thải & tái chế lại đòi hỏi công nghệ tương đối ít và việc quản lý không khác mấy so với khu vực tư nhân.

Các MLA như Ngân hàng thế giới và ADB đóng vai trò tích cực trong những dự án này vì chúng liên quan mật thiết đến việc nâng caao chất lượng cuộc sống cho người nghèo, và đây là mục tiêu chính của các tổ chức phát triển. Vì vậy, có thể dễ dàng huy động vốn vay từ các MLA hơn là thông qua phát hành nợ công trái.

Nói tóm lại, tài chính công là phương án tốt hơn cho các dự án so với tài chính tư nhân. Nếu một trong những khu vực dự án cần nguồn vốn của khu vực tư nhân, nước & nước thải là ngành phù hợp hơn cả để cấp vốn dự án hơn chất thải & tái chế. Về mặt lịch sửTừ trước đến nay, 77% các dự án nước & nước thải và 71% các dự án chất thải & tái chế đạt trên 70% tỷ số vốn vay, trung bình là 74% và 64% bằng nguồn vốn cấp cho dự án.

Viễn thông: Các nhà đầu tư tư nhân đã bắt đầu né tránh ngành viễn thông năm 2002  do một lượng lớn các vi phạm dự án khiến chỉ số CAGR (Mức tăng trưởng phức hợp hàng năm) của ngành âm 19%. Có thể ngành này vẫn hấp dẫn nhưng không rõ liệu có bao nhiêu nhà đầu tư tư nhân quan tâm đầu tư vào ngành này.

Những ưu điểm về kỹ thuật và quản lý của khu vực tư nhân có lẽ cao đối với dự án viễn thông. Nếu Chính phủ muốn huy động vốn từ kinh phí dự án cấp vốn dự án cho các vấn đề tài chính, kỹ thuật hoặc quản lý, có thể tăng cường bảo vệ hoặc giảm rủi ro như bảo đảm lợi nhuận tối thiểu và ký các thỏa thuận dịch vụ dài hạn với Chính phủ, đây là những loại kế hoạch PPP.

Các dự án viễn thông có thể nhận vốn tư nhân nhưng Chính phủ nên quản lý kế hoạch cấp vốn cẩn thận. Về mặt lịch sử, 48% các dự án viễn thông có vốn vay dưới 48%, một mức cho vay thấp đối với kinh phí dự án. Có lẽ, các nhà đầu tư đã hạ thấp tỷ số vốn vay trung bình sau khi chứng kiến một số thất bại.

Điện và Giao thông: Các dự án điện và giao thông là những ngành thuận lợi nhất đối với các nhà đầu tư tư nhân, và vì thế các dự án này có thể nhận nguồn vốn từ kinh phícấp cho dự án. Kinh phí dự án Cấp vốn dự án có thể làm lợi cho Chính phủ bằng cách tận dụng công nghệ tiên tiến và sự quản lý hiệu quả của khu vực tư nhân.

Về từ trước đến nay, mặt lịch sử, điện và giao thông đã chiếm 47% tổng số dự án được cấp vốn từ kinh phí dự án, và chiếm 52% tổng giá trị. Giá trị của từng dự án rất cao. Trong ngành điện, 74% các dự án đạt trên 500 triệu USD, và 57% đạt trên 1 tỷ USD. Trong ngành giao thông, 78% các dự án đạt 500 triệu USD, và 56% đạt trên 1 tỷ USD. Tỷ số vốn vay trung bình là 75% đối với ngành điện và 74% đối với ngành giao thông.

Chính phủ có thể tham gia cấu trúc tài chính với kế hoạch PPP. Với PPP, các nhà đầu tư tư nhân có thể giảm nguy cơ hứng chịu rủi ro, và Chính phủ Việt Nam có thể tham gia tích cực vào các QUYẾT ĐỊNHquản lý công trình như định giá, nếu cần thiết. Tuy nhiên, Chính phủ cần có cấu trúc và khả năng quản lý hiệu quả các dự án PPP. Nếu không, Chính phủ sẽ phải hứng chịu rủi ro lớn.

13.1.6. Phối hợp

* Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB)

Hình 13.2.1 Biểu khái niệm về Hệ thống Quản lý Đô thị Cải tiến ở Việt Nam

Biểu đồ trên miêu tả các thành phần của một mô hình cải tiến để lập quy hoạch phát triển tổng thể Hà Nội

Bốn chủ đề song song về cải tiến quá trình chuẩn bị Quy hoạch chung thủ đô Hà nội do Bộ Xây dựng chủ trì như sau:.

  1. Khởi xướng một qui trình chính thức để xem xét năng suất và hiệu quả thực tế nhằm hình thành và thông qua mô hình bản địa;
  1. Áp dụng kết quả của quá trình quy hoạch đô thị vào quản lý, vận hành và thực hiện quản lý đô thị đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của các bên liên quan chính và đáp ứng các yêu cầu liên quan đến cơ chế chính trị và hành chính;
  2. Tập trung chủ yếu vào việc cải thiện mối liên hệ và phối hợp giữa các bên liên quan trong suốt quá trình chuẩn bị cho quản lý đô thị,

Cải tiến việc lập các chiến lược đô thị ở các Bộ ngành cần phải toàn diện, thích hợp và tập trung. Điều này bao gồm xây dựng năng lực của các bên liên quan, tận dụng những khả năng và đóng góp của họ vào quản lý đô thị nhằm khai thác triệt để những lợi ích về quản lý đô thị hiệu quả hơn.cảithiện

 

* Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB)

Hình 13.2.2 Biều đồ sau miêu tả qui trình hoạt động và thực hiện Quy hoạch Phát triển Tổng thể Hà nội

13.2.        Đề xuất cơ chế chính sách

Định hướng chung

  • Hình thành và thông qua Hệ thống quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội bao gồm cải cách toàn diện công tác quản lý phát triển Thủ đô Hà Nội.
  • Chương trình Cải tiến quản lý đô thị dựa theo quá trình biến đổi nhanh chóng của thực tiễn xã hội Thủ đô để thực hiện công tác chuẩn bị và quản lý quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội bao gồm nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm của các nhà quy hoạch và các quan chức chính phủ.
  • Cộng tác Quản lý Đô thị giữa Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ để thực hiện Hệ thống Quy hoạch Phát triển Tổng thể Thủ đô Hà Nội thông qua một cam kết chung để tham gia chủ động vào Chương trình Cải tiến quản lý Đô thị..

Các thành phần của hệ thống quy hoạch phát triển tổng thể Thủ đô Hà nội

  • Cơ quan hành chính: Ban chỉ đạo quốc gia về Quản lý Đô thị, Ban chỉ đạo Hà nội, Đơn vị phối hợp Hà nội
  • Thành phần hoạt động: Phương pháp luận Tiêu chuẩn để Chuẩn bị Quy hoạch Phát triển Tổng thể Thủ đô Hà Nội (CHCDP), Các nhà quy hoạch có kỹ năng và kinh nghiệm trong Quá trình Chuẩn bị Quy hoạch Phát triển Tổng thể Thủ đô Hà Nội, Định nghĩa về Thủ đô Hà nội, Cơ sở dữ liệu đô thị, Sự tham gia của các bên liên quan, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội, Cơ chế phê chuẩn đối với Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội, Kiểm toán hàng năm.

Chương trình Cải tiến Quản lý Đô thị

  • Mục tiêu của Chương trình: Hình thành và áp dụng phương pháp luận Quản lý Đô thị địa phương đối với Việt Nam, Tập trung vào việc đạt được những mục tiêu đô thị và quốc gia, Tạo mối liên hệ hiệu quả giữa quy hoạch phát triển kinh tế với quy hoạch cơ sở hạ tầng, Xây dựng dựa trên những qui định thể chế đối với hoạt động và thực hiện các kế hoạch thông qua quá trình quản lý đô thị.
  • Thành phần của Chưong trình: Cơ chế Hoạt động, Phát triển Phương pháp luận,   Dự án thí điểm, Đào tạo và xây dựng năng lực, Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật.
  • Kết quả của Chương trình: Một khuôn khổ và phương pháp luận bản địa cho vấn đề Quản lý Đô thị; Một Quy hoạch Phát triển tổng thể Thủ đô Hà nội cho vùng do Chính phủ Việt nam chỉ định, Một quy trình hướng dẫn chuẩn bị Quy hoạch Phát triển Tổng thể Thủ đô Hà nội, Một Nghị định phác thảo cho Quy hoạch Phát triển tổng thể Thủ đô Hà nội, Một Chương trình Đào tạo và xây dựng năng lực, Một Chương trình Hỗ trợ Kỹ thuật.

