BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TP HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 ( PHẦN 1 VÀ 2)

 
BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TP HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 ( PHẦN 1 VÀ 2)

Tác giả:

Nhà xuất bản: --

Mã sách: QHTTKTXH2

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030


Tài liệu gồm 2 phần:

Phần 1: Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 (phần 1,2).

Phần 2: Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 (phần 3 và phụ lục I,II,II,IV).

Phần 3: Mục lục tổng thể báo cáo.


 

MỤC LỤC PHẦN 1-2

MỞ ĐẦU

PHẦN THỨ NHẤT - HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÁC LỢI THẾ,  HẠN CHẾ, CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI THỦ ĐÔ HÀ NỘI

1. Tổng quan về hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô

2. Hà Nội trong tổng thể cả nước, so sánh với các đô thị lớn, các thủ đô

II. LỢI THẾ, HẠN CHẾ, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

1. Lợi thế

2. Hạn chế

3. Cơ hội

4. Thách thức

PHẦN THỨ HAI - PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

I. VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

II. LUẬN CHỨNG VỀ QUY MÔ, TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI

1. Dự báo dân số thành phố Hà Nội

2. Tổ chức không gian đô thị Hà Nội

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2030

IV. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN

1. Quan điểm phát triển

2. Mục tiêu phát triển

3. Các trọng tâm phát triển

V. CÁC NGÀNH KINH TẾ

1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp

2. Dịch vụ

3. Công nghiệp

4. Nông lâm thủy sản và nông thôn

VI. CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

2. Văn hoá

3. Giáo dục và đào tạo

4. Y tế

5. Thể dục, thể thao

6. Khoa học và công nghệ

7. Quốc phòng, an ninh

VII. KẾT CẤU HẠ TẦNG

1. Mạng lưới giao thông

2. Hệ thống cấp điện

3. Thông tin và truyền thông

4. Cấp nước

5. Thủy lợi, thoát nước và xử lý nước thải

6. Xử lý chất thải rắn

7. Nghĩa trang

VIII. PHÂN KHU CHỨC NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU VỰC

1. Phân khu chức năng

2. Định hướng phát triển các khu vực

3. Định hướng sử dụng đất


 

MỞ ĐẦU

 

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 60/2002/QĐ-TTg ngày 13/5/2002. Qua quá trình thực hiện quy hoạch, Thành phố đã đạt được một số thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đầu tư phát triển các ngành sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ.

Thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Quốc hội, từ ngày 01 tháng 8 năm 2008 địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội được mở rộng trên cơ sở hợp nhất thành phố Hà Nội với tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Trước yêu cầu mở rộng về quy mô diện tích, dân số và các bối cảnh phát triển mới của đất nước như nước ta đã chính thức trở thành thành viên của WTO, đang xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, việc triển khai xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 là cần thiết.

Mục đích của quy hoạch: nghiên cứu, đề xuất phương án và nhiệm vụ phát triển, tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội một cách có căn cứ khoa học nhằm phát huy lợi thế so sánh của Thủ đô; xác định các các chức năng của Thủ đô đối với vùng và cả nước; xây dựng Thủ đô xứng đáng là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; một Thủ đô văn minh, hiện đại của cả nước trong thời kỳ tới.

Các căn cứ chủ yếu xây dựng quy hoạch bao gồm:

- Nghị quyết 15/NQ-QH ngày 29/5/2008 của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan.

- Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 28/12/2000;

- Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 14/12/2000 của Bộ Chính trị về Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010;

- Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế  xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh Vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước thời kỳ 2011-2020 (Dự thảo);

- Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và Nghị định 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 (Dự thảo);

- Quyết định 145/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng KTTĐ Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020;

- Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 05 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050;

- Quyết định số 1878/QĐ-TTg ngày 22 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050;

- Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050 do Liên danh Tư vấn PPJ lập (Dự thảo);

- Các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên địa bàn cả nước có liên quan đến Thủ đô Hà Nội;

- Các quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển các ngành và lĩnh vực trên địa bàn Thủ đô Hà Nội;

- Nghị quyết của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy về định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực trên địa bàn Thủ đô Hà Nội;

- Các đề án, quy hoạch phát triển các ngành và lĩnh vực của Thủ đô Hà Nội;

- Các số liệu thống kê, báo cáo của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê thành phố, các Sở, ngành.

Cấu trúc của Báo cáo Quy hoạch bao gồm ba phần chính:

Phần thứ nhất - Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và các lợi thế,  hạn chế, cơ hội, thách thức của Thủ đô Hà Nội

Phần thứ hai  - Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Phần thứ ba - Các giải pháp thực hiện quy hoạch và kiến nghị.

Trong Báo cáo Quy hoạch có các phụ lục sau:

Phụ lục 1 - Các yếu tố, điều kiện phát triển và thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực

Phụ lục 2 - Dự báo tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội

Phụ lục 3 - Các phương án tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thủ đô Hà Nội

Phụ lục 4 - Danh mục các chương trình và dự án ưu tiên đầu tư

Dưới đây là nội dung Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

 

PHẦN THỨ NHẤT

HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÁC LỢI THẾ,  HẠN CHẾ, CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HIỆN TRẠNG KINH TẾ – XÃ HỘI THỦ ĐÔ HÀ NỘI

1. Tổng quan về hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô

1.1 Các thành tựu chủ yếu

a) Kinh tế Thủ đô có bước phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế ngày càng hiện đại và hiệu quả

- Quy mô, tăng trưởng và cơ cấu kinh tế

Tổng quy mô GDP của Hà Nội năm 2008 đạt trên 178,5 nghìn tỷ đồng (giá thực tế), tương đương với 10,77 tỷ USD, chiếm hơn một nửa tổng GDP vùng Đồng bằng sông Hồng và 12,1% cả nước. Nếu xét theo thứ tự về quy mô GDP theo tỉnh, thành cả nước, Thủ đô Hà Nội đứng vị trí thứ hai và bằng 61,5% tổng GDP của địa phương đứng đầu là Thành phố Hồ Chí Minh.

Biểu 1: Tốc độ tăng trưởng và đóng góp vào tăng trưởng của các ngành

Đơn vị tính: %

 Chỉ tiêu
2001-
2005
Năm
2006
Năm
2008
Năm 2009
ƯTH
2010
2006-2010
1. Tốc độ tăng trưởng
11,0
12,2
10,6
6,7
10,9
10,6
- Dịch vụ
10,7
10,3
10,9
7,4
11,0
10,4
- Công nghiệp - xây dựng
13,4
17,2
11,9
6,8
11,5
12,3
- Nông, lâm, thuỷ sản
4,1
1,3
2,0
0,1
6,2
2,5
2. Đóng góp cho tăng trưởng
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
- Dịch vụ
50,7
43,8
52,1
56,1
51,1
50,1
- Công nghiệp - xây dựng
45,2
55,3
46,7
43,8
47,4
48,7
- Nông, lâm, thuỷ sản
4,1
0,9
1,1
0,1
1,5
1,2
 

Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê Hà Nội 2008,2009 và số liệu dự báo.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Hà Nội thời kỳ 2001-2008 là 11,3% (thời kỳ 2001-2005 là 11,0%), cao gấp 1,49 lần cả nước. Trong đó, ngành dịch vụ với tốc độ tăng cả thời kỳ là 10,9%, đóng góp 49,9% cho tăng trưởng. Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất với 13,8% và có lúc có mức đóng góp cho tăng trưởng cao hơn ngành dịch vụ, nhưng nếu xét toàn thời kỳ 2001-2008, tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng của ngành công nghiệp đạt 47,4%, xấp xỉ bằng ngành dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng của khối ngành nông nghiệp giai đoạn 2001-2008 chỉ là 3,3%, nhưng cũng gần bằng mức tăng trưởng của ngành nông nghiệp trong phạm vi cả nước (3,83%). Với tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhiều so với khu vực phi nông nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp đã giảm đi nhanh từ 4,1% thời kỳ 2001-2005 xuống còn 1,1% năm 2008. Xét tổng cả thời kỳ 2001-2008, mức đóng góp cho tăng trưởng của ngành nông nghiệp chỉ đạt 2,7%. Dự kiến giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 10,6%/năm.

Cơ cấu kinh tế theo ngành của Hà Nội có sự dịch chuyển khá nhanh theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông nghiệp chỉ còn 6,5% năm 2008. Khu vực dịch vụ có tỷ trọng là 52,4% trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố năm 2008 và là ngành có tỷ trọng cao nhất. Hà Nội là một trong số ít địa phương có tỷ trọng dịch vụ cao hơn ngành công nghiệp.

Các thành phần kinh tế đều được Thành phố khuyến khích phát triển. Các doanh nghiệp Nhà nước được củng cố, sắp xếp lại, tiếp tục giữ vị trí quan trọng (năm 2008 khu vực Nhà nước vẫn chiếm 44,2% trong cơ cấu GDP). Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động có hiệu quả, góp phần nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý và tay nghề của người lao động. Hình thành nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty mạnh, có khả năng cạnh tranh cao hơn.

Biểu 2: Cơ cấu kinh tế thành phố Hà Nội

(Theo phân ngành kinh tế 2007)

Chỉ tiêu

Năm

2000

Năm

2005

Năm

2006

Năm

2008

Năm

2009

ƯTH

2010

1. Cơ cấu GDP theo ngành

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

- Dịch vụ

53,2

52,4

52,2

52,4

52,6

52,5

- Công nghiệp - xây dựng

36,4

40,7

41,4

41,1

41,1

41,4

- Nông, lâm, thuỷ sản

10,4

6,9

6,4

6,5

6,3

6,1

2. Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

1. Khu vực kinh tế trong nước

81,9

81,5

81,1

81,8

81,9

81,8

- Nhà nước

50,7

49,6

47,0

44,2

43,9

43,5

- Ngoài Nhà nước

31,2

31,9

34,1

37,6

38,0

38,3

2. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

14,9

16,1

17,3

16,6

16,5

16,7

3. Thuế nhập khẩu

3,2

2,4

1,6

1,6

1,6

1,5

Nguồn: Xử lý từ số liệu Niên giám thống kê Hà Nội 2008 và số liệu dự báo.

 

- Các chỉ tiêu kinh tế khác

Tuy có tổng GDP đứng thứ hai trong cả nước nhưng GDP bình quân đầu người của Thủ đô Hà Nội năm 2008 chỉ gần 1.700 USD, gấp hơn 1,7 lần trung bình cả nước và 1,75 lần so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng. Lý do là mức tăng dân số (đặc biệt là người nhập cư vào Thủ đô) tăng rất nhanh, lên đến 2,1% trong cả thời kỳ 2001-2008.

Thủ đô Hà Nội là một thành phố có kinh tế "mở" khi mức xuất nhập khẩu trong năm 2008 chiếm 283% GDP. Xuất khẩu bình quân đầu người năm 2008 đã đạt mức hơn 1.092 USD, cao hơn một nửa so với mức GDP/người của Hà Nội. Tuy vậy, mức xuất khẩu của thành phố chỉ bằng 29,4% so với nhập khẩu. Điều đó có nghĩa là thâm hụt thương mại của thành phố lên tới hơn 16,6 tỷ USD, gấp hơn 1,54 lần GDP của cả thành phố[1].

Tăng trưởng kinh tế của Hà Nội có hiệu quả nhất định khi mức tiêu thụ điện để tạo ra 1 đô-la GDP của thành phố chỉ còn 0,49 KWh (2008), tương đương với mức các nước có thu nhập trung bình khá trên thế giới (0,45-0,60) và chỉ bằng 1/2 mức tiêu thụ bình quân của cả nước.

Hà Nội là một trong số ít địa phương trong nhiều năm có mức bội thu ngân sách và đóng góp lớn cho ngân sách Trung ương. Năm 2008, tỷ lệ thu ngân sách huy động vào GDP là 37,8% và mức bội thu ngân sách lên tới hơn 46,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,3% GDP.

Lạm phát (tính theo GDP deflator) của Hà Nội thời kỳ 2001-2008 là 8,4%, cao hơn mức lạm phát của cả nước (8,1%) nhưng tỷ số giữa tăng trưởng và lạm phát của Hà Nội là lớn hơn 1, tức là tăng trưởng cao hơn lạm phát (1,35 lần) trong khi tỷ số này của cả nước là nhỏ hơn 1 (0,93 lần), đây là một chỉ số tích cực đối với sự phát triển của Hà Nội. Dù vậy, chỉ tiêu này ở năm 2008 chỉ là 0,62 lần do yếu tố tác động của cuộc khủng hoảng và lạm phát tăng cao của cả nước.

Biểu 3: Một số chỉ tiêu hiện trạng về kinh tế của thành phố Hà Nội

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm

2000

Năm

2005

Năm

2006

Năm

2008

ƯTH

2010

1. GDP (giá hiện hành)

Tỷ đồng

39.944

92.425

110.736

178.535

249.100

Quy đổi USD

Tỷ USD

2,82

5,83

6,92

10,77

13,3

- GDP/người

USD

524

986

1.148

1.696

2.021

- NSLĐ

USD

1.221

2.180

2.491

3.594

4.157

2. GDP giá so sánh 1994

Tỷ đồng

26.228

44.130

49.512

61.619

72.913

3. Vốn đầu tư (giá h. hành)

Tỷ đồng

19.356

42.384

67.180

99.013

175.063

- VĐT/GDP

%

48,5

45,9

60,7

55,5

70,3

4. Xuất khẩu

Triệu USD

1.449

3.003

3.947

6.936

7.644,2

- Xuất khẩu/GDP

%

51,4

51,5

57,0

64,4

57,5

- Nhập khẩu

Triệu USD

3.937

10.687

12.575

23.544

21.434,9

- Chênh lệch XNK

Triệu USD

-2.488

-7.684

-8.628

-16.608

-13.790,7

- CLXNK/GDP

%

88,2

131,8

124,6

154,2

103,7

5. Thu ngân sách

Tỷ đồng

14.084

32.390

41.031

67.430

90.947

- Thu ngân sách so GDP

%

35,3

35,0

37,1

37,8

37,8

- Bội thu ngân sách

Tỷ đồng

9.849

19.423

24.949

46.931

62.556

- Tỷ lệ bội thu so GDP

%

24,7

21,0

22,5

26,3

26,0

6. Điện

Triệu KWh

2.271,0

4.004,0

4.442,0

5.300,0

6.240,0

- Tiêu thụ điện/GDP

KWh/1$GDP

0,81

0,69

0,64

0,49

0,48

Ghi chú: Mức tỷ giá hối đoái 1USD = 14.168 VNĐ (2000); 15.859 VNĐ (2005); 15.994 VNĐ (2006); 16.074 VNĐ (2007); 16.577 VNĐ (2008).

Nguồn: Xử lý từ số liệu Niên giám thống kê Hà Nội 2008 và số liệu dự báo.

           

- Các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh đều có bước phát triển

Sản xuất công nghiệp có sự tăng trưởng khá. Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 17 khu công nghiệp (KCN) tập trung đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hiện đã và đang triển khai, trong đó có 8 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích 1.236 ha và 9 KCN đang trong giai đoạn lập quy hoạch, hoàn chỉnh hồ sơ thu hồi đất GPMB và xây dựng hạ tầng với tổng diện tích 3.581 ha([2]). Một số KCN đã được lấp đầy doanh nghiệp thứ phát như KCN Bắc Thăng Long, Nội Bài...

Dịch vụ vẫn là ngành có giá trị tăng thêm lớn, chiếm tỷ trọng cao, có tác dụng làm hạt nhân đóng góp vào mức tăng chung của kinh tế Thủ đô. Các ngành dịch vụ trình độ, chất lượng cao như dịch vụ vận tải, bưu chính - viễn thông, tín dụng - ngân hàng, du lịch, tư vấn, y tế, giáo dục, hỗ trợ sản xuất kinh doanh... đều có sự tăng trưởng và đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, người dân và khách quốc tế.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, diện tích đất nông nghiệp liên tục giảm, hệ thống thủy lợi xuống cấp, đê điều bị sạt lở, song sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển. Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp/1ha đất nông nghiệp liên tục tăng, năm 2009 ước đạt 131 triệu đồng/ha. Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch tích cực; giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi - thủy sản - dịch vụ nông nghiệp. Tỷ trọng các cây trồng, vật nuôi có chất lượng và giá trị kinh tế cao, an toàn thực phẩm tăng dần. Kinh tế trang trại liên tục phát triển cả về số lượng, quy mô và giá trị sản xuất. Hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn tiếp tục được quan tâm đầu tư, đã từng bước đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp và góp phần xây dựng nông thôn mới, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân khu vực nông thôn.

 

b) Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển; các vấn đề xã hội bức xúc từng bước được giải quyết

Giữ vững và ổn định quy mô giáo dục. Phát triển đa dạng các loại hình trường lớp và hình thức học tập, cơ bản đáp ứng được nhu cầu người học. Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững, chất lượng mũi nhọn được nâng cao. Việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thu được kết quả tốt. Chương trình kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa được ưu tiên đầu tư, số trường đạt chuẩn quốc gia tăng nhanh (tính đến 31/7/2009 toàn thành phố có 465 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 20,9%). Đào tạo nghề trên địa bàn được mở rộng, tỷ lệ lao động qua đào tạo dự kiến năm 2010 đạt 35% (trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 25,4%).

Đầu tư cho khoa học công nghệ được đa dạng hóa, công tác quản lý được đổi mới theo hướng gắn chặt hơn với yêu cầu thực tiễn. Thành phố quan tâm xây dựng chính sách đào tạo, sử dụng tài năng và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân có tiến bộ. Công tác phòng chống dịch bệnh và quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thu được kết quả tốt. Mạng lưới y tế cơ sở được chú trọng củng cố; y tế chuyên sâu phát triển, một số bệnh viện được đầu tư, nâng cấp và thành lập mới. Chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân được nâng lên. Xã hội hóa dịch vụ y tế ngày càng mở rộng.

Thực hiện có hiệu quả chương trình giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc. Giải quyết việc làm có chuyển biến tích cực (trung bình mỗi năm giai đoạn 2006-2010 giải quyết việc làm cho trên 120 nghìn lao động), tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm từ 6,06% năm 2006 xuống còn 5,35% năm 2008. Cơ cấu lao động chuyển dịch phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các phong trào đền ơn đáp nghĩa phát triển sâu rộng. Người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo được quan tâm hỗ trợ.

Sự nghiệp phát triển văn hoá và xây dựng người Hà Nội đạt được những kết quả quan trọng. Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch - văn minh" được đẩy mạnh kết hợp với việc thực hiện phong trào xây dựng Thủ đô văn minh - xanh - sạch đẹp.

Thể dục thể thao có bước phát triển mạnh. Hà Nội dẫn đầu cả nước trong việc du nhập và phát triển các môn thể thao mới; thể thao thành tích cao đạt nhiều thành tích trong nước và quốc tế. Cơ sở vật chất tiếp tục được đầu tư nâng cấp và xây dựng. Tổ chức thành công các đại hội thể thao lớn của cả nước và khu vực như Hội khỏe Phù Đổng, AFC Cup, Đại hội thể thao châu Á trong nhà lần thứ 3 (AIG III)...

c) Xây dựng và quản lý đô thị có bước phát triển mới, hệ thống hạ tầng  bước đầu được cải thiện

Công tác xây dựng và quản lý đô thị được tập trung chỉ đạo. Tốc độ phát triển đô thị ở mức nhanh nhất so với các địa phương cả nước trong những năm gần đây. Công tác quản lý trật tự xây dựng dần đi vào nền nếp, tỷ lệ cấp phép xây dựng được nâng cao. Triển khai xây dựng nhiều khu đô thị mới theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị được duy trì và tập trung đầu tư theo hướng hiện đại, đồng bộ. Nhiều tuyến đường, nút giao thông quan trọng đã hoàn thành. Triển khai xây dựng một số công trình lớn, cải tạo nhiều hồ, công viên, tạo ra bước phát triển mới của Thủ đô. Mở rộng, cải tạo hệ thống phân phối và mạng cấp nước cho nhiều khu vực.Hoàn thành giai đoạn I Dự án thoát nước Hà Nội.

d) An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hoạt động đối ngoại được tăng cường

Đảm bảo an ninh trật tự cho các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng (Hội nghị APEC năm 2006, Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc 2008, ACMECS lần thứ 3, Hội nghị Ngoại trưởng Á - Âu 2009...). Chủ động phòng ngừa và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và các hoạt động chống đối chính trị. Không để xảy ra đột biến, khủng bố, phá hoại, bạo loạn chính trị. Xử lý và đảm bảo đúng pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đối với những vụ việc lợi dụng tôn giáo, gây mất trật tự xã hội.

Các hoạt động đối ngoại được triển khai theo hướng hiệu quả hơn. Mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác với Thủ đô các nước và các tổ chức quốc tế trong dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long; tăng cường hợp tác đầu tư, trao đổi thương mại và hợp tác trong lĩnh vực văn hoá, xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm và cả nước.

1.2 Các hạn chế, tồn tại

a) Một số hạn chế trong tăng trưởng kinh tế

- Chất lượng tăng trưởng chưa cao. Các sản phẩm công nghiệp có sức cạnh tranh ở mức thấp. Dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao phát triển chậm. Tăng trưởng xuất khẩu chưa vững chắc, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng sơ chế và gia công. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn trong tình trạng phân tán, chưa tạo được mô hình sản xuất có hiệu quả cao.

- Khu vực dịch vụ tăng trưởng còn chậm

Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cao hơn so với ngành dịch vụ, do đó tỷ lệ giữa tốc độ tăng ngành dịch vụ cho khối ngành sản xuất chỉ đạt 0,9 lần trong cả thời kỳ 2001-2008. Đây cũng là thực trạng chung của cả nước khi khối ngành dịch vụ tăng trưởng chậm hơn so với ngành sản xuất. Điều đó cho thấy sự thiếu hài hoà trong cơ cấu kinh tế Hà Nội, trong khi Thủ đô đang phấn đấu trở thành một trung tâm dịch vụ lớn, trung tâm tài chính, ngân hàng, thương mại của cả nước và có tầm cỡ quốc tế.

- Tăng trưởng chủ yếu do yếu tố vốn đầu tư

Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP trong thời kỳ vừa qua rất cao, riêng năm 2008 đã lên tới 55,5% (cả nước là 43,1%), cho thấy đóng góp của vốn vào tăng trưởng là rất lớn. Tốc độ tăng vốn của thời kỳ 2001-2008 là 22,6%, gấp 2,0 lần so với tốc độ tăng trưởng (tỷ lệ này của cả nước là 2,07), trong đó tốc độ tăng vốn từ khu vực ngoài Nhà nước là cao nhất, lên tới 33,7%. Nếu tính theo chỉ số ICOR thì Hà Nội là 6,70 so với của cả nước là 7,89 trong thời kỳ 2006-2008 (tính theo giá so sánh)[3].

Trong cơ cấu vốn đầu tư giai đoạn 2005-2008, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (bao gồm cả ODA) chiếm khoảng 17-18% (trong đó vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương khoảng 7-8%), vốn của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và dân cư khoảng 55-56%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khoảng 10-11%.

- Khu vực nông nghiệp vẫn còn lớn

Mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của Thành phố chỉ còn trên 6%, nhưng lao động trong khu vực nông nghiệp vẫn chiếm trên 28% trong cơ cấu lao động. Hơn 3,8 triệu người (gần 60% dân số) vẫn sống ở khu vực nông thôn; đa số các hộ nông dân vẫn còn nghèo.

b) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển, môi trường bị ô nhiễm, công tác quy hoạch và quản lý đô thị còn hạn chế

Hệ thống kết cấu hạ tầng cũng như các điều kiện vật chất - kỹ thuật của Hà Nội chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời kỳ quy hoạch. Hạ tầng văn hóa - xã hội còn yếu như hệ thống trường học nhất là các trường mầm non, nhà văn hóa, trụ sở cơ quan, UBND các xã, phường, trị trấn. Mạng lưới giao thông thường bị tắc nghẽn nghiêm trọng do tỷ lệ diện tích đường trên tổng diện tích đất của khu vực nội thành thành phố rất thấp, phương tiện cá nhân chiếm tỷ trọng lớn. Giao thông công cộng thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, bất cập về quy hoạch. Mạng lưới thoát nước yếu kém, năng lực của hệ thống xử lý nước thải quá thấp; hệ thống cấp nước, cấp điện, xử lý chất thải rắn chưa đáp ứng yêu cầu.

Công tác quy hoạch triển khai chậm, chất lượng quy hoạch đô thị còn hạn chế, thiếu tính đồng bộ, tổng thể và tầm nhìn dài hạn; quản lý quy hoạch và kiến trúc đô thị còn bất cập, chưa theo kịp sự phát triển đô thị, nhiều quy hoạch bị phá vỡ, bị "treo". Quy hoạch các vùng dân cư nông thôn còn thiếu và yếu cả về xây dựng và quản lý quy hoạch, quy hoạch các khu dân cư còn bám theo các trục quốc lộ. Quy hoạch thoát lũ hai bên bờ sông Hồng chưa được phê duyệt làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một số địa phương. Việc cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ còn chậm và chưa có cơ chế thích hợp. Quản lý thị trường bất động sản, nhất là đất đai còn yếu, sử dụng đất công còn lãng phí, tồn tại dự án treo, đất để hoang hóa, sử dụng sai mục đích; quản lý trật tự xây dựng, trật tự giao thông chuyển biến chưa nhanh. Công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập. Tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn chưa được giải quyết triệt để như ô nhiễm trên các sông, hồ, khí thải các nhà máy... Việc di chuyển các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm ra xa khu dân cư nội thành thực hiện chậm.

c) Các lĩnh vực xã hội vẫn còn một số tồn tại, yếu kém

Phân bố mạng lưới trường học, cơ sở y tế chưa hợp lý, tập trung chủ yếu ở các quận Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Cầu Giấy..., dẫn đến sự quá tải của các trường học, cơ sở y tế khu vực nội thành. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các khu vực. Hoạt động khoa học và công nghệ Thủ đô chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, nguồn nhân lực hiện có; chưa trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô. Chưa có những trung tâm đào tạo, y tế, khoa học công nghệ chất lượng cao, đạt các tiêu chí và chuẩn mực của quốc tế.

Hiện trạng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đảm bảo điều kiện để phát triển giáo dục toàn diện trong các trường phổ thông.

Lối sống, nếp sống của một bộ phận nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu của một đô thị văn minh và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô. Các tệ nạn xã hội có xu hướng diễn biến phức tạp.

d) Cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu

Chương trình cải cách hành chính chưa theo kịp yêu cầu, thủ tục hành chính còn rườm rà, một bộ phận cán bộ công chức còn biểu hiện cửa quyền, quan liêu, trì trệ khiến công dân, tổ chức còn nhiều phàn nàn về tình trạng phiền hà trong giải quyết công việc. Ở một số nơi, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền chưa cao, kết quả còn hạn chế.

          2. Hà Nội trong tổng thể cả nước, so sánh với các đô thị lớn, các thủ đô

          Hà Nội chỉ chiếm 7,4% về dân số và 1% diện tích nhưng đóng góp khoảng 12,1% GDP cả nước, 12,6% GTSX công nghiệp, 11,1% kim ngạch xuất khẩu, 16,9% thu ngân sách quốc gia, thu hút 16,2% vốn đầu tư xã hội so với cả nước (năm 2008).

So với Thành phố Hồ Chí Minh - đô thị lớn nhất cả nước, Hà Nội có diện tích lớn hơn (bằng 159,8%), dân số chênh lệch không nhiều (bằng 93,2%), tuy nhiên quy mô GDP của Hà Nội chỉ bằng 61,5% Thành phố Hồ Chí Minh, GDP bình quân đầu người bằng 65,9%, thu ngân sách bằng 55,9%, kim ngạch xuất khẩu bằng 31,1%, giá trị sản xuất công nghiệp bằng 48,3%, thu hút vốn đầu tư bằng 81,9% (năm 2008).

Biểu 4. So sánh một số chỉ tiêu của Hà Nội với cả nước và TP. Hồ Chí Minh năm 2008

Chỉ tiêu

Đơn vị

Hà Nội

Cả nước

Hà Nội so với cả nước (%)

TP. Hồ Chí Minh

Hà Nội so với            TP. Hồ Chí Minh (%)

Dân số

nghìn ngư­ời

6.350

86.211

7,4

6.810

93,2

Diện tích

km2

3.348

331.150

1,0

2.095

159,8

GDP (Giá thực tế)

tỷ đồng

178.535

1.477.717

12,1

290.390

61,5

GDP/ngư­ời (giá TT)

tr. đồng

28,1

17,1

164,0

42,6

65,9

GTSX Công nghiệp (giá 1994)

tỷ đồng

81.748

647.232

12,6

169.233

48,3

Xuất khẩu

triệu USD

6.936

62.685

11,1

22.291

31,1

Thu ngân sách

tỷ đồng

67.430

399.000

16,9

120.531

55,9

Vốn đầu t­ư

tỷ đồng

99.013

610.876

16,2

120.847

81,9

Nguồn: Niên giám thống kê cả nước, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh năm 2008.

So với một số Thủ đô của các nước châu Á, diện tích của Thủ đô Hà Nội là lớn nhất, quy mô dân số đứng sau Delhi, Tokyo, Manila, Seoul, Jakarta; mật độ dân số thấp nhất.

Biểu 5. Một số chỉ tiêu của Hà Nội và Thủ đô các nư­ớc

TT

Chỉ tiêu

Diện tích (km2)

Dân số (triệu ng­ười)

Mật độ dân số (ngư­ời/km2)

Tỷ lệ thất nghiệp (%)

 
 

1

Hà Nội

3.348

6,35

1.897

5,4*

 

2

Băngkok

1.568,7

5,6

3.592

2,1

 

3

Delhi

1.483

13,8

9.294

4,2

 

4

Jakarta

2.682,3

8,7

3.253

14,7

 

5

Kuala Lumpur

243

1,4

5.859

5,1

 

6

Manila

636

10,5

16.497

20,3

 

7

Seoul

605,5

10,3

17.009

4,8

 

8

Singapore

699

4,2

6.066

4,3

 

9

Taipei

271,8

2,6

9.626

3,9

 

10

Tokyo

2.187,1

12,5

5.699

5,4

 

Nguồn: Dự án HAIDEP

* Tỷ lệ thất nghiệp thành thị

- Về một số chỉ tiêu khác như nhà ở, giao thông đô thị, diện tích công viên trên đầu người của các quận nội thành ở mức thấp so với các nước khác. So sánh một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng của Hà Nội với các đô thị trong khu vực và thế giới như trong biểu sau.

Biểu 6. Các tiêu chí cơ bản về cơ sở hạ tầng

 

Dịch vụ cơ sở hạ tầng

Các tiêu chí

Hiện trạng

So sánh với các nước khác

Nhà ở

Diện tích ở TB/người (m2)

20,81)

27,2 (Tokyo)

Công viên và không gian xanh

Diện tích công viên (ng/m2) (đô thị)

5,72)

26,9 (London)

Nước sạch

Phạm vi (% hộ gia đ́nh)

61,63)

100 (Tokyo)

Điện

Phạm vi cấp điện (% hộ gia đ́nh)

99,6

100 (Seoul)

Vệ sinh

Tỉ lệ có NVS tự hoại (% hộ GĐ)

79,83)

100 (Singapore)

Xử lư nước thải (% số dân)

1,2

70 (Chiang Mai)

Thu gom rác thải (% )

95,0

-

Giao thông đô thị

Tỉ lệ đường (%)

4,04)

2,5 (Bangkok)

Tỉ phần GTCC (%)5)

7,03)

74,0 (Tokyo)

Nguồn: Đoàn Nghiên cứu HAIDEP và số liệu năm 2008 các Sở, ngành thành phố Hà Nội.