IV.      THIẾT KẾ ĐÔ THỊ

14.1.   Mục tiêu và nguyên tắc thiết kế

14.1.1.  Mục tiêu

Mục tiêu chung:

Nâng cao hình ảnh và bản sắc của thành phố dựa vào công tác bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và môi trường.

Đề xuất các nguyên tắc thiết kế khung nhằm định hướng cho các bước triển khai quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị chi tiết và kiểm soát thực hiện Quy hoạch chung.

Mục tiêu cụ thể:

1.Cải thiện hình ảnh và bản sắc của Hà Nội trong mắt người dân và cộng đồng quốc tế.

Xác định các vùng không gian tạo lập hình ảnh mới cho Thủ đô.

Thiết lập các vùng, tuyến, điểm cảnh quan tạo nên diện mạo đô thị mới theo hướng văn minh, hiện đại, trên cơ sở liên kết hài hòa với các không gian mở, không gian hoạt động công cộng trong đô thị.

Tạo lập cấu trúc không gian đô thị mới gắn kết hài hòa với các khu vực đã xây dựng.

2.Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống

Bảo tồn các không gian kiến trúc cảnh quan có giá trị về văn hóa, lịch sử và các đặc trưng riêng của Hà Nội.

14.1.2.  Các nguyên tắc thiết kế đô thị

 Để Thủ đô Hà Nội đạt được tầm nhìn và ý tưởng chung về một cảnh quan đô thị mong muốn kết hợp cả bảo tồn và phát triển trên toàn thành phố, đặc biệt là ở các khu vực đô thị hóa nhanh chóng, dưới áp lực của hiện đại hóa và công nghiệp hóa. Đề xuất các chiến lược thiết kế và bảo vệ cảnh quan sẽ theo các nguyên tắc đề xuất như sau:

(a) Tính liên tục: Quá trình phát triển đô thị là một quá trình liên tục, với sự hòa trộn giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Tôn trọng và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và bổ sung những giá trị mới mang tính thời đại. Tính liên tục làm cho đô thị Hà Nội gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với những đặc trưng riêng của từng vùng cho từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Lịch sử đã minh chứng, tính liên tục của thời gian làm cho Hà Nội luôn có tính hấp dẫn đặc biệt, cho chính những người đã lâu năm sống gắn bó với nó, và đối với du khách điều hấp dẫn đó còn tăng lên gấp bội.

(b) Tính hài hòa:

Không gian của thiên nhiên gồm: cây xanh mặt nước, đồi núi là những tài sản vô giá kết nối thời gian để mọi sự phát triển gắn bó mật thiết với nhau trong một tổng thể hài hòa.

 Con người là trung tâm của các hoạt động trong thành phố. Thiết lập các chức năng phục vụ tốt đời sống của con người sẽ tạo nên sự hài hòa trong phát triển thành phố Hà Nội.

(c) Tính bền vững:

Tính bền vững trong thiết kế đô thị Hà Nội còn được tăng cường trước những thách thức to lớn toàn cầu hóa, cân bằng giữa các giá trị kinh tế, xã hội, văn hóa và vật chất trong quá trình phát triển đô thị. Thiết kế đô thị không chỉ làm đẹp diện mạo các công trình xây dựng, hạ tầng, phố xá, khu phố mà còn có tác dụng bảo vệ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, tăng cường các hoạt động kinh tế, xã hội.

 (d) Giá trị nhân văn:

Hà Nội đã lưu giữ trong mình nhiều dấu tích quan trọng trong suốt bao thế kỷ phát triển thăng trầm của lịch sử. Nền kinh tế lúa nước đã in sâu vào đặc điểm kinh tế xã hội đất nước nói chung và Hà Nội nói riêng và thể hiện rõ nét trong những quần cư, những phường hội mà tính cộng đồng từ lâu đã trở thành nét văn hóa đặc trưng có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Giá trị nhân văn ấy sẽ phải được tiếp tục phát triển nhân lên một cấp độ mới trong các giai đoạn phát triển đô thị tiếp theo.

(e) Xu thế thời đại:

Trong bối cảnh mới hiện nay của xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, các dân tộc đang cùng nhau hợp tác và phát triển, và kề vai trò đối chọi với những thách thức không biên giới, thì Hà Nội lại càng phải nỗ lực chuyển mình để mang một tầm vóc thời đại mới. Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước, Hà Nội mong muốn làm bạn với tất cả các thành phố trên thế giới. Đó là bức thông điệp mà người Hà Nội muốn thể hiện trên các đường phố của mình và trong các hành động hàng ngày của mình. Công cuộc Đổi Mới đã và đang tạo ra những cơ hội để Hà Nội tự khẳng định mình, vươn lên tầm cao mới xứng tầm là thủ đô của một nước Việt Nam đang chuyển mình trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

14.2.   Các giải pháp chung

14.2.1.  Ý tưởng thiết kế đô thị

Hà Nội có dòng sông Hồng chảy qua, trước khi đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Vùng nước nặng phù sa màu nâu đỏ này mang lại tên gọi cho con sông này. Sông Hồng được biết đến bởi những trận lũ kinh hoàng với biên độ lưu lượng biến đổi theo mùa. Đồng bằng sông Hồng là khu vực nông nghiệp chính của Việt Nam với phần lớn diện tích chuyên trồng lúa, được bảo vệ bằng một mạng lưới đê điều dày đặc. Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ, ở thượng nguồn Sông Hồng - con sông cái lớn nhất của vùng đồng bằng Bắc Bộ , bởi vậy đối với Hà nội sông Hồng được coi như một yếu tố vô cùng quan trọng để duy trì môi trường thành phố Thủ đô bền vững. Đồng thời, do vị trí địa lý và số dân dự kiến sinh sống tại Thủ đô Hà nội sẽ có nhiều tác động lớn đến môi trường toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng.

Hà nội ngàn năm văn hiến với thời gian và lịch sử đã để lại cho Hà Nội một bề dày văn hóa truyền thống có giá trị. Cấu trúc cơ bản của đô thị Thăng Long – Hà Nội gắn liền với sông Hồng và hệ thống sông hồ nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng. Hệ thống di sản Thăng Long cổ hiện nay vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị đặc biệt về văn hóa, kiến trúc, cảnh quan của Thủ đô và cả nước hầu hết nằm bên bờ sông Hồng và các con sông khác. Các khu di tích Hoàng thành Thăng Long (nay là di sản thế giới đã được UNESSCO công nhận), trung tâm chính trị Ba Đình, khu phố cổ, khu phố cũ, hệ thống di tích lịch sử văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị, hệ thống cảnh quan thiên nhiên, văn hóa lối sống thanh lịch của người Hà Nội; tất cả đã tạo nên một diện mạo Thăng Long – Hà Nội hào hoa và linh thiêng, thành phố của những dòng sông.

Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ chóng mặt trong thời gian gần đây, đã làm cho nhiều yếu tố cảnh quan đặc trưng của Hà Nội đang ngày càng xuống cấp. Nhiều dự án phát triển đô thị và cả những hoạt động của người dân hiện nay đang tác động trực tiếp tới giá trị cảnh quan Hà Nội.

Thủ đô Hà Nội mở rộng bao gồm cả khu vực Hà Tây cũ, đã làm cho Hà nội có thêm nhiều diện tích trở thành vùng đô thị chứ không chỉ là một thành phố. Với vai trò và vị thế, nguồn lực từ cội nguồn Văn hiến với khát vọng và niềm tin dân tộc, Thủ đô Hà Nội được quy hoạch xây dựng để hướng tới viễn cảnh “ Xanh – Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”. Mô hình phát triển không gian Hà Nội đang hướng tới cấu trúc thân thiện với môi trường, hạn chế các căn bệnh của thế kỷ 20 với tốc độ đô thị hóa thiếu kiểm soát và sự quá tải của đô thị trung tâm hiện hữu. Không gian đô thị được xây dựng dựa vào các yếu tố của thành phố thế kỷ 21: kết nối đa cực, đa trung tâm và đa tầng bậc, bảo tồn cảnh quan các di sản tự nhiên (Sông hồ và vùng núi), bảo tồn các di sản văn hóa (Di tích văn hóa, làng nông nghiệp và làng nghề) và đất nông nghiệp (vùng đồng bằng ngập lũ, đất nông nghiệp năng suất cao);Phát triển cân bằng khu vực nông thôn sinh thái phục vụ các xã nông nghiệp và làng nghề lân cận và đất nông nghiệp bổ sung kết hợp với Vành đai xanh; Phát triển nền kinh tế tri thức và nền nông nghiệp giá trị cao; Phát triển hệ thống đô thị trung tâm, đô thị vệ tinh tự cung tự cấp và các thị trấn sinh thái với mục tiêu phát triển cân bằng giữa khu làng hiện hữu và các khu phát triển mới kết hợp với hệ thống giao thông công cộng bền vững.

Ý tưởng trọng tâm của thiết kế đô thị Thủ đô Hà Nội, sẽ tập trung vào các nội dung sau:

-Tạo lập những diện mạo kiến trúc cảnh quan mới theo cấu trúc không gian đô thị từ mô hình "Đơn cực" sang "Đa cực", gồm 1 đô thị trung tâm và 5 đô thị vệ tinh, các thị trấn sinh thái; hạn chế sự phát triển lan tỏa theo "vết dầu loang" thiếu kiểm soát từ nội đô lịch sử như hiện nay.

-Đô thị trung tâm: sẽ phát triển và kiểm soát bảo tồn nghiêm ngặt các di sản văn hoá, lịch sử, kiến trúc và các thắng cảnh nổi tiếng.

-Thiết lập vanh đai xanh sông Nhuệ - vùng đệm xanh kết nối các không gian mở và công viên, ngăn cách khu nội đô với khu vực phát triển mới dọc tuyến đường vành đai 4.

-Phát triển và làm sống động hai bên bờ sông Hồng. Tạo lập không gian xanh lớn, đóng vai trò quan trọng của mô hình: thành phố nằm 2 bên bờ sông Hồng.

-Phát triển “Hành lang xanh” xung quanh đô thị trung tâm bảo vệ những khu vực tự nhiên quan trọng, các vùng đất nông nghiệp năng suất cao và các làng nghề truyền thống, các di tích văn hoá, các sông và khu vực kiểm soát lũ lụt.

-Phát triển 5 đô thị vệ tinh đáp ứng khoảng 1,4 triệu dân số dự tính của Thủ đô Hà Nội đến năm 2030. Mỗi đô thị vệ tinh sẽ phát triển các nhân tố chính để tạo công ăn việc làm và có đặc trưng riêng của từng vùng.

-Các thị trấn sinh thái được đề xuất trong khu vực hành lang xanh sẽ cung cấp các dịch vụ cộng đồng chất lượng tốt cho các làng lân cận.

-Đô thị trung tâm và toàn bộ Thủ đô Hà Nội sẽ được gắn kết bằng mạng lưới đường bộ và hệ thống giao thông công cộng lớn hiện đại.

14.2.2.  Cấu trúc cảnh quan đô thị

 a. Quan điểm thiết kế đô thị

Tạo lập cấu trúc không gian đô thị từ mô hình "Đơn cực" sang "Đa cực", gồm 1 đô thị trung tâm và 5 đô thị vệ tinh, các thị trấn sinh thái. Hạn chế sự phát triển lan tỏa theo "vết dầu loang" từ nội đô lịch sử như hiện nay.

Thiết lập hành lang xanh chiếm 70% đất tự nhiên.

Tạo kết nối liên kết các đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh; kết nối các vùng đô thị với cảnh quan tự nhiên.

b. Giải pháp kiểm soát phát triển tổng thể

Mô hình đô thị gồm 1 đô thị trung tâm được xây dựng trên cơ sở đô thị lịch sử hiện hữu mở rộng về phía Tây đến đường vành đai 4 và phía Bắc sông Hồng; 5 đô thị vệ tinh (Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sóc Sơn), thị trấn, thị tứ sinh thái; Xung quanh đô thị trung tâm là hành lang xanh (vùng nông thôn Hà Nội). Để quản lý quy hoạch và xây dựng theo mô hình này, thực hiện các giải pháp kiểm soát phát triển sau đây:

  • Kiểm soát ranh giới phát triển đô thị đảm bảo hình thành hành lang xanh chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên Hà Nội, khoảng 30% còn lại dành cho phát triển các không gian đô thị. Ranh giới phát triển đô thị được xác định dựa trên các khống chế về sử dụng đất đã nêu trong mục: Định hướng phát triển không gian đô thị và quy hoạch sử dụng đất và được giới hạn bởi các đường biên tự nhiên (hệ thống sông hồ hiện có), ranh giới hành chính (quận, huyện, phường xã hiện có), các tuyến đường xây dựng theo quy hoạch.
  • Kiểm soát phát triển hệ thống sông hồ và các vùng núi cảnh quan tự nhiên. Coi đây là tài sản quý báu để tạo lập hình ảnh đặc trưng cho Hà Nội Đối với các hệ thống sông hồ hiện tại- cần tiến hành khoanh vùng bảo vệ cách bờ nước tối thiểu 50m. Đối với các sông hồ đào mới cần tính toán tích hợp với các hệ thống công viên bảo đảm tính liên tục và liên hoàn. Khoảng cách tối thiểu so với bờ nước 100m.
  • Bảo tồn hệ thống di sản, di tích có giá trị, duy trì các làng nghề truyền thống, cấu trúc làng xóm. Tăng cường hệ thống hạ tầng phục vụ công tác bảo tồn di sản, di tích; cải tạo, nâng cấp và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường trong các làng nghề, làng xóm. Hạn chế bê tông hóa, đô thị hóa thiếu kiểm soát xung quanh các khu vực này.
  • Việc triển khai xây dựng mới các dự án, tuyệt đối tuân thủ cấu trúc đô thị kết nối hạ tầng đồng bộ, phù hợp với định hướng quy hoạch chung. Khuyến khích phát triển các công trình cao tầng đa chức năng ở các khu đô thị mới và quanh các khu vực nhà ga, trung tâm kết nối giao thông( TOD).
  • Đối với khu vực phát triển đô thị:

Phát triển các dự án đô thị mới hiện đại gắn với các trung tâm thương mại dịch vụ mới cấp quốc gia và thành phố, không gian văn hóa lịch sử quốc gia, giao thông hạ tầng kỹ thuật hiện đại và đồng bộ thân thiện với môi trường, tổ chức các mô hình TOD theo các trung tâm tập trung kết nối các loại hình giao thông ưu tiên phát triển giao thông công cộng.

Vùng nội đô lịch sử, hạn chế phát triển cao tầng, khuyến kích phát triển mật độ thấp, tăng cường không gian mở;

Làng đô thị hóa cần có nghiên cứu chuyển đổi và tái điều chỉnh đất phù hợp ưu tiên cho hạ tầng giao thông và kỹ thuật đồng bộ đạt chuẩn đô thị hiện đại.

Các vùng phát triển mới, khuyến khích phát triển cao tầng, dành quỹ đất trống xây dựng các không gian công cộng, cây xanh;

Nghiêm cấm phát triển đô thị lan tỏa trên các tuyến hành lang giao thông kết nối đô thị trung tâm với đô thị vệ tinh;

Nghiêm cấm phát triển đô thị (không gian ở mới) bên ngoài ranh giới phát triển đô thị, trong vành đai xanh và các nêm xanh.

14.2.3.  Phân vùng kiến trúc cảnh quan

a. Mục đích:

Phân vùng kiến trúc cảnh quan là cơ sở để phân khu vực kiểm soát, lập điều lệ quản lệ xây dựng theo quy hoạch được duyệt và triển khai quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết ở các bước tiếp theo, theo quy định hiện hành.

b. Nguyên tắc:

Phân vùng kiến trúc cảnh quan dựa vào cấu trúc không gian đô thị, bao gồm: khu vực phát triển đô thị có 01 đô thị trung tâm; các đô thị vệ tinh, các đô thị sinh thái và khu vực hành lang xanh ( nông thôn).

Đô thị trung tâm được phân chia làm 3 khu vực đặc thù: Khu nội đô (nội đô lịch sử và nội đô mở rộng); Chuỗi khu đô thị phía Bắc sông Hồng (khu đô thị Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh, Yên Viên- Long Biên – Gia Lâm); Chuỗi khu đô thị phía Đông đường vành đai 4 (Đan Phượng, Hoài Đức, An Khánh, Hà Đông, Thanh Trì).