1)       Diện tớch nhà ở theo Tổng điều tra Dõn số và Nhà ở 1/4/2009

2)       Tính đến năm 2008 (Sở Xây dựng)

3)       Điều tra Phỏng vấn hộ GĐ HAIDEP năm 2005

4)       Tớnh cho khu vực nội thành cũ

 

II. LỢI THẾ, HẠN CHẾ, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

Trên cơ sở phân tích đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô và dự báo tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước và các yếu tố phát triển khác đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, rút ra các lợi thế, hạn chế và cơ hội, thách thức của thủ đô Hà Nội như sau:

          1. Lợi thế

- Vị trí là Thủ đô, "là trái tim" của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, được quan tâm và có các chính sách riêng, đặc thù được quy định trong Pháp lệnh Thủ đô (trong tương lai là Luật Thủ đô), các Nghị quyết của Bộ Chính trị, các văn bản khác của Nhà nước.

- Lợi thế về con người, nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học - công nghệ. Hà Nội là nơi tập trung nhiều cơ sở đào tạo, nhiều cán bộ khoa học và quản lý có bằng cấp cao, tiềm lực khoa học kỹ thuật lớn mạnh nhất trong cả nước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35% (năm 2010). Số giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội chiếm hơn 65% tổng số các nhà khoa học trong cả nước. Người Hà Nội thanh lịch, văn minh, năng động.

Trên địa bàn Hà Nội có 50 trường Đại học, 29 trường Cao đẳng, 45 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 113 cơ quan nghiên cứu khoa học (khoảng 85% tổng số các viện nghiên cứu trong cả nước).

- Lợi thế về vị trí địa lý, đầu mối giao thông, một số điều kiện tự nhiên và tài nguyên để phát triển đô thị và kinh tế - xã hội.

Từ Hà Nội đi các thành phố, thị xã của Bắc Bộ cũng như của cả nước rất dễ dàng bằng cả đường ô tô, sắt, thủy và hàng không. Hà Nội có 2 sân bay dân dụng, là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt[4], 7 tuyến đường quốc lộ đi qua trung tâm[5]. Hà Nội còn có vị trí quan trọng trên hai hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng.

Sau khi mở rộng Hà Nội có quỹ đất lớn, địa chất công trình thuận lợi để phát triển đô thị, công nghiệp. Có hệ thống sông, hồ, núi đa dạng và nhiều thắng cảnh đẹp như Hồ Tây, núi Ba Vì, hồ Suối Hai, động Hương Tích...

- Hà Nội có bề dày lịch sử 1000 năm, là Thủ đô chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa Việt, điều kiện để phát triển các ngành dịch vụ, du lịch.

Với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, Hà Nội có nhiều danh thắng, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật, khảo cổ, kiến trúc cùng với các văn hóa phi vật thể khác, các lễ hội, làng nghề và văn hóa dân gian; nơi tập trung những bảo tàng lớn và quan trọng của cả nước. Những đặc trưng văn hoá Việt là nguồn lực và lợi thế cho phát triển những ngành đem lại giá trị gia tăng cao và tạo xuất khẩu tại chỗ như du lịch và các dịch vụ văn hoá khác.

Trên địa bàn Hà Nội có trên 5.100 di tích lịch sử - văn hoá, trong đó có trên 700 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và trên 1.400 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, mật độ di tích vào loại cao nhất nước. Hà Nội có nhiều danh thắng, di tích lịch sử nổi tiếng như Cổ Loa, Văn Miếu, Hoàng thành Thăng Long, thành cổ Sơn Tây, lăng Ngô Quyền, khu phố cổ, khu phố cũ, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh... Trên địa bàn thành phố có nhiều đình, chùa, đền, như chùa Hương, chùa Quán Sứ, chùa Kim Liên, chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Mía, chùa Đậu, chùa Tây Phương, chùa Trầm...; những ngôi đình nổi tiếng như: Tây Đằng, Chu Quyến, Tường Phiên, Đại Phùng, Hoàng Xà... các đền: Quán Thánh, đền Thượng, đền Và, phủ Tây Hồ...

 Hà Nội là nơi tập trung những bảo tàng lớn và quan trọng nhất của nước ta như Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Quân đội và một số bảo tàng chuyên ngành như Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Địa chất, Bảo tàng Dân tộc. Hà Nội còn là nơi tập trung nhiều lễ hội và có những lễ hội mang tính đặc trưng của riêng mình như lễ hội chùa Hương, lễ hội An Dương Vương ở Cổ Loa, Hội Gióng, Hội đền Hai Bà Trưng, Hội gò Đống Đa... Nhiều lễ hội gắn với di tích và cùng với di tích tạo thành một sản phẩm du lịch độc đáo.

          2. Hạn chế

- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đô thị chưa hiện đại và thiếu đồng bộ.

Tình trạng ùn tắc giao thông, úng ngập cục bộ... tuy có giảm nhưng vẫn là những vấn đề bức xúc. Mạng lưới cấp điện, cấp nước, vệ sinh môi trường... chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất cũng như sinh hoạt của nhân dân. Mặc dù thành phố có nhiều loại hình giao thông nhưng không có cảng biển.

Kết cấu hạ tầng xã hội còn nhiều bất cập. Phân bố mạng lưới trường học, cơ sở y tế chưa hợp lý, chưa có những trung tâm đào tạo, y tế, khoa học công nghệ chất lượng cao, đạt các tiêu chí và chuẩn mực của quốc tế.

Quy hoạch đô thị trung tâm - đô thị vệ tinh - trung tâm huyện lỵ chưa thật sự đồng bộ, chưa giảm được áp lực về phân bố dân cư và các áp lực khác cho khu vực đô thị trung tâm.

Hạn chế về công tác quy hoạch, quản lý, xây dựng đô thị trong thời gian qua, thiếu nét đặc trưng về kiến trúc, chưa có công trình tiêu biểu của Thủ đô.

Quy hoạch thành phố được xây dựng, điều chỉnh nhiều lần, tính kế thừa chưa cao; bố trí một số cụm, khu công nghiệp chưa hợp lý (gần khu dân cư, sát nút giao thông đối ngoại lớn...), các khu đô thị mới chưa có sự liên kết, số lượng đồ án quy hoạch chi tiết được phê duyệt quá lớn trong khi quy hoạch xây dựng chung chưa được phê duyệt, nay phải rà soát, điều chỉnh.

Nguồn lực chưa được tập trung để hoàn chỉnh một số khu vực trọng tâm, khu vực tạo sức hút, động lực cũng như tạo hình ảnh Thủ đô. Các công trình, các khu đô thị triển khai xây dựng còn phân tán, chưa tạo được bộ mặt đô thị hiện đại.

 - Trình độ công nghệ - kỹ thuật của sản xuất chưa cao.

Ngoài một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có điều kiện trang bị công nghệ tiên tiến còn phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp đều chỉ được trang bị công nghệ có trình độ trung bình và thấp. Các loại công nghệ mang tính mũi nhọn như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới chưa được phát triển mạnh. Tự động hoá trong ngành công nghiệp còn rất hạn chế.

Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực còn yếu, nhiều sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng thấp, quy mô sản xuất không lớn, đóng góp vào nền kinh tế không cao (màn tuyn, sản phẩm may mặc, dệt kim, bánh kẹo, thức ăn chăn nuôi...). Các sản phẩm cơ khí có tỷ trọng cao lại chưa vươn ra được thị trường thế giới, chỉ phục vụ cho nhu cầu nội địa, các sản phẩm điện tử - công nghệ thông tin, công nghệ sinh học phát triển chậm mặc dù được xác định là ngành mũi nhọn. Chưa có các sản phẩm chủ lực mang tính đặc trưng của Thủ đô.

- Ô nhiễm môi trường là vấn đề bức xúc, đòi hỏi đầu tư lớn cho việc xử lý

Xử lý những vấn đề ô nhiễm môi trường chưa theo kịp với tốc độ đô thị hoá nhanh và tăng trưởng kinh tế cao. Các con sông trên địa bàn như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét, sông Nhuệ, sông Đáy... đều bị ô nhiễm nặng.

Trong tổng số 17 khu công nghiệp, 49 cụm công nghiệp đã thành lập chỉ có 3 khu công nghiệp và 2 cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Lượng nước thải từ 1.310 làng nghề đều không được xử lý trước khi thải ra môi trường. Trong tổng số khoảng 500 nghìn m3/ngày đêm nước thải sinh hoạt tại khu vực đô thị mới có khoảng trên 6 nghìn m3 được xử lý.

Trong số chất thải rắn công nghiệp, chỉ có khoảng 85-90% được thu gom và 60% được xử lý. Hiện nay phần lớn rác thải được chôn lấp, 3 trong tổng số 5 khu xử lý rác của thành phố sắp lấp đầy.

Thành phố còn bị ô nhiễm bụi, không khí, tiếng ồn do vận chuyển vật liệu, chất thải xây dựng và còn trên 400 cơ sở công nghiệp đang sản xuất kinh doanh trong đô thị và khu dân cư.

- Hạn chế trong công tác quản lý, điều hành

Công tác quản lý, điều hành phát triển đô thị và kinh tế - xã hội còn bất cập do đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành của thành phố chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.

          3. Cơ hội

- Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện thuận lợi để Thủ đô Hà Nội tiếp tục phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực - nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường để phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH.

- Được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương, sự hợp tác có hiệu quả của các địa phương để xây dựng, phát triển Thủ đô nhanh hơn với chất lượng cao hơn.

- Hà Nội được mở rộng, có quỹ đất lớn và thuận lợi để quy hoạch và phát triển đô thị, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm.

          4. Thách thức

- Thách thức nảy sinh từ trình độ phát triển còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu, kinh tế phát triển chưa có sự đột phá, quy mô kinh tế của Thủ đô còn nhỏ bé so với nhiều Thủ đô ở trong khu vực và trên thế giới và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa cũng như không đáp ứng được vai trò đầu tầu đối với khu vực Bắc Bộ và cả nước.

- Thách thức về quản lý một đô thị với diện tích rất lớn, dân số nông nghiệp, nông thôn còn nhiều, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao ở một số địa bàn, có sự chênh lệch khá lớn về phát triển giữa khu vực nội thành và các huyện ngoại thành cũ của Hà Tây cả về thu nhập, trình độ dân trí, cán bộ, cơ sở vật chất - kỹ thuật.

- Mở cửa và hội nhập quốc tế sẽ đặt Hà Nội trước sức ép cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế và ngay trên địa bàn Hà Nội, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng, tình hình tội phạm sẽ có những diễn biến phức tạp mới, nhất là tội phạm phi truyền thống như tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm có yếu tố nước ngoài... Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cũng đưa cả nước nói chung, Hà Nội nói riêng phải đối mặt trực tiếp với nguy cơ suy thoái, khủng hoảng kinh tế khu vực và toàn cầu.

- Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh với đòi hỏi phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá, hạn chế nảy sinh các vấn đề xã hội (thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội...).

 

 

PHẦN THỨ HAI

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

 

I. VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

            (1). Chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của Hà Nội là Thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính của quốc gia, nơi đặt trụ sở, cơ quan Trung ương, đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước.

          (2) Hà Nội là trung tâm văn hoá lớn của đất nước, nơi có những hệ thống công trình văn hoá tiêu biểu của cả nước, có những nét đặc trưng của văn hoá dân tộc, đi đầu trong việc xây dựng văn minh của thời đại công nghiệp và kinh tế tri thức, nơi tổ chức các sự kiện văn hoá lớn mang tầm quốc gia và quốc tế.

          (3) Hà Nội là trung tâm khoa học, giáo dục - đào tạo hàng đầu của đất nước. Với tiềm lực khoa học - công nghệ lớn, nơi tập trung đội ngũ các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu, Hà Nội phải đóng vai trò là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lớn, trung tâm đào tạo chất lượng cao, tiến đến đạt được đẳng cấp khu vực và quốc tế.

          (4). Hà Nội là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, nơi cung cấp các dịch vụ cao cấp (tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông, y tế...), là trung tâm công nghiệp công nghệ cao, có đóng góp lớn vào thu ngân sách của đất nước.

          (5) Hà Nội là trung tâm giao dịch quốc tế, đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia. Hà Nội tiếp tục là đầu mối giao thông quan trọng nhất miền Bắc, nơi quy tụ đầy đủ các phương thức giao thông: đường bộ, đường sông, đường sắt, đường hàng không, là nơi hội tụ các tuyến giao thông trong nước và quốc tế. Với điều kiện thuận lợi này, Hà Nội là trung tâm thương mại - dịch vụ có tác động chi phối trên phạm vi rộng lớn, là nơi phát luồng phục vụ phần lớn nhu cầu hàng hoá, dịch vụ cho các tỉnh khu vực Bắc Bộ.

II. LUẬN CHỨNG VỀ QUY MÔ, TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI

          1. Dự báo dân số thành phố Hà Nội

Dự báo dân số chung, dân số đô thị và dân số khu vực nội thành thành phố Hà Nội được dựa trên các căn cứ sau:

- Xu hướng tăng dân số đô thị đối với thành phố Hà Nội giai đoạn trước (1999-2009);

- Kinh nghiệm của các nước trong việc kiểm soát phát triển các đô thị lớn;

- Dự báo dân số trong Chương trình Phát triển đô thị tổng thể thủ đô Hà Nội (HAIDEP) do JICA tài trợ;

- Dự báo dân số trong Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội;

- Dự báo dân số của Quy hoạch xây dựng chung Thủ đô Hà Nội do Liên danh tư vấn PPJ thực hiện.

Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01 tháng 4 năm 2009, trong giai đoạn 2000-2009 tốc độ tăng dân số bình quân của thành phố Hà Nội đạt 2,0%/năm, tuy nhiên giai đoạn 2006-2008 tăng khá cao là 2,42%/năm. Dự kiến tốc độ tăng dân số chung của thành phố sẽ giảm dần, đạt khoảng 2,0%/năm giai đoạn 2011-2015, khoảng 1,8%/năm giai đoạn 2016-2020 và khoảng 1,74%/năm giai đoạn 2021-2030. Tốc độ tăng dân số cơ học cũng giảm dần từ 0,85%/năm giai đoạn 2011-2015 xuống còn khoảng 0,7%/năm giai đoạn 2016-2020 và khoảng 0,4%/năm giai đoạn 2021-2030, bình quân mỗi năm tăng khoảng 51-65 ngàn người. Với dự báo như trên quy mô dân số Hà Nội đến năm 2015 đạt 7,2-7,3 triệu người, năm 2020 khoảng 7,9-8,0 triệu người và năm 2030 khoảng 9,41-9,52 triệu người.

Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01 tháng 4 năm 2009, trong giai đoạn 2000-2009 tốc độ tăng dân số đô thị của thành phố Hà Nội là 3,82%/năm. Dự kiến tốc độ tăng dân số đô thị của thành phố đạt khoảng 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015, khoảng 4,16,6%/năm giai đoạn 2016-2020 và khoảng 4,0%/năm giai đoạn 2021-2030, phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố. Với dự báo như trên tỷ lệ đô thị hoá đạt khoảng 54% năm 2020 và khoảng 67,5% năm 2030.Với dự báo như trên tỷ lệ đô thị hoá đạt khoảng 58-60% năm 2020 và khoảng 67,5% năm 2030.