Khu vực hành lang xanh, gồm: khu vực cảnh quan đặc thù (Khu vực bảo vệ các vùng cảnh quan đặc biệt Sóc Sơn, Ba Vì, Hương Tích), vùng nông nghiệp sinh thái và các khu dân cư nông thôn

c. Phân vùng kiến trúc cảnh quan và các giải pháp tổng thể cho từng vùng:

Dự kiến có các vùng kiến trúc cảnh quan, sau:

(1)Đô thị trung tâm

-Khu vực nội đô lịch sử:

Kiểm soát phát triển kiến trúc cảnh quan. Hạn chế xây dựng công trình cao tầng. Tăng cường không gian xanh, mặt nước và hoạt động công cộng.

Xác định các vùng tập trung nhiều di sản, di tích, thẳng cảnh nổi tiếng của Hà Nội để khoanh vùng và kiểm soát phát triển. Như: Khu vực Hoàng Thành thăng long, Trung tâm chính trị Ba Đình, Phố Cổ, Phố cũ, khu vực xung quanh hồ Gươm, khu vực xung quanh hồ Tây.

Các khu vực khác, tùy thuộc vào vị trí và đặc thù của mỗi khu vực để có các giải pháp kiểm soát phát triển hợp lý về mật độ và tầng cao xây dựng, đặc biệt là các khu vực: Các làng xóm cũ; các khu chung cư cũ, cảnh quan 2 bên sông Tô lịch, sông Sét, sông Lừ, sông Kim Ngưu...; cảnh quan trên các tuyến đường chính; cảnh quan khu vực xung quanh di tích và các công trình văn hóa lớn; cảnh quan xung quanh các quảng trường đô thị...

Thiết lập nhiều không gian mở trong lõi các ô phố, các không gian mở liên thông với hệ thống cảnh quan chung của thành phố; các không gian đi bộ kết nối với các không gian công cộng cấp khu nhà ở, cấp đô thị.

-Khu vực nội đô mở rộng.

Kiểm soát phát triển các khu vực xây dựng mới. Hạn chế không phát triển manh mún lấp kín các ô đất và bám liên tục theo đường mở mới.

Thiết lập quần thể kiến trúc quy mô lớn, hiện đại tại khu vực Mỹ đình, Mễ trì, Tây Hồ tây, Thượng Đình, Vĩnh Tuy (nhà máy dệt 8-3 cũ); dọc trên các tuyến đường kết nối liên khu vực.

Cải tạo chỉnh trang các khu ở cũ kết nối hài hòa với khu vực xây dựng mới.

Xây dựng hoàn thiện hệ thống công viên cây xanh theo quy hoạch. Kiểm soát phát triển xung quanh khu vực công viên. Tạo lập các trục không gian xanh và các tuyến đi bộ nối kết công viên với các nhóm nhà ở.

Tạo lập hệ thống quảng trường đô thị gắn với các quần thể công trình công cộng quy mô lớn và các trục không gian xanh và các tuyến đi bộ.

Kiểm soát kiế trúc cảnh quan trên các tuyến hướng tâm vào nội đô Hà nội, tuyến đường vành đai 2, 3.

-Khu vực chuỗi các khu đô thị phía Đông vành đai 4 và phía Bắc sông Hồng

Ưu tiên phát triển các kiến trúc cao tầng có chức năng hỗ hợp, dành quỹ đất trồng cây xanh và phát triển các công trình hạ tầng đô thị, không gian giao tiếp cộng đồng.

Cải tạo chỉnh trang diện mạo kiến trúc trên các tuyến quốc lộ cũ hướng tâm vào nội đô

Cải tạo chỉnh trang các khu dân cư hiện trạng

Tạo các liên kết không gian mở kết nối vành đai xanh sông Nhuệ với hành lang xanh

Tạo lập các công trình điểm nhấn về tầng cao và đặc trưng kiến trúc.

Tạo lập không gian đô thị đặc trưng xung quanh

(2)Khu vực các đô thị vệ tinh

Tạo lập diện mạo kiến trúc cảnh quan tổng thể cho từng đô thị vệ tình phù hợp với đặc điểm tự nhiên và văn hóa, dân cư khu vực.

Cải tạo các khu vực dân cư hiện trạng, kết nối khu vực xây dựng mới.

Thiết lập diện mạo kiến trúc cảnh quan cho hệ thống trung tâm công cộng. Liên kết không gian mở kết nối đô thị vệ tinh với các vùng cảnh quan nổi tiếng Hà nội (núi Sóc Sơn, Hương Tích, Ba Vì, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, hồ Đông Mô, hồ Suối Hai....)

Kiểm soát phát triển khu vực giáp ranh (đô thị vệ tinh với hành lang xanh)

Kiểm soát phát triển các kiến trúc dọc trên tuyến hướng tâm kết nối đô thị vệ tinh với đô thị trung tâm.

(3)Các thị trấn sinh thái

Xác lập vùng bảo vệ các giá trị cảnh quan, văn hóa địa phương

Xác lập diện mạo kiến trúc cảnh quan đặc trưng cho từng đô thị sinh thái phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa, dân cư khu vực.

Hạn chế sự phát triển lan tỏa, tránh tác động tiêu cực tới môi trường cảnh quan tự nhiên hiện có.

Khoanh vùng bảo vệ cảnh quan, moi trường xung quanh các làng nghề, di tích lịch sử, công trình văn hóa.

(4)Các khu vực khác

-Khu vực vành đai xanh sông Nhuệ

Thiết lập vùng đệm xanh giữa khu vực nội đô và vùng phát triển mới phía đông đường vành đai 4.

Cung cấp không gian mở công cộng và các tiện ích vui chơi giải trí.

Nâng cao chất lượng và hình ảnh sông Nhuệ và nhánh sông tô Lịch

Giải quyết các tồn tại về đầu tư xây dựng tại các làng hiện hữu và các dự án đã được phê duyệt.

Bảo tồn các vùng nông nghiệp sinh thái (cây ăn quả, trồng hoa, …)

-Hành lang dọc hai bên sông Hồng

Phát triển sông thành tiện ích công cộng trên toàn đô thị

Xác định lại vị trí nhà ở không an toàn và kém chất lượng

Cung cấp kết nối công cộng liên tục tới không gian mặt nước sông Hồng

Sử dụng sông Hồng như tuyến giao thông hàng hóa đường thủy chính và du lịch

Tạo phát triển kinh tế mới trong hành lang

(5)Hành lang xanh

-Hành lang xanh

Khu vực bảo vệ các vùng cảnh quan đặc biệt (rừng quốc gia Ba Vì - Viên Nam, quần thể Quan Sơn - Hương Tích và vùng núi Sóc gắn với hệ thống vườn quốc gia Tam Đảo).

Khoanh vùng bảo tồn các vùng cảnh quan này, đa dạng sinh học.

Kiểm soát phát triển các khu vực đã, đang và sẽ xây dựng xung quanh các vùng cảnh quan. Tạo bản sắc độc đáo riêng cho Hà Nội.

Loại bỏ các yếu tố cản tầm nhìn cảnh quan nông thôn từ các hành lang giao thông

Tránh các tác động tiêu cực của quá trình phát triển đô thị đối với các làng xóm và cảnh quan nông thôn

Bảo tồn các cảnh quan nông thôn nguyên gốc

14.2.4.  Kiểm soát bảo vệ di sản, di tích lịch sử văn hóa

Lập danh mục xếp hạng các di sản, di tích và kế hoạch bảo tồn, trùng tu định kỳ cho các công trình

Các phương án đề xuất trùng tu, cải tạo cần phải được cân nhắc về ý nghĩa văn hóa lịch sử và ngôn ngữ kiến trúc

Cần có các quy định, quy trình mới cho một số khu vực ưu tiên trong khu vực đô thị trung tâm, cần có những biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối những thay đổi hay phát triển mới có ảnh hưởng đến các khu vực di sản này.

Bảo tồn các điểm di tích ngoài khu vực đô thị trung tâm, chỉnh trang không gian các làng nghề nhằm cân đối giữa việc bảo tồn không gian sinh hoạt truyền thống và đảm bảo sự phát triển bền vững của làng trong quá trình đô thị hóa.

Khoanh vùng bảo vệ cảnh quan xung quanh di tích, giải tỏa các công trình xây dựng lấn chiếm đất di tích.

Giữ nguyên tối đa hệ thống cây xanh bóng mát như một di sản thiên nhiên trong lòng thành phố, loại bỏ các cây có khả năng ảnh hưởng đến di tích, trồng thêm cây xanh cùng loại để phát triển hình ảnh vốn có của trung tâm đô thị.

Khuyến khích xây dựng thấp tầng và hình thái kiến trúc truyền thống, màu sắc thích hợp.

Dỡ bỏ những kiến trúc lai tạp hiện đang xây thêm hoặc cơi nới trong các khu di tích, quy hoạch sân vườn trên các khu vực phá dỡ.

Di dời tất cả các công trình có chức năng không thuộc di tích ra bên ngoài

Nâng cấp hệ thống giao thông, các khu vực cổng vào các khu di tích đặc biệt là bãi đỗ xe, phục vụ du lịch và các công tác khác như PCCC và cứu hộ.

Phát huy giá trị lịch sử, văn hoá, kiến trúc, kỹ - mỹ thuật của các khu di tích để phục vụ cuộc sống hiện tại.

Tuyên truyền và lưu lại cho các thế hệ mai sau với ý nghĩa là Di sản quốc gia mang tầm khu vực và quốc tế.

Hình thành các cơ sở khoa học về di sản văn hóa phục vụ cho việc khai thác nhiều khía cạnh xã hội: nghiên cứu, giảng dạy, bảo tồn, du lịch...vv

14.2.5.  Kiểm soát phát triển các vùng cảnh quan tự nhiên

a. Mục đích:

Duy trì nét đặc trưng chính cho Thủ đô, thành phố cố nhiều hồ nước.

Cải thiện điều kiện cảnh quan và môi trường  đô thị

  1. . Kiểm soát phát triển

-Hệ thống sông:

Kết hợp sông Hồng vào trong chiến lược phát triển tổng thể của thành phố để tối đa hóa lợi ích của con sông.

Sử dụng không gian mở của các con sông nhỏ để nâng cao chất lượng cảnh quan và đời sống người dân.

Đảm bảo thiết kế cầu phù hợp về thẩm mỹ và với vị trí bắc qua sông.

Tăng cường đa dạng sinh học xung quanh các tuyến sông

Khơi thông các dòng sông đã cạn nước

Thực hiện và kiểm soát chặt chẽ với các dự án khôi phục, làm sống lại các dòng sông Tích, Nhuệ, Đáy..

Hoàn thiện hệ thống bờ kè cho các dòng sông, hình thành các đường cảnh quan hai bên sông nhằm bảo vệ sự xâm lấn, kết hợp các công trình tiện tích dịch vụ đô thị với các đường đi bộ, đi xe đạp, công viên và các khu vực đầu mối giao thông, trạm dừng chân, bến bãi.

Khuyến khích sử dụng tiện ích mặt nước một cách liên tục, không ngắt quãng cho các mục đích sử dụng công cộng

Hình thành các mạng lưới công viên tuyến tính nhằm bảo tồn các sông, suối hiện tại

-Hệ thống hồ:

Cải tạo chất lượng nước và bề mặt các hồ, cả về mặt vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị.

Bố trí hợp lý cảnh quan hồ trong đó xem xét đến các chức năng của từng hồ và xây dựng cơ sở vật chất đầy đủ như đường đi bộ, không gian mở, đèn chiếu sáng,v.v.

Tăng cường công tác thiết kế đô thị quanh các công trình kiến trúc để nâng cao giá trị của hồ và hình thành quần thể kiến trúc.

Thiết lập hành lang bảo vệ tuyệt đối, trong đó hạn chế không xây dựng công trình. Mở rộng hành lang ngắm cảnh ra mặt hồ từ các khu vực xung quanh.

Hình thành chính sách giới hạn xây dựng các tòa nhà cao tầng trong hoặc gần khu vực mặt hồ.

Tăng cường hệ thống hồ mới, gắn kết với các hoạt động du lịch, giải trí.

Đặc biệt đối với các hồ cảnh quan, hồ điều hòa nằm trong các đô thị nên gắn với các không gian văn hóa

Không lấp hồ, ao để xây dựng đường giao thông, đô thị và các chức năng khác.

Bảo vệ hệ thống hồ phục vụ cho mục đích nông nghiệp

-Vùng nông nghiệp sinh thái

Hạn chế giảm diện tích đất nông nghiệp truyền thống

Bảo tồn và mở rộng các vùng nông nghiệp năng suất cao, đặc biệt các khu vực trồng hoa, cây cảnh và cây ăn quả, những khu vực tạo lập được bản sắc riêng như đô thị hoa Mê Linh.

Khoanh vùng phát triển du lịch, khuyến khích mô hình du lịch sinh thái

Tránh chuyển đổi sang các dự án biệt thự vườn, sân golf

Công trình xây dựng hài hòa với thiên nhiên

Khoanh vùng cấm xây dựng

Loại bỏ các yếu tố cản tầm nhìn cảnh quan nông thôn từ các hành lang giao thông

Tránh các tác động tiêu cực của quá trình phát triển đô thị đối với các làng xóm và

cảnh quan nông thôn

Bảo tồn các cảnh quan nông thôn nguyên gốc

-Công viên

Đáp ứng nhu cầu giải trí, tập thể dục và nghỉ ngơi của mọi người

Xây dựng các vườn hoa mới thu hút khách du lịch và người dân địa phương

-Cây xanh đường phố

Bảo tồn và mở rộng mạng lưới cây xanh đường phố hiện có

Thường xuyên trồng mới và cải thiện chất lượng, số lượng các loại cây cũ

14.2.6.  Kiểm soát phát triển trên các trục giao thông chính đô thị

  •  Xây dựng các trục hướng tâm và vành đai thành trục không gian kiến trúc cảnh quan đô thị đẹp có không gian mở, cây xanh và các điểm nhấn; có ý nghĩa tạo lập hình ảnh cho Thủ đô
  • Tạo lập các trục không gian kết nối hệ thống các không gian công cộng lớn của thành phố gắn kết với các không gian mở, vùng sinh thái tự nhiên.
  • Khuyến nghị các hạ tầng ngầm trong đô thị trung tâm từ vành đai 4 đổ vào. Hoàn thiện các tuyến đường vành đai 2; 2,5;3;3,5; 4. Hoàn thiện các tuyến tầu điện ngầm trong đô thị trung tâm ưu tiên các tuyến xuyên tâm Đông-Tây và Bắc-Nam. Các đường tỉnh lộ, cao tốc, quốc lộ, đường chính đô thị cần có nhưng thiết kế mặt cắt tách làn, đường gom và thân thiện với người sử dụng khi đi vào ranh giới đô thị trung tâm.
  • Phát triển các tuyến đường đô thị tiện lợi cho người đi bộ.
  • Cải tạo môi trường tư nhiên và văn hóa dọc các tuyến phố.

Đối với các trục không gian

  • Phát triển hệ thống các nút giao cắt, quảng trường, vườn hoa có cảnh quan đẹp và môi trường văn hóa tốt đẹp.
  • Nâng cao tính thẩm mỹ của xe buýt và các công trình dọc tuyến xe buýt.
  • Xây dựng hệ thống bãi đỗ xe để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
  • Đảm bảo mỹ quan đô thị của các công trình giao thông như đèn đường, dải phân cách, biển hiệu giao thông, .v.v
  • Trục cải tạo chỉnh trang chính: Mở rộng các trục, các tuyến phố đi bộ, kết nối với các khu vực chợ, quảng trường trong khu vực phố cổ. Bổ sung các cầu vượt và các tiện tích công cộng cho các trục đi bộ chính, kết nối dễ dàng với các công trình đầu mối giao thông.
  • Trục xây dựng mới: tạo khoảng lùi tối thiểu theo quy chuẩn quy phạm, xây dựng cây xanh cách ly kết hợp với dịch vụ và các tiện ích đô thị. Tổ chức cầu vượt cho người đi bộ.
  • Các đại lộ chính đi qua trung tâm khu vực lõi mở rộng sẽ kết nối các trung tâm phát triển đa chức năng chính nằm dọc các đường cao tốc hướng tâm.

14.2.7.  Kiểm soát phát triển các không gian công cộng đô thị

Các không gian công cộng phải được xây dựng tạo nên hình ảnh đa dạng năng động và thu hút đông người tới hoạt động.

Kết nối thuận tiện với hệ thống giao thông chính thành phố, đặc biệt là các ga tàu điện, bến xe buýt.. cần chú trọng các điểm dừng đỗ với khối lượng lớn trong khu vực đô thị nhằm khuyến khích phát triển định hướng giao thông (TOD) đa chức năng mật độ cao liền kề.

Tạo lập các không gian điểm nhấn khu vực, thu hút tầm mắt từ nhiều hướng, nhiều nơi trong trung tâm thành phố có thể hướng đến.