Biểu 7. Dự kiến tốc độ tăng trưởng dân số

Đơn vị: %

Chỉ tiêu

2001-2005

2006-2008

2011-2015

2016-2020

2021-2030

1. Tổng dân số

1,91

2,42

2,0

1,8

1,74

- Tăng tự nhiên

1,17

1,26

1,15

1,1

1,0

- Tăng cơ học

0,74

1,16

0,85

0,7

0,74

2. Dân số đô thị

5,60

3,32

4,3

4,16,6

4,0

3. DS Nông thôn

-0,14

1,82

0,25

-0,353,13

-1,42

 

Kết quả dự báo dân số thành phố Hà Nội như sau:

Biểu 7a. Dự báo dân số Thủ đô Hà Nội

Đơn vị: Nghìn ng­ười

Chỉ tiêu

2009

2010

2015

2020

2030

1. Dân số thành phố Hà Nội

6.448,8[6]

6.591

7.277

7.956

9.416135

2. Dân số đô thị

2.632,1

2.722

3.359

4.6144.293

6.355

Tỷ lệ đô thị hóa (%)

40,8

41,3

46,2

58,054,0

67,5

Trong đó: Dân số nội thành

2.330,0

2.409

2.903

3.448

4.817

3. Dân số nông thôn

3.816,7

3.869

3.917

 3.3413.662

3.061

Dự kiến đến năm 2020 dân số đô thị của thành phố Hà Nội khoảng 4,3 triệu người, trong đó tại đô thị trung tâm khoảng 3,5 triệu người, bố trí tại các đô thị vệ tinh khoảng 550-600 ngàn người và các đô thị huyện lỵ khoảng 200-250 nghìn người. Đến năm 2030 dân số đô thị của thành phố Hà Nội khoảng 6,4 triệu người, trong đó tại đô thị trung tâm khoảng 4,8 triệu người, tại các đô thị vệ tinh khoảng 1,1-1,15 triệu người và các đô thị huyện lỵ khoảng 450-500 nghìn người.

2. Tổ chức không gian đô thị Hà Nội

2.1 Định hướng chung

Thành phố Hà Nội là đô thị loại đặc biệt trong hệ thống đô thị của cả nước với tính chất đã được xác định tại Pháp lệnh Thủ đô: "Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước; là nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước".

Xây dựng thành phố Hà Nội trở thành một đô thị xanh, văn minh, hiện đại, có bản sắc riêng, trên nền tảng phát triển bền vững. Gắn quy hoạch xây dựng  Thành phố với phát triển không gian của vùng Thủ đô Hà Nội, các vùng kinh tế - xã hội của Bắc Bộ và trong cả nước.

Thành phố Hà Nội là đô thị đa cực, đa trung tâm, đa tầng bậc với các chức năng tổng hợp, trong đó đô thị hạt nhân đóng vai trò là đô thị lịch sử, là trung tâm hành chính- chính trị Quốc gia, trung tâm lớn của cả nước về văn hoá - khoa học - giáo dục - kinh tế, một trung tâm du lịch và giao dịch quốc tế có tầm khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Tạo ra các không gian đô thị hiện đại, giữ được bản sắc dân tộc, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường. Quy mô dân số dự báo đến 2030 khoảng 9,4-9,5 triệu dân. Phân bố dân cư: Dân số đô thị khoảng 6,3-6,4 triệu người, trong đó khu vực nội thành 4,8-5,0 triệu người; dân số nông thôn khoảng 3,0-3,1 triệu người. 

Đất xây dựng đô thị: Dự kiến đến năm 2020, đất xây dựng đô thị bình quân 80-100 m2/người (bao gồm các loại đất ở, đất công trình công cộng như đường sá, công viên...), trong đó đất dân dụng bình quân từ 55-65 m2/người; đất cây xanh trong khu dân dụng bình quân 8 m2/người; đất công trình công cộng 4 - 6 m2/người; đất giao thông (động và tĩnh) từ 20-24 m2/người. Như vậy, tổng nhu cầu đất xây dựng đô thị đến 2020 khoảng 34.400 ha, năm 2030 khoảng 54.000  ha.

2.2 Phương hướng cụ thể

Tổ chức không gian đô thị Hà Nội theo mô hình chùm đô thị, bao gồm đô thị trung tâm, 5 đô thị vệ tinh, các thị trấn và vùng nông thôn, được kết nối bằng hệ thống giao thông đường vành đai kết hợp các trục hướng tâm, có mối liên kết với mạng lưới giao thông vùng và quốc gia. Đô thị trung tâm được phân cách với các đô thị vệ tinh, các thị trấn bằng hành lang xanh.

a) Đô thị trung tâm

Tại đô thị trung tâm bố trí trụ sở, cơ quan Trung ương, đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể của quốc gia và thành phố; trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; các cơ sở thương mại, giao dịch, dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm - chứng khoán; các viện nghiên cứu đầu ngành; trụ sở chính của các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp lớn; các cơ sở đào tạo chất lượng cao với quy mô phù hợp.

Hướng mở rộng, phát triển đô thị trung tâm: Đô thị trung tâm được phát triển mở rộng từ khu vực nội đô về phía Tây, Nam đến đường vành đai 4 và về phía Bắc đến khu vực Mê Linh, Đông Anh; phía Đông đến khu vực Gia Lâm và Long Biên.

b) Các đô thị vệ tinh

Hình thành và phát triển nhanh các đô thị vệ tinh có chức năng hỗn hợp và đặc thù riêng, hoạt động tương đối độc lập để hỗ trợ và chia sẻ với đô thị trung tâm các chức năng về đào tạo, công nghiệp, dịch vụ, nhà ở...

Đô thị Hòa Lạc có chức năng chính về khoa học - công nghệ và đào tạo. Đầu tư các cơ sở trọng tâm là đại học quốc gia Hà Nội và khu công nghệ cao Hòa Lạc; tiếp tục hoàn thiện Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam gắn với hồ Đồng Mô - Ngải Sơn và vùng du lịch Ba Vì - Viên Nam, phát triển hệ thống hạ tầng đô thị hiện đại và đồng bộ.

Đô thị Sơn Tây là đô thị văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng; trọng tâm là khu bảo tồn Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm và phát triển mới trung tâm phục vụ du lịch gắn với hồ Xuân Khanh, các dịch vụ đào tạo, y tế .

Đô thị Xuân Mai là đô thị dịch vụ - công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp và hệ thống làng nghề. Phát triển các khu tiểu thủ công nghiệp, các trung tâm dịch vụ về thương mại, đào tạo đại học, cao đẳng.

Đô thị Phú Xuyên là đô thị công nghiệp, đầu mối giao thông và trung chuyển hàng hóa. Xây dựng các khu, cụm công nghiệp Đại Xuyên, Quất Động, Phú Xuyên... để di dời công nghiệp từ các khu vực nội đô, khu vực Hà Tây (cũ). Hình thành các trung tâm dịch vụ trung chuyển hàng hóa, các khu nhà ở công nhân và các dịch vụ khác như y tế chất lượng cao, đào tạo nghề...

Đô thị Sóc Sơn là đô thị phát triển về dịch vụ, khai thác tiềm năng Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài, hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Quảng Ninh và vùng cảnh quan núi Sóc. Phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ hàng không, du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, hình thành các khu công nghiệp sạch; trung tâm y tế, khu đại học tập trung.

c) Các thị trấn

Xây dựng các thị trấn theo mô hình đô thị sinh thái mật độ thấp, từ các thị trấn huyện lỵ hiện hữu như: Phùng, Tây Đằng, Liên Quan, Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa, Thường Tín và các thị trấn mới. Phát triển các thị trấn huyện lỵ trở thành trung tâm kinh tế - xã hội của các huyện, đầu mối về hạ tầng kỹ thuật (cấp điện, cấp nước, giao thông, vệ sinh môi trường), dịch vụ công cộng (hành chính, thương mại, giáo dục, y tế…), sản xuất (công nghiệp, chuyển giao công nghệ, thông tin, tài chính...).

Ngoài ranh giới thành phố Hà Nội định hướng hình thành các đô thị vệ tinh như:

+ Cụm đô thị Phúc Yên - Xuân Hòa: đô thị du lịch - nghỉ dưỡng chất lượng cao - đào tạo.

+ Cụm đô thị Từ Sơn - Bắc Ninh: đô thị dịch vụ - công nghiệp - đào tạo.

+ Cụm đô thị Như Quỳnh - Phố Nối: đô thị công nghiệp, dịch vụ, y tế, đào tạo nghề chất lượng cao.

Phát triển các đô thị đối trọng để đảm trách các chức năng trung tâm của một số ngành dịch vụ, công nghiệp (bán kính 50-60 km) để giảm tập trung vào nội thành thành phố Hà Nội, bao gồm: thành phố Hải Dương, thị xã Hưng Yên, thành phố Phủ Lý, thành phố Hoà Bình, thành phố Việt Trì, thành phố Thái Nguyên, thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phả Lại.

d) Khu vực nông thôn

Khu vực nông thôn Hà Nội trong tổng thể phát triển đô thị Hà Nội được xác định nằm chủ yếu trong khu vực vành đai xanh, ngoài nhiệm vụ đóng góp trong phát triển kinh tế chung của đô thị Hà Nội, khu vực nông thôn Hà Nội phải đảm nhận nhiệm vụ hết sức quan trọng là tạo ra môi trường sống tốt cho đô thị Hà Nội.

Định hướng phát triển nông thôn Hà Nội theo mô hình nông thôn mới. Hình thành trung tâm tiểu vùng là các thị trấn hoặc thị tứ. Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống theo hướng kết hợp với khai thác du lịch; phát triển các làng nghề mới theo hướng liên kết với các khu công nghiệp, sử dụng công nghệ không gây ô nhiễm và nâng cao tính cạnh tranh của các làng nghề; phát triển mạnh sản xuất dịch vụ theo hướng khai thác tốt các loại hình du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, du lịch tham quan thắng cảnh, tham quan di tích lịch sử, văn hóa và phục vụ nghỉ ngơi, giải trí của người dân đô thị.

 

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2030

(1) Hà Nội phát triển xứng đáng là Thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính quốc gia của một đất nước với trên 100 triệu dân vào năm 2030.

Hình thành hệ thống các khu hành chính, chính trị của Trung ương và thành phố, có hệ thống công sở hiện đại và với những kiến trúc đặc trưng tiêu biểu của Thủ đô một nước Việt Nam phát triển.

(2) Vào năm 2030, Hà Nội sẽ là một Thủ đô văn minh với tổ chức xã hội  phù hợp với trình độ tiên tiến về kinh tế tri thức và công nghệ thông tin, có được những hệ thống công trình văn hoá tiêu biểu của cả nước.

(3) Hà Nội sẽ là Thủ đô có không gian xanh, sạch, đẹp, hiện đại, có kiến trúc đô thị mang dấu ấn của một Thủ đô ngàn năm văn hiến và mang đậm bản sắc văn hoá của cả dân tộc.

(4) Về kinh tế, Hà Nội sẽ khẳng định hướng chủ đạo của kinh tế tri thức (phát triển các ngành, sản phẩm chất lượng cao, sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao, phương thức quản lý kinh tế hiện đại, tiên tiến); cơ cấu kinh tế với tỷ trọng khu vực dịch vụ và công nghiệp chiếm tỷ trọng trên 98% với các ngành dịch vụ sản xuất, dịch vụ tiêu dùng chất lượng cao và trở thành trung tâm dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, trung tâm du lịch, trung tâm giao thương và phân phối hàng hóa; công nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp đô thị sinh thái. Tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 85%, trong đó có 20% lao động có trình độ cao trong tổng số lao động.

(5) Về phát triển đô thị và kết cấu hạ tầng: Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hoá sẽ đạt khoảng 67-70%. Kết cấu hạ tầng đô thị được xây dựng đồng bộ, hiện đại. Hệ thống các mạng giao thông vành đai, đường hướng tâm được gắn kết với mạng giao thông đô thị với nhiều loại hình chuyên chở quy mô lớn như đường sắt đô thị, tàu điện ngầm..., kết nối ngoại vùng, nội đô thuận lợi; hệ thống cầu được xây dựng với những kiến trúc đa dạng tạo điểm nhấn trong không gian; hạ tầng thông tin và truyền thông, mạng cấp điện, cấp nước và các công trình bảo vệ môi trường, các công sở, khu dân cư..., đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu ngày càng cao của người dân thành phố.

(6) Thủ đô Hà Nội sẽ là một đô thị sinh thái, môi trường trong sạch, có sự gắn kết hài hoà các yếu tố tự nhiên - xã hội - con người ("đất - nước - cây xanh - văn hoá") trên một không gian đô thị phát triển bền vững.

(7) Hà Nội là thành phố an toàn, yên bình, cộng đồng gắn kết hài hoà và thân thiện, trật tự an toàn xã hội tốt, an ninh chính trị giữ vững, quốc phòng được đảm bảo, luôn xứng đáng với danh hiệu "Thành phố vì Hòa Bình".

 

IV. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

          1. Quan điểm phát triển

          (1)- Phát huy đồng bộ sức mạnh tổng hợp của Trung ương, của Hà Nội, của cả nước, của các thành phần kinh tế, của hợp tác quốc tế trong quá trình phát triển Thủ đô; khai thác nội lực là nhân tố quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng.

          (2)- Phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng Đồng bằng sông Hồng và kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Thủ đô Hà Nội và 2 hành lang kinh tế với Trung Quốc; coi xây dựng và phát triển Thủ đô là một động lực thúc đẩy phát triển các vùng khác của cả nước.

          (3)- Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xây dựng và quản lý đô thị và  phát triển các lĩnh vực xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, coi phát triển, xây dựng và quản lý đô thị là nhiệm vụ trọng tâm, phát triển xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, phát triển kinh tế là nhiệm vụ nền tảng và liên tục.

          (4)- Ưu tiên đầu tư vào những ngành, lĩnh vực tạo thế và lực cho phát triển (kết cấu hạ tầng then chốt, lĩnh vực và sản phẩm chủ lực, công nghệ và nhân lực); đầu tư có trọng điểm vào một số lĩnh vực mà thành phố có lợi thế cạnh tranh như du lịch, dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao... Song song với mục tiêu tăng trưởng nâng cao chất lượng tăng trưởng.

(5)- Phát triển bền vững, gắn kết giữa phát triển kinh tế với sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái.

(6)- Phát triển kinh tế gắn với giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

          2. Mục tiêu phát triển

          a. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng, phát triển Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại, tiêu biểu cho cả nước, đảm bảo thực hiện chức năng là trung tâm chính trị, văn hoá, giao thương và kinh tế lớn của cả nước. Bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá truyền thống của Thủ đô ngàn năm văn hiến, xây dựng con người Thủ đô thanh lịch, văn minh, tiêu biểu cho trí tuệ và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; thiết lập các cơ sở hàng đầu của đất nước về nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao. Có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững. Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Thủ đô trong khu vực và quốc tế được nâng cao.

          b. Mục tiêu cụ thể

Xuất phát từ việc xác định chức năng của thành phố Hà Nội: thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính của quốc gia, sau đó mới đến chức năng Hà Nội là trung tâm kinh tế của vùng và cả nước; dự báo tác động của các yếu tố đến phát triển kinh tế - xã hội thành phố; trên cơ sở luận chứng các phương án tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của, các mục tiêu chủ yếu của Thủ đô Hà Nội như sau:

(1)- Về kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 2011-2015 khoảng 12-13%, đạt 11-12% trong thời kỳ 2016-2020 và khoảng 9,5-10% thời kỳ 2021-2030.

- Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người của Hà Nội khoảng 4.100-4.300 USD, năm 2020 đạt 7.100-7.500 USD, năm 2030 đạt 16.000 -17.000 USD (tính theo giá thực tế).

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp; dịch vụ chất lượng cao và trình độ cao đóng vai trò trọng yếu trong cơ cấu kinh tế Thủ đô.

Đến năm 2015, trong cơ cấu GDP: tỷ trọng dịch vụ đạt 54-55%, công nghiệp - xây dựng 41-42% và nông nghiệp là 3-4%. Đến năm 2020, khu vực dịch vụ chiếm 55,5-56,5%, công nghiệp - xây dựng 41-42% và nông nghiệp 2-2,5%.

- Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu trên địa bàn bình quân là 14-15%/năm thời kỳ 2011-2015 và 13-14% thời kỳ 2016-2020.

(2)-  Về xã hội

- Quy mô dân số Hà Nội đến năm 2015 đạt 7,2-7,3 triệu người, năm 2020 khoảng 7,9-8,0 triệu người.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 55% vào năm 2015 và 70-75% vào năm 2020.

- Phát triển giáo dục và đào tạo của Thủ đô trở thành trung tâm đào tạo chất lượng cao của cả nước và có tầm cỡ khu vực.

Tỷ lệ trường (từ mầm non đến trung học phổ thông) đạt chuẩn quốc gia đến năm 2015 đạt 50-55%, năm 2020 đạt 65-70%.

- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc, người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể.

- Phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân còn dưới 11% vào năm 2015, dưới 8% vào năm 2020.

- Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Giảm hộ nghèo bình quân 1,5-1,8%/năm giai đoạn 2011-2015 và 1,4-1,5%/năm giai đoạn 2016-2020.

- Tỷ lệ đô thị hoá của Hà Nội năm 2015 khoảng 46-47%, năm 2020 đạt 54-558-60%.

(3) Về kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường

- Xây dựng thủ đô Hà Nội xanh, sạch, đẹp, văn minh. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng đô thị được cải tạo và xây dựng đồng bộ, hiện đại, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

- Phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng, phấn đấu đến năm 2015-2017 đưa vào vận hành ít nhất 2 tuyến đường sắt đô thị; đến năm 2020 vận tải hành khách công cộng đáp ứng 35-45% nhu cầu đi lại của nhân dân.

- Hiện đại hoá hạ tầng thông tin và truyền thông. Mật độ thuê bao Internet đạt 30-35% vào năm 2015 và 38-43% vào năm 2020.

- Phát triển hệ thống cấp nước, đảm bảo cơ bản tất cả các hộ gia đình được cấp nước sạch theo tiêu chuẩn quốc gia.

- Cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước, từng bước giải quyết tình trạng ngập úng, đến năm 2020 trên 80% nước thải sinh hoạt được xử lý. Xây dựng hệ thống thu gom nước thải và xử lý 100% nước thải các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề.

- Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ rác thải được thu gom và xử lý trong ngày đạt 100%.

- Nâng diện tích nhà ở lên 23-24 m2/người vào năm 2015 và 25-2630 m2/người năm 2020[7].

- Phát triển mạng lưới vườn hoa, cây xanh, công viên, phấn đấu nâng diện tích đất xanh đô thị đạt 7-8 m2/người vào năm 2015 và 10-12 m2/người vào năm 2020.

- Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2015 có 40-45%, năm 2020 có 70% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.

(4)- Kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng quốc phòng vững mạnh, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

          Bảo đảm ổn định vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. Tạo bước chuyển biến mới rõ rệt về trật tự, an toàn xã hội, nếp sống đô thị, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Xây dựng Hà Nội trở thành khu vực phòng thủ vững chắc.

Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với quốc phòng trong việc xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, các dự án phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm phát triển đô thị, công nghiệp gắn với phòng thủ dân sự, xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội thời bình, vừa đáp ứng với các tình huống thời chiến có thể xảy ra.

3. Các trọng tâm phát triển của Thủ đô Hà Nội

Để đảm bảo thực hiện các chức năng và mục tiêu phát triển trên đây, các trọng tâm phát triển của Thủ đô Hà Nội bao gồm:

(1) Hình thành hệ thống công sở, trung tâm hành chính - chính trị đảm bảo thực hiện chức năng là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia

Xây dựng các cụm công sở hiện đại với những nét kiến trúc tiêu biểu. Nghiên cứu hình thành trung tâm hành chính - chính trị mới và hệ thống giao thông kết nối nhanh với trung tâm chính trị Ba Đình.

(2) Phát triển Hà Nội thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao của vùng, cả nước và khu vực

Xây dựng trung tâm tài chính - ngân hàng. Giữ vững vai trò là trung tâm du lịch, trung tâm phân phối khách du lịch lớn nhất khu vực phía Bắc. Phát triển các dịch vụ chất lượng cao trong các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, khoa học - công nghệ... Xây dựng Thủ đô trở thành một trung tâm giao dịch thương mại quốc tế.

(3) Phát triển một số ngành công nghiệp có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ cao

Phát triển có chọn lọc các ngành hàng, nhóm sản phẩm, các công đoạn và chi tiết, sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ bảo vệ môi trường...

(4) Xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại

Phát triển mạng lưới giao thông (xây dựng, nâng cấp các đường vành đai, đường xuyên tâm, hệ thống cầu qua sông Hồng, các tuyến đường nối đô thị trung tâm - đô thị vệ tinh...); hệ thống vận tải công cộng (xe buýt, đường sắt đô thị...). Tiếp tục phát triển hệ thống cấp thoát nước và xử lý rác thải, mạng lưới vườn hoa, cây xanh và các công trình bảo vệ môi trường. Cải tạo, phát triển mạng lưới điện, bưu chính - viễn thông.

(5) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tiềm lực khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển. Xây dựng nếp sống văn minh đô thị, người Hà Nội thanh lịch, văn minh.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (cả lực lượng ra quyết định, lực lượng tham mưu, lực lượng thực hiện quyết định), đạt tiêu chuẩn khu vực và tương thích với điều kiện phát triển; khai thác tiềm lực khoa học - công nghệ để khoa học - công nghệ trở thành công cụ và lực lượng vật chất thực sự cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Xác định giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ là các khâu đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

(6) Nghiên cứu và hình thành các công trình văn hoá lớn, tiêu biểu

Nâng cấp, xây dựng, tôn tạo các khu di tích văn hóa - lịch sử, hệ thống bảo tàng, tượng đài, quảng trường, cửa ô... có quy mô lớn, tiêu biểu cho văn hóa dân tộc. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể.

(7) Phát triển nền nông nghiệp đô thị sinh thái và nông thôn mới

Phát triển nền nông nghiệp Thủ đô theo hướng phát triển nền nông nghiệp đô thị sinh thái gắn liền với dịch vụ, du lịch, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, an toàn thực phẩm và có khả năng cạnh tranh cao, hài hòa và bền vững với môi trường. Xây dựng nông thôn Thủ đô có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết với khu vực đô thị; giàu bản sắc văn hóa dân tộc và môi trường sinh thái được bảo vệ.

 

V. CÁC NGÀNH KINH TẾ

          1. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp

(1). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu công nghệ của thành phố theo hướng Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp phát triển ở trình độ tiên tiến; dịch vụ chất lượng cao và trình độ cao đóng vai trò trọng yếu trong cơ cấu kinh tế Thủ đô.

(2). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao chất lượng phát triển, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của từng ngành và toàn bộ nền kinh tế. Hình thành được những sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh cao.

- Xây dựng Hà Nội thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao với các dịch vụ: tài chính, ngân hàng, dịch vụ phân phối, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, tư vấn, dịch vụ quan hệ quốc tế, du lịch, thương mại, vận tải kho bãi, viễn thông.

Tập trung phát triển một số ngành, sản phẩm công nghiệp có tính chất dẫn đường như: công nghệ thông tin (cả phần mềm và phần cứng), công nghệ vật liệu mới, công nghệ chế tạo khuôn mẫu; các ngành và sản phẩm đòi hỏi công nghệ cao: công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, dụng cụ y tế, công nghiệp dược, hoá mỹ phẩm...

Đối với nông nghiệp, chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các loại cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao, giá trị kinh tế cao, phát triển nông nghiệp sinh thái kết hợp với bảo vệ môi trường, phát triển du lịch.

(3) Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá và trước những đòi hỏi của sự phát triển khoa học - công nghệ. Hoàn thành chương trình sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, chỉ giữ lại những doanh nghiệp công ích và quan trọng. Phân định rõ quyền sở hữu của Nhà nước và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước trong các    doanh nghiệp. Tạo điều kiện để cấu trúc lại doanh nghiệp, thị trường. Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước phát triển để hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, đa sở hữu trong nước và thu hút các công ty xuyên quốc gia đến đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ cao cấp. Tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tập thể phát triển đa dạng, có chính sách hợp lý trợ giúp các hợp tác xã. Phát triển các loại hình kinh tế tư nhân. Hỗ trợ mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

(4) Chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế; ưu tiên đào tạo các nhà quản lý giỏi, công nhân kỹ thuật cao.

          2. Dịch vụ

2.1. Định hướng chung

(1). Tạo bước phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực dịch vụ, nhất là các dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao.

- Xây dựng Hà Nội thành trung tâm thị trường hàng hóa bán buôn, thiết lập, củng cố và phát triển các kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ theo hướng văn minh hiện đại.

- Tiếp tục giữ vai trò là một trong những trung tâm du lịch, là nguồn phân phối du khách lớn của khu vực phía Bắc.

- Xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu ở khu vực phía Bắc và có vai trò quan trọng trong cả nước.

(2). Ưu tiên phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế tri thức và dịch vụ tạo cơ sở hạ tầng, điều kiện để phát triển các ngành kinh tế khác.

(3). Phân bố hợp lý mạng lưới cơ sở dịch vụ, nhất là mạng lưới siêu thị, cửa hàng tự chọn, mạng lưới chợ, mạng lưới ngân hàng và hệ thống khách sạn trên địa bàn thành phố.

Phấn đấu giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng bình quân khoảng 12,2-13,5%/năm giai đoạn 2011-2015 và khoảng 11,1-12,2%/năm giai đoạn 2016-2020.

2.2. Du lịch

a. Mục tiêu

Tiếp tục giữ vai trò là một trong những trung tâm du lịch, nơi phân phối du khách lớn của khu vực phía Bắc.

Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế trọng điểm của Hà Nội, trung tâm du lịch cả nước và khu vực. Xây dựng Hà Nội trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn của khu vực và quốc tế; là đầu mối của các tour, tuyến du lịch trong vùng, cầu nối  giữa du lịch Việt Nam với các nước ASEAN và Trung Quốc, giữa  các nước ASEAN với Trung Quốc; một trong những trung tâm du lịch lớn của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Dự kiến tổng lượng khách du lịch nội địa đến năm 2015: 11,8-12 triệu lượt, đến năm 2020: 19,5-20 triệu lượt người (có lưu trú); khách du lịch quốc tế đến năm 2015: 1,8-2,0 triệu lượt người, năm 2020: 3,2-3,4 triệu lượt người (có lưu trú).

b. Phương hướng và giải pháp

Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng, dịch vụ văn hóa - giải trí - thể thao, phát triển du lịch MICE (hội nghị, hội thảo, triển lãm, sự kiện), sản phẩm du lịch sử dụng công nghệ cao, du lịch mua sắm, du lịch sự kiện. Tôn tạo các di tích văn hóa - lịch sử và phát triển các lễ hội truyền thống phục vụ du lịch, hệ thống các làng nghề truyền thống ven đô thị. Đa dạng hóa các hình thức du lịch để kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch khi đến Hà Nội.

Phát triển các khu du lịch, điểm du lịch, sản phẩm du lịch:

- Xây dựng các khu du lịch văn hoá lịch sử: Khu di tích - du lịch Cổ Loa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long; Thành cổ Sơn Tây, làng Việt cổ Đường Lâm, các điểm du lịch ven hồ Tây, hồ Gươm; khu phố cổ.

- Hình thành các khu du lịch sinh thái, văn hóa quy mô lớn: Khu du lịch văn hoá, môi trường Hương Sơn, Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng hồ Suối Hai - núi Ba Vì, Khu du lịch sinh thái văn hoá Sóc Sơn, cụm du lịch tại huyện Mỹ Đức (du lịch sinh thái Hồ Quan Sơn, Tuy Lai...), hệ thống các khu, điểm du lịch sinh thái ven sông Hồng...

- Khu ẩm thực Việt Nam ở khu vực Bắc Thăng Long với sản phẩm du lịch: giới thiệu nghệ thuật ẩm thực và cung cấp dịch vụ ăn uống các đặc sản của 3 miền đất nước.

- Xây dựng một số tuyến phố mua sắm đặc trưng tại khu vực phố cổ; nâng cấp, phát triển các tuyến đi bộ, phố mua sắm; chợ đêm; khu bán hàng lưu niệm chất lượng cao.

- Phát triển hệ thống khách sạn và các công trình dịch vụ du lịch, nhất là xây dựng thêm các khách sạn đạt tiêu chuẩn 4-5 sao.

- Xây dựng một số khu vực chuyên sản xuất hoa cây cảnh thành điểm tham quan du lịch như một số xã ngoại thành thuộc huyện Từ Liêm, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn, quận Tây Hồ.

- Phát triển các điểm du lịch làng nghề như làng gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, khảm trai Chuyên Mỹ, mây tre đan Phú Vinh, tạc tượng Sơn Đồng, thêu Quất Động...

- Xây dựng hệ thống các trung tâm vui chơi, giải trí lớn tầm cỡ khu vực và quốc tế; tập trung ở khu vực Ba Vì.

Hình thành chuỗi các điểm du lịch tâm linh, nhất là trên địa bàn Hà Tây cũ.

Xây dựng các trung tâm và các trạm cung cấp thông tin du lịch tự động 24/24 giờ trên địa bàn thành phố. Đầu tư các phương tiện và loại hình vận chuyển khách du lịch có trang bị hiện đại.

Có cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với hoạt động kinh doanh du lịch (về vốn đầu tư, giá các dịch vụ, ưu đãi về thuế...).

Nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực du lịch như hướng dẫn viên du lịch, nhân viên khách sạn, nhà hàng...

Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn bộ nhân dân Thủ đô về công tác du lịch và phục vụ du lịch như ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng, bảo tồn giá trị văn hóa, thái độ giao tiếp ứng xử với khách du lịch trong nước và quốc tế.

2.3. Các lĩnh vực dịch vụ

a)- Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán:

Xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu của cả nước, phấn đấu sau năm 2020 có tầm cỡ khu vực Đông Nam Á.

Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, các sản phẩm dịch vụ với sự tham gia tích cực của hệ thống ngân hàng nhà nước, các trung tâm điều hành và các chi nhánh của các ngân hàng thương mại quốc doanh, cổ phần và ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng liên doanh, các quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng chính sách, các công ty tài chính, các tổ chức bảo hiểm, hệ thống quỹ đầu tư, các công ty thuê mua tài chính, các công ty kinh doanh, môi giới chứng khoán. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán.

Hiện đại hóa hệ thống tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm với các nội dung tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mở rộng địa bàn, quy mô các hình thức thanh toán tự động; tăng cường kết nối, liên kết và rút ngắn thời gian thực hiện các giao dịch liên thông giữa các tổ chức tài chính - tín dụng - ngân hàng - bảo hiểm.

Xây dựng trung tâm tài chính - ngân hàng tại Tây Hồ Tây và khu vực Bắc sông Hồng.

 b)- Dịch vụ bưu chính - viễn thông và công nghệ thông tin (CNTT):

Phát triển các dịch vụ về bưu chính, chuyển phát, tài chính tiết kiệm bưu điện, chuyển tiền nhanh theo hướng công nghệ hiện đại; đạt mức tăng trưởng sản lượng bình quân 15-20%/năm; trong đó dịch vụ tiết kiệm bưu điện tăng 25-30%/năm.

Triển khai Chính phủ điện tử trên địa bàn thành phố gắn liền với vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước. Phát triển hạ tầng viễn thông và Internet theo hướng hội tụ, tích hợp công nghệ (truyền thanh, truyền hình, di động, Internet) nhằm thúc đẩy mạnh phát triển viễn thông - công nghệ thông tin của Thủ đô trờ thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành dịch vụ chất lượng cao, đi trước một bước, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin

c)- Dịch vụ khoa học - công nghệ:

Tập trung vào nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao, gắn nghiên cứu khoa học, nghiên cứu công nghệ với yêu cầu của thị trường và phát triển sản xuất, dịch vụ. Phát triển thị trường khoa học - công nghệ và các dịch vụ tư vấn và chuyển giao công nghệ, các dịch vụ đánh giá, thẩm định, dịch vụ tiêu chuẩn, đo lường chất lượng.

d)- Dịch vụ y tế:

Phát triển các dịch vụ trình độ, chất lượng cao trong khám chữa bệnh, xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm công nghệ cao về y học hàng đầu của cả nước. Liên kết với các bệnh viện uy tín trên thế giới để phát triển các dịch vụ khám, chữa bệnh trình độ, chất lượng cao. Hình thành một số dịch vụ chuyên sâu đạt trình độ y tế các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.

e) Dịch vụ giáo dục - đào tạo:

Xây dựng Hà Nội là trung tâm giáo dục - đào tạo trình độ, chất lượng cao của cả nước; đầu tư xây dựng một số mô hình giáo dục trình độ cao ở bậc Trung học phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp, các trường đại học, trung tâm ngoại ngữ, tin học đạt tiêu chuẩn quốc tế.

g)- Dịch vụ tư vấn:

Từng bước phát triển tư vấn thành một trong những ngành dịch vụ quan trọng của Thủ đô. Phát triển đa dạng các loại hình tư vấn trong các lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, chuyển giao công nghệ, du lịch, tư vấn đầu tư, pháp lý... Xây dựng, phát triển một số doanh nghiệp, tập đoàn tư vấn mạnh, hoạt động chuyên nghiệp cả trên phạm vi trong nước và từng bước hướng ra thị trường tư vấn quốc tế, thành lập hội tư vấn. Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển dịch vụ tư vấn và quản lý nhà nước đối với các hoạt động tư vấn trên địa bàn. Tăng cường thông tin quảng bá và tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức xã hội về vị trí của các dịch vụ tư vấn.

h)- Dịch vụ vận tải công cộng:

Tập trung phát triển GTVT công cộng để đáp ứng 35-45% (trong đó xe buýt 25-30%) của tổng nhu cầu đi lại trên toàn thành phố vào năm 2020, tiết kiệm tiêu dùng xã hội về giao thông đô thị và hạn chế gia tăng quá mức các phương tiện cá nhân.

Để xe buýt đảm nhận 25-30% nhu cầu đi lại, mạng lưới tuyến xe buýt cần đạt bình quân 3,4-3,6 km/km2 ở các quận nội thành; 1,5-1,7 km/km2 ở khu vực phát triển đô thị hóa. Lượng xe buýt cần có bình quân 1,8-2,1 xe/1.000 dân.

+ Phát triển vận tải hành khách công cộng là nhiệm vụ chiến lược. Phát triển hoàn chỉnh vận tải hành khách công cộng với ba hợp phần cơ bản, gồm: hệ thống vận tải khối lượng lớn (đường sắt đô thị và xe buýt nhanh); hệ thống xe buýt thông thường; hệ thống bổ trợ với các phương tiện giao thông nhỏ. Trong đó đường sắt đô thị là xương sống cho giao thông công cộng của thành phố và xe buýt là phương thức cung cấp dịch vụ tại những nơi mà đường sắt đô thị không phát triển tới;

+ Tăng cường cải thiện dịch vụ vận tải hành khách công cộng thông qua các giải pháp như: tổ chức liên thông giữa các phương thức vận tải (bằng cách sử dụng vé chung); cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ của hệ thống xe buýt, đặc biệt chú trọng các dịch vụ phục vụ người già, trẻ em và người khuyết tật;

+ Khuyến khích mở rộng các dịch vụ bán công cộng như xe buýt đưa đón học sinh và công nhân;

+ Tổ chức tốt công tác điều tiết nhu cầu giao thông bằng các biện pháp kiểm soát tỷ lệ sở hữu và sử dụng phương tiện giao thông cá nhân, đặc biệt là xe máy và xe ô tô con; xây dựng chính sách cụ thể về ưu tiên sử dụng đường giữa các phương thức như xe buýt, xe máy, ô tô, xe đạp v.v...

+ Gắn liền phát triển đô thị với phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải hành khách công cộng, đảm bảo phát triển đô thị một cách đồng bộ và bền vững.

i). Dịch vụ xuất khẩu:

Từng bước phát triển các dịch vụ xuất khẩu, tập trung phát triển theo thứ tự ưu tiên là:

- Xuất khẩu phần mềm; dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; bưu chính viễn thông; vận tải hàng không; dịch vụ hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài.

- Một số dịch vụ mới, có tiềm năng xuất khẩu: y tế; giáo dục; tư vấn; dịch thuật; hỗ trợ sản xuất và phát hành các sản phẩm văn hóa; tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế...

2.4. Thương mại

a. Mục tiêu

Xây dựng Hà Nội thành trung tâm thị trường hàng hóa bán buôn, thiết lập, củng cố và phát triển các kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ theo hướng văn minh hiện đại.

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2011-2015 đạt bình quân 14-15%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt bình quân 13-14%/ năm.

Xây dựng và phát triển mạnh thương mại nội địa theo hướng hiện đại. Dự kiến tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội giai đoạn 2011-2015 đạt bình quân 18-20%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 17-18%/năm.

b. Phương hướng và giải pháp

- Phát triển hạ tầng thương mại và các dịch vụ thương mại:

Phát triển mạng lưới siêu thị, chú trọng phát triển các siêu thị lớn gắn với phát triển du lịch.

Xây dựng Trung tâm thương mại - tài chính tại khu đô thị mới Tây Hồ Tây, Trung tâm hội chợ - triển lãm - thương mại quốc tế ở khu vực Từ Liêm.

Nâng cấp Trung tâm hội chợ, triển lãm Giảng Võ. Nghiên cứu, xây dựng Trung tâm triển lãm quốc tế mang tầm khu vực.

Nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các loại hình trung tâm thương mại và các khu thương mại trung tâm.

Phát triển các khu dịch vụ logistics phân phối hàng hoá. Xây dựng các khu tổng kho tập trung.

Hoàn chỉnh mạng lưới chợ đầu mối, xây dựng mới các chợ đầu mối nông sản, trong đó các chợ bán buôn nông sản, rau quả tổng hợp cấp quốc gia và vùng ở khu vực ngoại vi; nâng cấp các chợ loại 2 và 3. Từng bước xóa bỏ chợ cóc, chợ tạm.

Chú trọng hình thành hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị, chợ... tại các đô thị vệ tinh như Hòa Lạc, Xuân Mai, Miếu Môn, Sơn Tây, Nội Bài, Phú Xuyên...

- Quy hoạch, xây dựng mạng lưới xăng dầu, các cơ sở giết mổ tập trung, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Nâng cao chất lượng, mẫu mã, bao bì đóng gói của các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu.

- Xây dựng văn hóa kinh doanh, văn minh thương nghiệp.

- Chú trọng phát triển thương mại khu vực nông thôn, miền núi. Trong giai đoạn trước mắt, khai thác mạnh thị trường nội địa, nhất là khu vực nông thôn; phát triển các dịch vụ thương mại gắn với tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp sạch, các sản phẩm của các làng nghề, cung cấp hàng hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp và tiêu dùng của nhân dân khu vực nông thôn.

          3. Công nghiệp

3.1. Định hướng chung

Phát triển công nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hướng vào những ngành có lợi thế so sánh; phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng Thủ đô.

Tập trung phát triển nhanh hơn một số ngành, sản phẩm công nghiệp có tính chất dẫn đường như: công nghệ thông tin (cả phần mềm và phần cứng), công nghệ vật liệu mới, công nghệ chế tạo khuôn mẫu; các ngành và sản phẩm đòi hỏi công nghệ cao: công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, dụng cụ y tế, công nghiệp dược, hoá mỹ phẩm...

Tăng cường hợp tác, liên kết giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận để nâng cao có hiệu quả sử dụng các nguồn lực, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghiệp của vùng nói chung, Thủ đô nói riêng. Hình thành sự phân công sản xuất, tham gia chế tạo trong từng công đoạn sản phẩm.

Khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ cho các ngành công nghiệp chủ lực như cơ khí, điện tử...; phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng nguồn vốn tư nhân, tạo ra một mạng lưới các vệ tinh sản xuất và xuất khẩu cho các công ty lớn.

Chú trọng đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực của công nghiệp trên địa bàn thành phố.

Đến năm 2030, công nghiệp Hà Nội đa số là các doanh nghiệp khoa học công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, thiết kế chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới và văn phòng của các tổng công ty, tập đoàn sản xuất lớn. Ngành công nghiệp tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực chế biến sâu với công nghệ và thiết bị hiện đại. Các sản phẩm của công nghiệp Hà Nội có chất lượng và giá trị cao, mang tính khu vực và quốc tế; có khả năng cạnh tranh và đáp ứng được mọi tiêu chuẩn tiên tiến của các nước phát triển. Ngành điện tử, công nghệ thông tin và cơ khí chế tạo, cơ điện tử là các ngành công nghiệp chủ lực, chi phối. Các ngành công nghiệp khác, tuy có vị trí thấp nhưng với những sản phẩm độc đáo, đặc trưng của Hà Nội phát triển gắn liền với khoa học công nghệ tiên tiến và bản sắc văn hoá Hà Nội.

Tiếp tục ưu tiên phát triển các làng nghề theo hướng thân thiện với môi trường. Bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống gắn với du lịch. Bố trí quỹ đất cho xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề để phát triển nghề đồng thời khắc phục tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất và ô nhiễm trầm trọng tại các làng nghề hiện nay.

Phấn đấu giá trị gia tăng công nghiệp, xây dựng tăng bình quân khoảng 13-13,7%/năm giai đoạn 2011-2015 và khoảng 11,5-12,4%/năm giai đoạn 2016-2020.

3.2. Định hướng phát triển các phân ngành công nghiệp

a) Công nghiệp công nghệ thông tin

Phát triển thành phố Hà Nội trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) của cả nước, từng bước trở thành trung tâm mạnh về công nghiệp phần mềm, nội dung số và công nghiệp phần cứng trong khu vực. Xây dựng ngành công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của thành phố.

Ưu tiên dành quỹ đất thuận lợi cho quy hoạch, xây dựng các KCN phần mềm và nội dung số, KCN công nghệ thông tin tập trung. Có cơ chế, chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng các KCN CNTT để hấp dẫn nhà đầu tư.

Tập trung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT đáp ứng không chỉ cho nhu cầu nhân lực CNTT của thành phố mà còn cho các địa phương khác và xuất khẩu nhân lực CNTT. Đầu tư củng cố, tăng cường năng lực và cơ sở hạ tầng cho Trung tâm đào tạo công nghệ thông tin - truyền thông.

 Tăng cường hợp tác quốc tế về nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực phần mềm và nội dung số, đẩy mạnh liên doanh, liên kết với các tập đoàn lớn về công nghiệp CNTT trên thế giới để tiếp nhận công nghệ hiện đại. Nâng cao hiệu quả liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp.

b) Cơ khí

Ưu tiên phát triển sản xuất các loại động cơ nhỏ, các sản phẩm điện cơ, cơ khí chính xác, dụng cụ học tập, dụng cụ thí nghiệm, các chi tiết máy hiện đại, các sản phẩm tiêu dùng cao cấp, máy móc, thiết bị văn phòng. Chuyển các đơn vị, xí nghiệp cơ  kim khí sản xuất động cơ lớn ra khỏi nội thành. Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo khuôn mẫu cung cấp cho nhu cầu sản xuất của Thủ đô, các địa phương trong nước và xuất khẩu.

Phát triển cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ, các thiết bị điện, cơ điện tử, tự động hoá phục vụ phát triển các ngành công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ và tiêu dùng, đáp ứng phần lớn yêu cầu của thị trường trong nước, từng bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới.

Chú trọng phát triển khâu nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới theo hướng gắn kết, hợp tác chặt chẽ giữa các Viện, trường với doanh nghiệp; gắn các chương trình nghiên cứu quốc gia với phát triển các sản phẩm trọng điểm. Từng bước hình thành hệ thống công nghiệp hỗ trợ đa dạng ở các tỉnh trong vùng để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

c) Công nghiệp vật liệu mới

Có cơ chế khuyến khích các ngành, các doanh nghiệp tích cực nghiên cứu tìm ra và sử dụng các loại vật liệu mới thay thế các vật liệu truyền thống. Tập trung ứng dụng các công nghệ vật liệu mới trong ngành công nghiệp công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, các loại vật liệu ứng dụng công nghệ nanô.

d) Hoá dược và mỹ phẩm

Ưu tiên phát triển ngành hóa dược và hóa mỹ phẩm thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, đi ngay vào công nghệ hiện đại. Xây dựng một số phòng thí nghiệm hiện đại phục vụ nghiên cứu cơ bản cho công nghiệp hóa dược.

Kết hợp tốt công nghệ sản xuất tiên tiến với hiện đại hóa sản xuất các sản phẩm đông dược. Phát triển công nghiệp dược gắn với vùng cây dược liệu.

e) Chế biến thực phẩm, đồ uống

Phát triển theo hướng áp dụng công nghệ tiên tiến, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn và trong vùng, đồng thời tăng nhanh sản lượng xuất khẩu.

Tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất những sản phẩm có thương hiệu, có uy tín phục vụ nhu cầu ngày càng tăng cao của nhân dân Thủ đô và các tỉnh, thành phố trong cả nước. Chú trọng phát triển các sản phẩm truyền thống nổi tiếng của Thủ đô phục vụ du lịch. Kết hợp với các tỉnh trong vùng Bắc Bộ để phát triển các vùng nguyên liệu và bố trí nhà máy chế biến phù hợp với quy hoạch vùng, tránh lãng phí, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

g) Dệt may

Phát triển các trung tâm cung cấp dịch vụ, trung tâm nghiên cứu thiết kế mẫu thời trang cao cấp, làm tổng đại lý. Ngành dệt may phát triển chủ yếu theo chiều sâu, hợp tác chặt chẽ với các tỉnh trong vùng để mở rộng, phát triển sản xuất. Với phân ngành dệt cần tập trung vào sản xuất sản phẩm cao cấp theo công nghệ mới, hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường, ở khu vực ngoại vi.

h) Vật liệu xây dựng, trang trí nội thất cao cấp

Đầu tư ứng dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào sản xuất các loại vật liệu mới, vật liệu cao cấp, vật liệu tổng hợp phục vụ xây dựng và trang trí nội thất như: vật liệu nhẹ, tấm kết cấu 3D, sản phẩm ốp lát, gốm, sứ xây dựng; các loại vật liệu mới ứng dụng công nghệ nano như kính chống va đập, kính chống mờ...

Khuyến khích phát triển vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường (gạch không nung...).

i) Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống kết hợp với phát triển du lịch

Khôi phục và phát triển những nghề, những cơ sở sản xuất thủ công nghiệp có sản phẩm được thị trường chấp nhận. Tạo nhiều sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu. Phát triển các nghề thủ công mới gắn với bản sắc dân tộc và tiến bộ khoa học - công nghệ. Phát triển thủ công nghiệp gắn với phát triển các làng nghề, phố nghề, nghề gia truyền theo hướng vừa tinh xảo, vừa hiện đại gắn với các tuyến điểm du lịch.

Trong nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống của Hà Nội, cần lựa chọn những nghề, làng nghề để khôi phục, phát triển; quan tâm kết hợp tốt công nghệ hiện đại với kỹ nghệ truyền thống. Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa một số khâu, một số công đoạn đối với các ngành nghề truyền thống nhằm nâng cao hơn nữa năng suất, chất lượng, quy mô, hiệu quả và sự đồng đều của các sản phẩm truyền thống.