Tạo lập không gian cảnh quan kết nối không gian công cộng kết nối với không gian quan trọng và trục cảnh quan đẹp trong thành phố

Hạn chế các công trình công cộng cao tầng trong khu vực nội đô, tránh quá tải hệ thống hạ tầng cơ sở phục vụ

Các điểm công cộng xây dựng kết nối với hệ thống giao thông công cộng, dễ dàng tiếp cận với các khu dân cư.

Gắn kết với không gian mở, quảng trường và các tiện ích công cộng nhằm khuyến khích người đi bộ tiếp cận các trung tâm thương mại, công viên, các công trình văn hóa và các bến giao thông… Đáp ứng sức chứa, phục vụ cho những hoạt động lễ hội lớn, tránh ách tắc.

Nghiêm cấm chuyển đổi đất công cộng thành các dự án văn phòng, nhà ở hoặc các mục đích khác.

Đảm bảo không gian công cộng phục vụ được mọi người dân, mọi lứa tuổi, đặc biệt là không gian dành cho người khuyết tật.

Khu vực cải tạo (đô thị cũ): cải tạo những công trình công cộng cũ đã bị xuống cấp. Di dời những công trình không đúng chức năng sử dụng đất công cộng. Mở rộng không gian xung quanh các tòa nhà công cộng chính của khu vực, đủ sức chứa và giải tỏa nhanh khi có tình huống cấp thiết, tránh quá tải. Khuyến khích các công trình xây mới hài hòa với kiến trúc cũ, quy mô gọn gàng, phù hợp với không gian trung tâm. Đặc biệt chú trọng cải tạo tiện ích cho người đi bộ như cầu vượt cho người đi bộ.

Khu vực đô thị mới: khuyến khích xây dựng các công trình có quy mô lớn, hoành tráng, diện rộng, tạo sức hút và đủ sức chứa cho hoạt động lớn của người dân.

Đối với các khu xử lý chất thải rắn: Cung cấp dịch vụ thu gom chất thải rắn để cải thiện điều kiện vệ sinh đô thị; Tránh các tác động tiêu cực của nhà máy xử lý chất thải rắn đối với cảnh quan và các khu dân cư.

14.3.        Đề xuất giải pháp cụ thể cho các khu vực chức năng đặc thù

  • Đối với khu vực Hoàng thành Thăng Long:

Quan điểm

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long hiện nay là một phần của kinh thành Thăng Long được xây dựng từ thời Lý, là di tích quan trọng nhất trong hệ thống di sản của Thăng Long cổ, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vì vậy cần phải bảo tồn với hình thức dự án bảo tồn đặc biệt.

Giải pháp

Khôi phục lại vòng ranh giới của khu Thành Thăng Long (bao gồm toàn bộ phần đất bao quanh các đường Lý Nam Đế, Phan Đình Phùng, Nguyễn Tri Phương, Trần Phú) thành trung tâm văn hoá, giáo dục, phục vụ du lịch, quảng bá hình ảnh Hà Nội và Việt Nam. Cần di dời khu dân cư, các chức năng đô thị không phù hợp với mục đích bảo tồn ra bên ngoài. Hình thành cảnh quan mở rộng riêng biệt với bảo tồn biệt thự lịch sử và các tòa nhà từ thời thuộc địa. Các khu vực xung quanh cần có kiểm soát để không ảnh hưởng đến di tích đấy.

  • Đối với khu vực xung quanh quảng trường Ba Đình

Quan điểm

Khu trung tâm chính trị Ba Đình là nơi tập trung các công trình đầu não của Đảng, Nhà nước, Quốc Hội, Chính phủ và các cơ quan ban ngành có liên quan. Đây cũng là di tích lịch sử quan trọng cần phải bảo tồn và tiếp tục nâng cao giá trị về kiến trúc, cảnh quan để Khu trung tâm chính trị Ba Đình xứng đáng trở thành trung tâm hành chính, chính trị của Quốc gia.

Giải pháp

Các khu vực cần phải quan tâm đến thiết kế đô thị:

  • Các vùng không gian: khu vực quảng trường Ba Đình và Lăng Chủ tịch, Khu di tích Phủ Chủ tịch, khu vực bảo tàng Hồ Chí Minh, khu vực các cơ quan cấp Nhà nước và Chính phủ.
  • Các điểm: Lăng Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh, chùa Một Cột (Diên Hựu), Tượng đài liệt sĩ, nhà sàn Bác Hồ, nhà quốc hội..
  • Các tuyến không gian: tuyến đường Phạm Hùng đi qua khu vực Lăng Bác, quảng trường Ba Đình kết nối với vườn hoa cây xanh. Trục cảnh quan Vườn Hồng nối quảng trường Ba Đình với khu vực Hoàng Thành.

Bảo tồn các công trình đặc biệt: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Bảo tàng Hồ Chí Minh; Tượng đài liệt sĩ, Nhà sàn Bác Hồ v.v... và duy tu thường xuyên đối với các công trình di tích lịch sử đã được Bộ VHTTDL xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia: Khu di tích Phủ Chủ tịch, Chùa Một Cột (Diên Hựu). Bảo tồn định kỳ các công trình trụ sở kiến  trúc Pháp đầu thế kỷ XX hiện đang sử dụng làm cơ quan, nhằm phát huy giá trị và ngôn ngữ kiến trúc trong khu vực. Tôn tạo không gian cảnh quan kiến trúc đô thị bề thế, trang nghiêm trên các trục, tuyến đường giao thông chính phục vụ đối ngoại, quảng trường. Gắn kết với không gian Hồ Tây và các khu vực liền kề phía Nam (Khu vực Quốc Tử Giám, Ga Hà Nội), phía Tây (Khu phố cổ và phố cũ); Bảo vệ và tăng cường mạng lưới không gian mở, trục không gian xanh, các trục phố đi bộ và hệ thống quảng trường, gắn liền xây dựng các công trình, tượng đài văn hóa có tính biểu tượng quốc gia.

Các xây dựng mới: tránh thay đổi, phá vỡ: quy mô, tính chất, cảnh quan không gian và các giá trị di sản văn hóa, lịch sử, cách mạng, kiến trúc, nghệ thuật. Mọi sự chuyển đổi chức năng, thay đổi về quy mô cấu trúc và hình thức các công trình có giá trị phải được thông báo và nghiên cứu cẩn trọng.

  • Đối với khu phố cổ:

Quan điểm

Khu phố cổ là trung tâm giao thương buôn bán và các phố nghề được hình thành từ thời kỳ đầu của kinh thành Thăng Long cổ. Hiện nay khu vực này vẫn giữ được những nét đặc trưng của cấu trúc 36 phố phường Hà Nội và các không gian buôn bán, sinh hoạt truyền thống.

Giải pháp

Các khu vực cần phải quan tâm đến thiết kế đô thị:

  • Các vùng không gian: Khu vực Chợ Đồng Xuân, khu vực chợ Hàng Gia, khu vực vườn hoa Hàng Đậu.
  • Các điểm: Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long, Số nhà 48 Hàng Ngang (di tích lịch sử Cách mạng, nơi Bác Hồ viết bản tuyên ngôn độc lập), ngôi nhà cổ 38 Hàng Đào, chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Gia, đền Bạch Mã phố Hàng Buồm (một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long)…
  • Các tuyến không gian: tuyến phố đi bộ được kết nối từ Hàng Ngang-Hàng Đào-Hàng Đường-Chợ Đồng Xuân, tuyến phố Hàng Lược-Chả Cá-Lương Văn Can kết nối vườn hoa Hàng Đậu với hồ Gươm.

Bảo tồn các yếu tố vật chất và tinh thần trong không gian kiến trúc khu phố cổ như một hình ảnh kiến trúc đô thị cổ đặc trưng, cùng hệ thống di tích kiến trúc bao gồm các công trình tôn giáo tín ngưỡng, nhà phố, chợ, nhà thờ, các công trình văn hóa có niên đại từ 1945 trở về trước. Bảo tồn hình thức kiến trúc, cấu trúc phố phường và các đặc trưng thương mại truyền thống (Buôn bán nhỏ trên các tuyến phố). Tạo ra các tuyến phố đi bộ, đặc biệt là tuyến phố đi bộ đêm, để đáp ứng các hoạt động thương mại phát huy tính chất phố nghề và các lễ hội truyền thống cũng như phục vụ du lịch.  Khống chế các tầng cao xây dựng và kiến trúc cảnh quan xung quanh các công trình di sản văn hóa, lịch sử, cách mạng. Cải tạo lõi trong các ô phố, đồng thời tạo lập không gian mở mang lại cảnh quan và khoảng thở cho từng khu vực. Khuyến khích xây dựng theo kiểu kiến trúc truyền thống

Khống chế tầng cao xây dựng và kiến trúc cảnh quan đối với các công trình nằm bên cạnh các di sản văn hóa, lịch sử, cách mạng, kiến trúc.