3.3. Phát triển các khu, cụm công nghiệp, làng nghề

a) Đối với các khu vực công nghiệp tập trung được hình thành trước những năm 1990:

Cải tạo, chỉnh trang, đầu tư chiều sâu các khu công nghiệp cũ như: Minh Khai, Chèm, Đức Giang, Cầu Bươu, Cầu Diễn, Đông Anh, Đuôi Cá, Văn Điển.

Đẩy nhanh công tác di chuyển những cơ sở sản xuất, bộ phận doanh nghiệp có mức độ gây ô nhiễm cao, có điều kiện sản xuất không thích hợp như: dệt nhuộm, hoá chất, thuốc lá... ra xa nội đô, khu vực dân cư, kết hợp đổi mới công nghệ và đầu tư hệ thống xử lý chất thải bảo vệ môi trường.

b) Đối với các khu công nghiệp tập trung mới

-  Ưu tiên thu hút các ngành nghề có trình độ công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, không đòi hỏi sử dụng nhiều đất, tăng cường sự tham gia của các thành phần kinh tế; chú trọng bảo vệ môi trường, hình thành và phát triển các khu công nghiệp thân thiện với môi trường, các khu công nghiệp sinh thái.

- Chuyển dịch cơ cấu bên trong thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển các ngành công nghệ cao như thông tin, cơ điện tử, công nghệ sinh học. Phát triển các KCN công nghệ thông tin.

- Giai đoạn đến năm 2015: Tiếp tục triển khai 09 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ ghi vào danh mục phát triển các KCN Việt Nam với tổng diện tích 3.581 ha, bao gồm: KCN Bắc Thường Tín, KCN Phụng Hiệp, KCN Quang Minh II, KCN sạch Sóc Sơn, KCN Nam Phú Cát, Khu công viên công nghệ thông tin Hà Nội, Khu công nghệ cao sinh học, KCN Đông Anh, KCN Kim Hoa (phần diện tích thuộc huyện Mê Linh).

- Giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030: Dự kiến xây dựng mới và mở rộng 15 khu công nghiệp, tổng diện tích khoảng 4.200 ha.

- Nghiên cứu, phát triển các khu công nghiệp tại khu vực Mê Linh, Nội Bài, Đông Anh tạo thành chuỗi công nghiệp - đô thị trên đường 18 kéo dài từ ĐTM Mê Linh đến Phố Mới (Quế Võ, Bắc Ninh) để chuyển bớt công nghiệp lên đường 18.

c) Đối với phát triển các cụm công nghiệp, cụm CN làng nghề

- Phát triển các cụm công nghiệp ở ngoại thành, chú trọng thu hút các ngành công nghiệp không gây ô nhiễm môi trường. Nâng cấp, mở rộng một số cụm công nghiệp thành khu công nghiệp tập trung. Đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải.

Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp đã hình thành. Trong mỗi giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 xây dựng mới 15-20 cụm công nghiệp.

- Tiếp tục triển khai và phát triển theo hướng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ cao và có xử lý chất thải ở các làng nghề truyền thống: Gốm sứ Bát Tràng, may Cổ Nhuế, chế biến thực phẩm Xuân Đỉnh, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Vân Hà - Liên Hà, dệt lụa Vạn Phúc (Hà Đông), lụa Cổ Đô (Ba Vì), nghề dệt xô màn ở Hoà Xá, nghề dệt kim La Phù (Hoài Đức), mây tre đan (Chương Mỹ), các làng nghề chế biến nông sản...

Phát triển các làng nghề này theo hướng kết hợp với du lịch, gắn với việc bảo vệ môi trường, đưa các làng nghề này trở thành một trong nhiều điểm của tuyến du lịch Thủ đô.

Xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề để di chuyển các hộ sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi các làng, các khu dân cư.

4. Nông lâm thủy sản và nông thôn

4.1 Định hướng chung

Bên cạnh việc dành quỹ đất hợp lý cho nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng,  các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, dịch vụ, quỹ đất nông nghiệp còn lại cần phải được sử dụng hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm, góp phần thoả mãn nhu cầu nông sản, thực phẩm chất lượng cao cho khu vực đô thị, trên tinh thần đó định hướng chung phát triển nông nghiệp Hà Nội bao gồm:

Phát triển nền nông nghiệp Thủ đô theo hướng phát triển nền nông nghiệp đô thị sinh thái, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng cạnh tranh cao, hài hoà và bền vững với môi trường.

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, giá trị gia tăng lớn, đạt yêu cầu hiệu quả - chất lượng - sạch, theo hướng phục vụ cho đô thị, du lịch, khu công nghiệp.

Nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng phát triển các sản phẩm sạch, các loại quả đặc sản, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Phát triển nông nghiệp gắn với ngành nghề khác (thủ công nghiệp, du lịch nông thôn, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề...) và góp phần bảo vệ môi trường (vành đai xanh).

Định hướng đến năm 2030, ổn định vùng sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch. Phát triển nông nghiệp gắn chặt với hình thành vành đai cây xanh, vùng trồng rau sạch, vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với hệ thống phân phối tiện lợi cho người dân. Nâng cao năng suất, chất lượng hàng nông sản, an toàn thực phẩm; nâng cao hiệu quả sản xuất, giá trị sản xuất/đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh quy mô lớn (vùng sản xuất rau, hoa, chăn nuôi, thuỷ sản...).

Dự kiến giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân một ha đất nông nghiệp đạt khoảng 185 triệu đồng năm 2015 và khoảng 235 triệu đồng năm 2030 (giá thực tế). Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm khu vực nông lâm thuỷ sản đạt bình quân 1,5-2%/năm giai đoạn 2011-2020.

Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản; đến năm 2015 cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi - thủy sản là 40% - 50% - 10% và đến năm 2020 là 34,5% - 54% - 11,5%.

4.2 Phương hướng phát triển

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Xây dựng và hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh quy mô lớn. Nâng cao năng suất, chất lượng hàng nông sản, hiệu quả sản xuất trên 1 đơn vị diện tích đất nông nghiệp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Xây dựng, nhân rộng các mô hình khu nông nghiệp công nghệ cao có hiệu quả.

+ Sản xuất rau, hoa, cây cảnh

Quy hoạch và xây dựng các vùng rau an toàn, rau cao cấp ở Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì; khu vực ven sông Đáy và bãi sông Hồng thuộc các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Thường Tín và Ứng Hoà.

Vùng hoa, cây cảnh phát triển tập trung ở Mê Linh, Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Đan Phượng, Quốc Oai, Hoài Đức, Thường Tín, TX Sơn Tây, Mỹ Đức. Đưa diện tích trồng hoa, cây cảnh đến năm 2020 đạt khoảng 10-12 nghìn ha.

Phát triển các vùng cây ăn quả, tập trung đầu tư phát triển các cây ăn quả đặc sản để củng cố và nâng cao thương hiệu sản phẩm trên thị trường: cam Canh, bưởi Diễn. Đưa diện tích trồng cây ăn quả đến năm 2020 khoảng 15-16 nghìn ha.

+ Sản xuất cây lương thực

Xây dựng các vùng chuyên canh lúa có năng suất, chất lượng cao ở những nơi thuận lợi tưới, tiêu; bố trí gọn vùng để thuận lợi cho việc thực hiện cơ giới hoá các khâu canh tác, thu hoạch và ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật mới.

Phát triển, mở rộng các vùng sản xuất lúa giống, lúa đặc sản (như nếp cái hoa vàng...), đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật về công nghệ và giống mới vào sản xuất.

 Tập trung đầu tư thâm canh, gieo cấy đúng khung thời vụ tốt nhất để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, đồng thời tạo thuận lợi cho sản xuất vụ đông nhằm tăng thu nhập cho người nông dân ở những vùng thuần nông chuyên canh cây lúa.

+ Các cây trồng khác

Phát triển các cây công nghiệp hàng năm là lạc và đậu tương. Tập trung đầu tư, thâm canh; đưa giống mới vào sản xuất đại trà kết hợp với áp dụng quy trình chăm sóc phù hợp.

+ Một số biện pháp hỗ trợ phát triển nông nghiệp

Khuyến khích dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất cho sản xuất hàng hóa lớn, nâng cao năng suất, chất lượng và có tính cạnh tranh cao.

Tăng cường công tác bảo vệ thực vật, đảm bảo an toàn dịch bệnh cho cây trồng, góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của SXNN, các công trình đê điều, hệ thống kênh tưới, kênh tiêu gắn với các vùng chuyên canh để tạo điều kiện phát triển SXNN đạt hiệu quả cao.

Hình thành một số trung tâm công nghệ sinh học phục vụ sản xuất, cung cấp giống cây trồng và bảo tồn các loại gien quý hiếm.

- Chăn nuôi

Tập trung phát triển chăn nuôi một cách hợp lý thành ngành sản xuất chính, xác định chăn nuôi là ngành làm giàu cho nông dân.

Phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, giữ vệ sinh môi trường, tạo khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng cao phục vụ thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Nhanh chóng hình thành các khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, xây dựng hệ thống xử lý chất thải.

Tập trung phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao, lợn nạc, gia cầm chất lượng cao, chăn nuôi lợn, gia cầm quy mô lớn ở vùng đồi gò, bán sơn địa.

 Tăng cường công tác thú y, kiểm dịch động vật, kiểm soát dịch bệnh. Xây dựng các các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung.

Hình thành, phát triển các trung tâm sản xuất, cung cấp giống vật nuôi và bảo tồn các loại gien quý hiếm.

b) Thủy sản

Tăng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, bố trí chủ yếu ở các huyện vùng trũng (Phú Xuyên, Mỹ Đức, Ứng Hòa...). Dự kiến đến năm 2020 đạt khoảng 15-16 nghìn ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản tập trung. Ứng dụng các công nghệ tiên tiến, tiến bộ kỹ thuật mới về công nghệ và giống mới vào phát triển thuỷ sản.

Mô hình nuôi trồng thủy sản chủ yếu là quy mô nhỏ. Tận dụng toàn bộ các loại mặt nước, cải tạo một phần diện tích đất mặt nước chưa sử dụng, chuyển đổi một phần đất lúa vùng úng trũng để chuyên nuôi trồng thuỷ sản theo hình thức bán thâm canh và thâm canh bằng thức ăn công nghiệp. Chuyển đổi đất lúa vùng úng trũng, sản xuất vụ mùa không ăn chắc sang canh tác lúa + cá.

c) Lâm nghiệp

Diện tích rừng của Hà Nội không lớn, tập trung ở khu vực Ba Vì, Mỹ Đức, Sóc Sơn, vì vậy xác định hiệu quả chủ yếu của kinh tế rừng là bảo vệ môi trường, phục vụ du lịch là nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể là:

Phát triển, bảo vệ rừng với mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan du lịch, bảo tồn quỹ gen.

Làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng; phòng cháy và chữa cháy rừng, hạn chế tới mức thấp nhất số vụ cháy và phá rừng xảy ra trên địa bàn.

Tích cực trồng rừng mới tập trung, trồng cây phân tán, đẩy mạnh cải tạo diện tích rừng trồng hiện có. Kết hợp giữa trồng rừng mới, cải tạo rừng với phát triển cây ăn quả tập trung phục vụ phát triển du lịch sinh thái.

d) Phát triển nông thôn

          Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2015 có 40-45%, năm 2020 có 70% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và trong giai đoạn đến năm 2030 có 100% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới).

Xây dựng nông thôn Thủ đô có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và đô thị. Đảm bảo nông thôn phát triển ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ.

Tích cực triển khai công tác quy hoạch xây dựng cho khu vực nông thôn (quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp...) và tổ chức thực hiện các quy hoạch; trong đó đặc biệt coi trọng quy hoạch, xây dựng các điểm dân cư.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng các dịch vụ (phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân cư nông thôn) và tiểu thủ công nghiệp, làng nghề.

Chú trọng công tác khuyến nông, khuyến ngư; xây dựng, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, phát triển kinh tế trang trại. Đầu tư nâng cấp các công trình đê điều, thuỷ lợi để đảm bảo phát triển sản xuất, vừa đảm bảo an toàn trong phòng chống thiên tai.

Phát triển các cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề. Đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến rau quả...

Phát triển dịch vụ nông thôn, làng nghề, TTCN để tạo việc làm, nâng cao thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Mở rộng hệ thống thương mại, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh, tổ chức hoạt động có hiệu quả các chợ đầu mối, sắp xếp hệ thống chợ nông thôn, khôi phục và mở rộng các làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch làng nghề.

          Chú trọng đầu tư cho mạng lưới giao thông, các công trình cấp điện, cấp nước nông thôn, mạng lưới trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, điểm phục vụ bưu chính - viễn thông... Cải thiện từng bước nhà ở khu vực nông thôn. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, kiến trúc xây dựng ở nông thôn cho phù hợp với quá trình đô thị hoá và đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc. Có chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề và hỗ trợ cao hơn cho người dân không còn đất sản xuất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa. Chú trọng đào tạo nghề cho lao động vùng chuyên canh, vùng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo điều kiện cho các nhóm khó khăn, đối tượng yếu thế được tham gia học nghề, tăng cơ hội việc làm, tự tạo việc làm...

Xây dựng nếp sống văn hóa ở khu vực nông thôn. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá. Gắn việc tôn tạo, nâng cấp các khu di tích lịch sử, văn hóa và tổ chức các lễ hội với việc phát triển du lịch. Nâng cao tính tự quản, chất lượng, hiệu quả cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa ở khu vực nông thôn.

 

VI. CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI

          1. Lao động, việc làm

- Giảm dần sự bất hợp lý và lãng phí trong sử dụng nguồn lực lao động, mất cân đối giữa cung - cầu lao động. Tăng cơ hội tuyển dụng được nhân lực chất lượng tốt cho các doanh nghiệp và cơ hội việc làm tốt cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị, nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian lao động ở nông thôn.

- Nâng cao chất lượng nguồn lao động: tăng mức đầu tư dạy nghề, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng lao động đang làm việc.

- Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đào tạo. Từng bước nâng cấp, phát triển cơ sở dạy nghề. Chú trọng đào tạo nhân lực chuyên môn cao cho những ngành kinh tế mũi nhọn.Nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng lao động đang làm việc. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cho người lao động phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế.

- Phát triển thông tin thị trường lao động, hoàn thiện hệ thống giao dịch chính thức trên thị trường lao động: nâng cao chất lượng hoạt động của sàn giao dịch việc làm Thành phố; thiết lập hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động thống nhất từ Thành phố đến quận, huyện, xã, phường.

- Phấn đấu trung bình mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 135-140 nghìn người giai đoạn 2011-2015 và 155-160 nghìn người giai đoạn 2016-2020. Số lượt người được đào tạo nghề trung bình mỗi năm 150.000 lượt người. Đến năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 55%, năm 2020 đạt 70-75%.

Chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dự kiến đến năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng 15%.

Biểu 8. Dự báo cơ cấu sử dụng lao động

Đơn vị: %

Chỉ tiêu

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

Tổng số

100,0

100,0

100,0

1. Công nghiệp - xây dựng

21,9

26,0

30,0

2. Dịch vụ

49,5

53,0

55,0

3. Nông nghiệp

28,6

21,0

15,0

- Có chính sách ưu đãi và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy năng lực, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật.

- Tổ chức tốt công tác mạng lưới dịch vụ cung ứng lao động, giao dịch, tìm hiểu và giới thiệu việc làm. Ngoài ra đối với khu vực nông thôn cần cải thiện và làm tốt công tác dịch vụ kỹ thuật, cung ứng vật tư và khai thông thị trường cho các sản phẩm và dịch vụ. Thành phố xây dựng ngân hàng dữ liệu về cung và cầu sức lao động và cung cấp những thông tin cần thiết, kịp thời cho các quận, huyện, xã, phường và nhân dân về vấn đề này. Phối hợp với các ngành TW, các khu công nghiệp, từng bước hình thành và phát triển thị trường sức lao động, tổ chức, quản lý tốt và có hiệu quả thị trường đặc biệt này.