Các công trình xây dựng mới tuân thủ không phá vỡ cấu trúc, quy mô, tính chất, cảnh quan không gian của khu phố cổ. Không phát triển công nghiệp, kho tàng. Ưu tên các chức năng sử dụng hỗn hợp nhà ở-dịch vụ thương mại hoặc dịch vụ du lịch.

  • Đối với khu phố cũ:

Quan điểm

Khu phố cũ là trung tâm văn hóa, hành chính, thương mại, giải trí của thành phố Hà Nội được người Pháp xây dựng trước năm 1954 có cấu trúc phố phường dựa trên mạng lưới ô bàn cờ và phát triển theo nguyên tắc là một thành phố vườn, với kiến trúc đô thị đặc trưng kiểu châu Âu. Các công trình có giá trị hiện nay, gồm cầu Long Biên, các biệt thự, các cơ quan công quyền, công trình công cộng, văn hóa, tôn giáo... Khu phố cũ đã trở thành di sản có ý nghĩa lớn về lịch sử và văn hóa của Thủ đô Hà nội.

Giải pháp

Các khu vực cần phải quan tâm đến thiết kế đô thị:

  • Các vùng không gian: khu vực ga Hà Nội (Hàng Cỏ), khu vực cừa Nam, khu vực quảng trường Cách mạng tháng tám
  • Các điểm: Nhà Hát Lớn, ga Hà Nội (ga Hàng Cỏ), Đại học Dược, Ngân hàng nhà nước..
  • Các tuyến không gian: có ba trục đường lớn là Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, trục đường Bà Triệu nối Hồ Gươm với hồ Thiền Quang.

Khu phố cũ được bảo tồn cả về cấu trúc và các di sản kiến trúc cùng những đặc trưng của khu phố (như: màu sắc công trình, cây xanh, hàng rào, thiết bị đô thị). Tôn tạo không gian cảnh quan kiến trúc xung quanh Nhà hát lớn, cửa Nam, ga Hà Nội, Chợ Hôm... và các tuyến phố chính như: Bà Triệu, Phố Huế, Hàng Bài, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền.... Đặc biệt cần phải bảo tồn hệ thống cây xanh như một đối tượng di tích cùng các không gian mở gắn liền với quảng trường. Bảo tồn cơ cấu biệt thự với đầy đủ tiêu chí có sân vườn, cây xanh, thảm cỏ, vườn hoa, mặt nước… có tường rào và lối đi riêng biệt cùng khôi phục các chi tiết trang trí như gờ, phảo, ban công, đầu cột… nhằm giữ được những nét dấu ấn kiến trúc mà người Pháp đã xây dựng nên.

  • Đối với khu vực xung quanh hồ Gươm:

Hồ Gươm là một trong những hồ đẹp nhất của Hà Nội và được cả là "trái tim" của Thủ đô. Hồ Gươm trở thành không gian xanh trong lòng Thủ đô, là nơi tập trung nhiều công trình công cộng, di tích có giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc, như: Công viên tượng đài Lý Thái Tổ, Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục; Trục đường Đinh Tiên Hoàng; Lê Thái Tổ; Tràng Tiền – Hàng Khay; Hai Bà Trưng; Nhà Thờ...

Các khu vực cần phải quan tâm đến thiết kế đô thị:

  • Các vùng không gian: Khu vực dự kiến bố trí trụ sở chính trị - hành chính đầu não thành phố Hà Nội; Khu vực nhà Thờ Lớn, khu vực hồ Gươm, khu vực vườn hoa Lý Thái Tổ, quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, vườn hoa Diên Hồng
  • Các điểm: Nhà Thờ Lớn, Bưu điện thành phố, tượng đài cảm tử, Nhà khách chính phủ (Phủ thống xứ Bắc kỳ)
  • Các tuyến không gian: trục phố đi bộ Hàng Khay-Tràng tiền kết nối Hồ Gươm với nhà Hát Lớn, trục không gian mở vườn hoa Lý Thái Tổ kết nối với Hồ Gươm cuối trục là Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Bảo tồn văn hóa, kiến trúc cảnh quan đặc trưng khu vực xung quanh hồ Gươm. Khống chế quy mô phát triển mới và cung cấp tiện ích thêm các du lịch chất lượng cao. Cải thiện điều kiện về hạ tầng đô thị và môi trường cho khu vực. tạo các không gian kết nối Hồ Gươm với các quảng trường công cộng như quảng trường Đông kinh Nghĩa Thục, quảng trường Lý Thái Tổ, quảng trường Nhà hát lớn, quảng trường Nhà thờ lớn, quảng trường trước lăng vua Lê. Tạo lập thêm không gian quảng trường lớn trước trụ sở HĐND, UBND Thành phố, tăng cường không gian cây xanh mặt nước nhân tạo nhằm nâng cao giá trị cảnh quan của một khu vực trung tâm.

  • Đối với khu vực xung quanh Hồ Tây.

Hồ Tây là cảnh quan nổi tiếng của Thủ đô, là không gian quan trọng trên trục không gian lịch sử, văn hóa cảnh quan lớn của thủ đô: Hồ Tây – Sông Hồng – Cổ Loa. Cần bảo vệ hồ Tây và khu vực xung quanh hồ Tây, tạo nên không gian xanh rộng lớn trong lõi đô thị trung tâm Hà nội, bảo vệ các công trình kiến trúc có giá trị: Phủ Tây Hồ, chùa Trấn Quốc, đường Thanh Niên, làng nghề truyền thống, vùng trồng quất, trồng đào, trồng hoa và các di sản kiến trúc có giá trị khác. Bảo vệ diện tích mặt nước.

Các khu vực cần phải quan tâm đến thiết kế đô thị:

  • Các vùng không gian: Khu vực Phủ Tây Hồ, khu vực đầm Sen, khu vực làng Nhật Tân trồng hoa, quất, đào, khu vực làng Nghi Tàm, Xuân Đỉnh, Xuân La, làng Kẻ Bưởi với nghề làm giấy dó, làng Thụy Khuê..
  • Các điểm: Chùa Trấn Quốc, đền Quán Thánh, chùa Kim Liên, trường Chu Văn An, công viên nước Hồ Tây…
  • Các tuyến không gian: trục đường Thanh Niên, đường ven hồ, các tuyến đê . . .

Bảo tồn các điểm di tích, chỉnh trang không gian các làng nghề nhằm cân đối giữa việc bảo tồn không gian sinh hoạt truyền thống và đảm bảo sự phát triển bền vững của làng trong quá trình đô thị hóa đặc biệt là những làng lịch sử truyền thống như: Phủ Tây Hồ, Chùa Trấn Quốc, Chùa Quán Thánh,… Khôi phục lại không gian văn hóa của các làng nghề như trồng hoa, vẽ tranh… gắn kết với không gian mở, công viên cây xanh và các trục đi bộ hướng ra hồ Tây để tổ chức các sự kiện văn hóa lớn của Thành phố và Quốc gia. Cải tạo và chỉnh trang kiến trúc, cảnh quan trên các trục đường xung quanh hồ Tây và hồ Trúc Bạch, kết nối với các công trình công cộng và các điểm dịch vụ du lịch. Nhiều công trình công sở, cơ quan, văn phòng với kiến trúc cũ chật hẹp cần phải di dời và thay thế bằng những công trình công cộng, dịch vụ, khách sạn, giải trí nhằm tăng cường hoạt động, phát triển du lịch cho khu trung tâm này.

  • Đối với khu vực vành đai xanh sông Nhuệ

Khuyến khích xây dựng các công trình văn hóa giải trí, công viên, quảng trường, tượng đài… phục vụ hoạt động trong vành đai, với mật độ xây dựng thấp.

Tạo lập hành lang an toàn dọc hai bên sông Nhuệ và sông Tô Lịch, xây dựng đường cảnh quan kết hợp các công viên chủ đề, công viên có quy mô lớn, có lối đi bộ và đi xe đạp cùng các tiện ích công cộng khác.

Hình thành các không gian xanh xung quanh các hồ nước hiện có, mang lại sắc thái và hình ảnh đặc trưng của các hồ nước tại Hà Nội, đặc biệt là hồ chứa nước sinh thái.

Kiểm soát sự phát triển, lan tỏa và tình trạng bê tông hóa của làng xóm hiện hữu.. làm mất hình ảnh sinh thái và mô hình làng truyền thống. Tránh mở rộng và lấp đầy các không gian trống, mật độ thấp. Khuyến khích tăng cường không gian xanh trong lõi khu vực ở.

Bảo tồn tôn tạo các di tích, di sản, kiểm soát các công trình xây dựng xung quanh các khu vực này, tránh xâm lấn và ảnh hưởng đến hình thái kiến trúc của các di tích và di sản.

Khuyến khích các đặc trưng kiến trúc truyền thống

Kiểm soát, quản lý các đồ án, dự án đầu tư đã được duyệt theo chỉ tiêu dành cho các dự án nằm trong vành đai xanh. Khuyến khích giảm mật độ tầng cao và mật độ xây dựng dự kiến, khuyến khích không gian mở.

Duy trì và phát triển các hoạt động thâm canh quy mô nhỏ như rau xanh, cây ăn quả, trồng hoa.

Bảo tồn và phát triển không gian sinh hoạt và sản xuất trong các làng nghề truyền thống, hình thành các tiện ích công cộng nhằm phát triển du lịch.

  • Đối với khu vực hành lang xanh

Đối với đất làng xóm, điểm dân cư nông thôn

  • Hoàn chỉnh mô hình làng xóm, điểm dân cư nông thôn đồng bộ hạ tầng kỹ thuật (điện, đường…), hạ tầng xã hội (công cộng, trường học- đào tạo, trạm…) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009; phát triển theo hướng dịch vụ nông nghiệp - nông thôn phụ vụ cho du lịch.
  • Hiện đại hóa các cơ sở phục phụ nông nghiệp - nông thôn, ưu tiên phát triển các làng nghề truyền thống, đặc trưng.
  • Kiểm soát quy mô sử dụng đất ở của từng hộ gia đình theo đúng quy định hiện hành đối với từng cấp (ven đô, trung du, miền núi..).
  • Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan mang bản sắc truyền thống theo từng khu vực (ven đô, trung du, miền núi…), gắn với các hoạt động du lịch-dịch vụ-nghỉ dưỡng. Công trình xây dựng với mật độ thấp, tầng cao tối đa không quá 3 tầng (khuyến khích xây dựng nhà 1 - 2 tầng).
  • Khuyến khích mô hình sinh thái vườn gắn với các làng xóm cũ, giữ vững hình ảnh làng truyền thống của Hà Nội với cây đa, giếng nước, sân đình..

Đối với đất du lịch - dịch vụ - nghỉ dưỡng

  • Phát triển và kiểm soát các khu du lịch - dịch vụ - nghỉ dưỡng trên nguyên tắc không xâm phạm vùng nông nghiệp năng suất cao, các vùng bảo vệ đa dạng sinh học và các khu vực di sản văn hóa…
  • Tổ chức không gian và các hoạt động  du lịch - dịch vụ - nghỉ dưỡng sinh thái  thân thiện với môi trường, gắn với các đặc trưng cây xanh, mặt nước, di sản văn hóa, làng nghề, đô thị… Công trình xây dựng có mật độ thấp, tầng cao tối đa không quá 3 tầng (chủ yếu 1- 2 tầng).

Đối với đất công nghiệp, kho tàng

  • Di dời hoặc từng bước di dời các cơ sở công nghiệp, kho tàng đến khu công nghiệp tập trung theo quy hoạch với từng giai đoạn cụ thể.
  • Khuyến khích và ưu tiên tổ chức khai thác, phát triển cơ sở công nghiệp địa phương, tiểu thủ công nghiệp tiết kiệm, hiệu quả, hiện đại không gây ô nhiễm môi trường, phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
  • Phát triển các nghề sản xuất truyền thống đặc trưng, không gây ô nghiễm môi trường phục vụ cho dịch vụ du lịch và cung cấp các sản phẩm tiêu dùng cho đô thị.

Đối với các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đầu mối

  • Phù hợp với định hướng quy hoạch chung tiếp tục được triển khai thực hiện (trạm xử lý nước thải, điện năng…)

Đối với đất khác, đất chưa sử dụng

  • Khuyến khích cải tạo, khai thác theo hướng phục vụ nông nghiệp - nông thôn, tăng cường hệ sinh thái.

Đối với các dự án đầu tư xây dựng, gồm

  • Các dự án phù hợp với các chức năng sử dụng đất trong hành lang xanh nêu trên, tiếp tục triển khai xây dựng gồm các dự án sinh thái (không phát triển nhà ở), các cụm công nghiệp phục vụ nông nghiệp, làng nghề; các dự án nhà ở giãn dân nông nghiệp hàng năm theo quy định….
  • Đối với các dự án không phù hợp với các chức năng sử dụng đất trong hành lang xanh nêu trên, không cho triển khai tiếp các hạng mục chưa cấp phép xây dựng và từng bước chuyển đổi chức năng sử dụng cho phù hợp các nguyên tắc phát triển đối với từng dự án cụ thể và theo yêu cầu phát triển đến năm 2020.

Đối với các di tích

  • Bảo tồn, tôn tạo các di tích gắn với cây xanh, mặt nước.
  • Nghiêm cấm xây dựng làm ảnh hưởng tới cảnh quan xung quanh các công trình tôn giáo, về chiều cao, hình khối của công trình xây dựng

Đối với các vùng cảnh quan

  • Khoanh vùng bảo vệ các khu vực bảo tồn nguồn cảnh quan tự nhiên, rừng và công viên
  • Hạn chế phát triển các dự án mới tại các khu vực chủ chốt như Ba Vì, Sóc Sơn và Hương Sơn
  • Nghiêm cấm khai thác đá vôi tại các khu vực có nguồn đá vôi, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và nâng cao tính bền vững về môi trường
  • Bảo vệ các hồ chứa nước nông nghiệp, kết nối với hệ thống sông sinh thái mang lại hình ảnh đô thị nước cho Thủ đô.
  • Hạn chế giảm diện tích đất nông nghiệp truyền thống. Bảo tồn và mở rộng các vùng nông nghiệp năng suất cao, vùng bảo bệ đa dạng sinh học.
  • Khuyến khích phát triển trang trại chăn nuôi tạo lập hình ảnh trang trại sinh thái cho các khu vực đồi núi thấp như Ba Vì.
  • Bảo đảm quy mô hệ thống đường giao thông và hạ tầng kỹ thuật cơ bản, đặc biệt phát triển giao thông đường thủy để có thể khuyến khích hơn nữa hoạt động du lịch.
  • Đối với khu vực 2 bên bờ sông Hồng

Khôi phục sông Hồng trở thành xương sống về môi trường và văn hóa của thành phố, là công cụ chiến lược để cải thiện hình ảnh và nâng cao bản sắc của thành phố.

Tạo lập hình ảnh thành phố hiện đại và sinh thái hai bên sông, có bản sắc truyền thống, tôn trọng các khu vực bảo tồn, đặc biệt đoạn đi qua đô thị trung tâm.

Xây dựng đường cảnh quan hai bên sông nhằm tạo những tầm nhìn đẹp về phía đô thị, trong đó có lối tiếp cận đi bộ và xe đạp hấp dẫn. Cải tạo các tuyến đê hài hòa, liền mạch với cảnh quan đô thị phía trong, có thể dễ dàng đi ngang qua thông qua các tiện ích giao thông, đồng thời không trở thành rào cản ngăn cách, tách rời không gian giữa đô thị với lòng sông.

Tổ chức những trục cảnh quan kết nối không gian hai bên bờ sông, gắn kết các công trình trọng điểm, khai thác các trục hướng tâm.

Hình thành những công trình văn hóa và vui chơi giải trí mang tính biểu tượng, tạo điểm nhấn trọng tâm trên trục sông

Tạo lập các công viên sinh thái, đổi mới hình ảnh các làng hiện có với mô hình xanh hóa, nghiêm cấm xây dựng cao tầng, khuyến khích thấp tầng với mật độ tối đa 30%, dần di dời bớt dân cư và các chức năng không phù hợp vào các khu đô thị, mang lại hình ảnh thảm xanh cho hai bên bờ sông Hồng.

Áp dụng các biện pháp ngăn lũ mới được thiết kế nhằm kết hợp và tăng cường cảnh quan trên sông hiện hữu.

Theo dõi chúng tôi