- Phối kết hợp với với các trường Đại học, Cao đẳng đóng trên địa bàn Thành phố để chủ động tuyển chọn những sinh viên đạt kết quả xuất sắc về làm việc trong các cơ quan của Thành phố theo chuyên ngành được đào tạo. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, trọng dụng nhân tài để phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

- Nâng cao tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng trong nông thôn. Tạo sức hút lao động - dân cư ngay tại địa bàn nông thôn.

- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, chú trọng xuất khẩu chuyên gia; đến các thị trường đòi hỏi lao động có tay nghề cao và thu nhập khá, ổn định.

          2. Văn hoá

          a) Mục tiêu phát triển

- Phát triển văn hóa Thủ đô xứng tầm với truyền thống ngàn năm văn hiến, với danh hiệu cao quý Thủ đô anh hùng, Thành phố vì Hòa bình, tiêu biểu cho cả nước. Gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa với kinh tế, chính trị; đưa văn hóa thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt đời sống xã hội, tới sự phát triển toàn diện của con người, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân Thủ đô.

- Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh với những phẩm chất cơ bản: yêu nước, trách nhiệm, tâm huyết với Thủ đô; trung thực, tự trọng, nghĩa tình; có lối sống và nếp sống trong sạch, lành mạnh; có tri thức, năng động, sáng tạo, chủ động và vững vàng trong phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; có thể chất tốt và luôn có ý thức vươn lên trong cuộc sống.

Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng người Hà Nội thanh lịch - văn minh". Phấn đấu đến năm 2015 có trên 80% số hộ được công nhận Gia đình văn hóa; trên 65% thôn làng được công nhận Làng văn hóa; trên 55% tổ dân phố được công nhận Tổ dân phố văn hóa; trên 60% đơn vị (kể cả các đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn Thành phố) được công nhận Đơn vị văn hóa; đến năm 2020 có 83-85% số hộ được công nhận Gia đình văn hóa; trên 70% thôn làng được công nhận Làng văn hóa; trên 60%  tổ dân phố được công nhận Tổ dân phố văn hóa; trên 65% đơn vị (kể cả các đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn Thành phố) được công nhận Đơn vị văn hóa.

b) Phương hướng và giải pháp thực hiện

- Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh

 Xây dựng các quy ước, quy định thực hiện nếp sống, hành vi ứng xử văn hóa trong gia đình, tại cộng đồng dân cư (thôn xóm, tổ dân phố...) trong các cơ quan, doanh nghiệp, các đơn vị, trường học, bệnh viện...

Tuyên truyền, giáo dục cho mỗi công dân Hà Nội ý thức tôn trọng kỷ cương, pháp luật, xây dựng các quan hệ xã hội giàu tính nhân văn trên cơ sở phát huy những nét đẹp truyền thống (người Tràng An, Xứ Đoài...); tôn trọng các giá trị đạo đức và văn hoá, khẳng định những giá trị mới; có nếp sống, hành vi ứng xử văn hóa, lối sống cộng đồng, thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực đời sống hàng ngày.

Lấy gia đình làm nền tảng, lấy cộng đồng dân cư, đơn vị hành chính làm cơ sở để xây dựng môi trường văn hóa. Khôi phục, kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa gia đình truyền thống của Thăng Long - Hà Nội, gắn với những yêu cầu của nếp sống công nghiệp, đô thị hiện đại. Duy trì, nâng cao chất lượng và phát triển rộng rãi phong trào xây dựng Gia đình văn hóa, Tổ dân phố văn hoá, Làng văn hoá, Khu dân cư văn hóa, Cơ quan, Đơn vị văn hóa. 

- Phục hồi, phát huy các lễ hội truyền thống, các loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian

Phục hồi, phát huy một số lễ hội truyền thống tiêu biểu như Lễ hội Đền Gióng, Cổ Loa, Thăng Long tứ trấn...; khắc phục những mặt tiêu cực trong hoạt động tổ chức lễ hội; phục hồi các loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian.

- Phát triển văn học nghệ thuật

Phát triển văn học nghệ thuật Thủ đô một cách toàn diện, phấn đấu để có những tác phẩm có giá trị cao, góp phần bồi dưỡng, nâng cao tư tưởng, tâm hồn, nhân cách, đạo đức, lối sống của người Hà Nội. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức văn học, nghệ thuật và đào tạo, bồi dưỡng, thu hút tài năng. Củng cố, đổi mới các nhà hát và các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của thành phố. Đầu tư xây dựng một số chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp chất lượng cao, phục vụ công tác chính trị, đối ngoại.

-  Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa

Rà soát, bổ sung các văn bản quy định về cơ chế, chính sách văn hoá ở Thủ đô phù hợp với yêu cầu mới của thiết chế và nhu cầu hưởng thụ về văn hoá của nhân dân. Ban hành các quy chế quản lý các hoạt động dịch vụ văn hoá trên địa bàn Thành phố, bảo đảm hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá của tổ chức, cá nhân đúng pháp luật, đáp ứng các nhu cầu thưởng thức, hưởng thụ đời sống văn hoá tinh thần của quần chúng nhân dân.

Quản lý chặt chẽ công tác phát hành ấn bản nhằm bảo đảm các nội dung có tính trung thực, khách quan, có tính nghệ thuật cao, giàu tính nhân văn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.

- Đẩy mạnh giao lưu và hợp tác về văn hoá

Đẩy mạnh giao lưu và hợp tác về văn hoá với các tỉnh, thành phố trong nước và Thủ đô các nước trên thế giới để quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu các thành tựu văn hoá, nghệ thuật của Thủ đô với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế, góp phần thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời chủ động tiếp nhận tinh hoa văn hoá trong nước và thế giới để phát triển văn hoá Thủ đô.

 - Tăng cường hệ thống các thiết chế văn hoá

Tăng cường đầu tư, đặc biệt ưu tiên vốn từ ngân sách Nhà nước cho phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, đảm bảo tương xứng với phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

Phát triển mạng lưới công trình văn hoá gắn liền với phát triển du lịch và theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá. Phối hợp phát huy có hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa hiện có thuộc các đơn vị Trung ương trên địa bàn và của Thành phố.

Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống nhà văn hoá thành phố, quận, huyện, đoàn thể, các trường đại học. Xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở vật chất về văn hóa, thông tin ở các cấp xã, phường (Nhà văn hoá xã, phường và điểm sinh hoạt văn hóa ở các khu dân cư) phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hoàn thành xây dựng Bảo tàng Hà Nội, Công viên, tượng đài Thành phố vì Hoà bình (Từ Liêm), Khải hoàn môn..

Tập trung thực hiện các dự án bảo tồn, xây dựng, nâng cấp các di tích lịch sử, công trình văn hoá sau: Bảo tồn, tôn tạo Khu Hoàng thành Thăng Long, Khu di tích Thành cổ Hà Nội; Khu di tích thành Cổ Loa (Đông Anh); Bảo tồn, cải tạo khu phố cổ; Khu di tích đền Sóc (Sóc Sơn), Thành cổ Sơn Tây.

Hình thành hệ thống tượng đài danh nhân lịch sử văn hoá và tranh hoành tráng như các công trình văn hoá tượng đài, phù điêu... về sự kiện Cách mạng Tháng Tám, hệ thống các cửa ô...

Phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng mới Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam (trên cơ sở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Việt Nam, Bảo tàng Quân đội; nâng cấp các bảo tàng cấp quốc gia hiện có: Bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, bảo tàng Công an nhân dân, bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Khuyến khích việc hình thành một số bảo tàng ở các trường đại học (Y học, Sinh vật học, Nông nghiệp, Kiến trúc...) trên địa bàn thủ đô Hà Nội.

Đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống thư viện cho các huyện.

          3. Giáo dục và đào tạo

3.1 Phương hướng phát triển

- Giữ vững và nâng cao vị thế hàng đầu của giáo dục đào tạo Thủ đô trong thực hiện 3 nhiệm vụ chiến lược: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nhất là đào tạo nhân lực chất lượng cao, là nòng cốt cho xây dựng văn hóa người Hà Nội, xây dựng xã hội học tập và tạo tiền đề phát triển kinh tế tri thức ở Thủ đô.

- Duy trì phổ cập tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi, tiến tới phổ cập giáo dục bậc trung học. Xây dựng nhà trường phổ thông đủ điều kiện để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện trí, đức, thể, mỹ; ngăn chặn và tiến tới giảm thiểu và xóa bỏ các tệ nạn xã hội phát sinh trong trường học. Tăng cường công tác hướng nghiệp. Khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục - đào tạo theo mô hình cung ứng dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao.

- Nâng cấp các trung tâm dạy nghề đủ điều kiện của trường Trung cấp nghề thành trường Trung cấp nghề để đào tạo nguồn nhân lực.

Các chỉ tiêu phát triển cơ bản đến năm 2020:

+ Tỷ lệ học 2 buổi/ngày: Tiểu học đạt trên 90%; Trung học cơ sở đạt trên 50%.

+ Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 65-70%.

+ 100% trường học kiên cố hóa, tiến dần hiện đại hóa.

+ 100% xã, phường, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng.

- Tiếp tục xây dựng, nhân rộng các trường chất lượng cao ở tất cả các bậc học, cấp học. Xây dựng một số trường phổ thông đạt trình độ khu vực và quốc tế.

- Ưu tiên đầu tư phát triển mạng lưới trường, lớp tại khu vực nông thôn, miền núi, các địa bàn gặp nhiều khó khăn. Từng bước giảm sự chênh lệch về điều kiện cơ sở vật chất và trình độ giáo viên giữa các trường phổ thông.

- Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo, phát triển dịch vụ giáo dục - đào tạo trình độ, chất lượng cao theo nhu cầu xã hội. Xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tiếp tục chú trọng khai thác các nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục - đào tạo. Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư xây dựng một số cơ sở giáo dục - đào tạo đạt trình độ khu vực và quốc tế.

Chú trọng giáo dục hướng nghiệp; tập trung phát triển đào tạo nghề, nhất là đào tạo công nhân kỹ thuật cao phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế Thủ đô và phục vụ xuất khẩu lao động.

Rà soát đội ngũ lao động; xây dựng, triển khai các chương trình, kế hoạch đào tạo cán bộ, công chức, doanh nhân theo các hợp đồng ký kết với các trường đại học, cao đẳng trong nước và gửi đi nước ngoài đào tạo các chuyên gia, cán bộ đầu ngành một số lĩnh vực Hà Nội còn thiếu, còn yếu. Đẩy mạnh dạy học song ngữ trong các cơ sở giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo.

- Khuyến khích, ưu tiên phát triển các lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực sau: Đào tạo trình độ cao; đào tạo các chương trình theo hướng nghiên cứu; đào tạo các ngành, chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ và khoa học xã hội và nhân văn), đào tạo các ngành mũi nhọn trong các lĩnh vực giáo dục và y tế, nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, kinh tế, thương mại, dịch vụ và quản lý, thể dục - thể thao, văn hoá, nghệ thuật.

- Ưu tiên dành quỹ đất cho các trường học (các trường phổ thông, mầm non và các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp) để đảm bảo tiêu chí của trường chuẩn quốc gia.

3.2. Định hướng phát triển và phân bố mạng lưới các cơ sở đào tạo

a. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng

- Điều chỉnh phân bố mạng lưới các trường đại học, cao đẳng một cách hợp lý bằng cách giãn một số trường đang tập trung ở một số quận/huyện ra các đô thị vệ tinh.

Hình thành đô thị đại học tại Hòa Lạc. Xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị đại học, quần thể các trường đại học đồng bộ, hiện đại cả về kiến trúc lẫn hạ tầng tại khu vực Gia Lâm, Sóc Sơn, Sơn Tây, Xuõn Mai, Phú Xuyên, Chúc Sơn.

- Tập trung đầu tư phát triển các trường đại học xuất sắc, đại học trọng điểm:

+ Ưu tiên bố trí quỹ đất và xây dựng cơ chế chính sách đặc thù để xây dựng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ trên địa bàn thành phố trở thành trường đại học xuất sắc.

+ Xây dựng các trường đại học trọng điểm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Bách khoa Hà Nội, Nông nghiệp I Hà Nội, Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Y Hà Nội, Sư phạm Hà Nội và Học viện Kỹ thuật Quân sự (Trường Đại học Lê Quý Đôn).

+ Phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo thành lập mới trường đại học và từng bước xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, trình độ quản lý, cơ chế vận hành và các điều kiện bảo đảm chất lượng dịch vụ sinh viên tương đương với các trường đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

+ Tiếp tục thành lập mới một số trường đại học, cao đẳng tư thục thuộc các ngành văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thể dục thể thao, kinh tế - kỹ thuật, khoa học - công nghệ phân bố chủ yếu tại các huyện ngoại thành (Từ Liêm, Hoài Đức, Thanh Trì...), quy mô của 1 trường đại học/cao đẳng từ 10.000 đến 15.000 sinh viên.

b. Hệ thống dạy nghề

Ưu tiên đào tạo công nhân kỹ thuật cao, công nhân lành nghề. Chú trọng đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp cho thanh niên nông thôn tại khu vực đô thị hoá, không còn đất sản xuất nông nghiệp. Tổ chức đào tạo các nghề truyền thống tại các làng nghề.

Xây dựng trường đào tạo nghề mới ở các huyện chưa có trường dạy nghề, cụm các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề tại Tây Mỗ. Nâng cấp, mở rộng quy mô đào tạo của các cơ sở dạy nghề.

Xây dựng và triển khai dự án phát triển từ 01-03 trường trung cấp chuyên nghiệp ngang tầm khu vực về quy mô, trang thiết bị và chất lượng đào tạo, mở rộng đào tạo nghề; xây dựng một số trung tâm đào tạo nghề kỹ thuật cao. Xây dựng trung tâm ngoại ngữ, tin học đạt tiêu chuẩn quốc tế. Dự kiến xây dựng 3 trường dạy nghề cấp vùng tại Phú Xuyên, Thạch Thất, Sóc Sơn.

          4. Y tế

a. Mục tiêu phát triển

- Mục tiêu tổng quát:

Phát triển hệ thống y tế hoàn chỉnh, vừa phổ cập vừa chuyên sâu nhằm đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Thủ đô Hà Nội, khu vực phụ cận. Phấn đấu để mọi người dân Thủ đô được hưởng các dịch vụ y tế có chất lượng ngày càng cao, công bằng, hiệu quả và thuận tiện. Xây dựng Thủ đô là trung tâm công nghệ cao về y học của cả nước, phấn đấu bằng và vượt các nước tiên tiến trong khu vực về chất lượng, trình độ kỹ thuật; một số lĩnh vực đạt trình độ các nước tiên tiến trên thế giới. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ của người dân, xây dựng được tập quán tốt về vệ sinh phòng bệnh.

- Mục tiêu cụ thể:

+ Giảm tỷ lệ mắc và chết do các bệnh truyền nhiễm gây dịch. Không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn Thủ đô. Khống chế tới mức thấp nhất tỷ lệ mắc và chết do viêm đường hô hấp cấp tính, sốt xuất huyết, viêm gan B, tả, lỵ, thương hàn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục... Duy trì kết quả thanh toán bệnh bại liệt, bệnh phong, loại trừ uốn ván ở trẻ sơ sinh. Hạn chế tốc độ gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS, phát hiện, khống chế sự gia tăng của bệnh lao và các bệnh xã hội khác.

+ Phòng chống và thực hiện quản lý các bệnh không nhiễm trùng thường gặp như bệnh tim mạch, ung thư, tai nạn và thương tích, đái tháo đường, bệnh nghề nghiệp, bệnh tâm thần, ngộ độc, tự tử và các bệnh do lối sống không lành mạnh mang lại (nghiện ma tuý, nghiện rượu, béo phì, mại dâm...). Tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và các cơ sở ăn uống công cộng.

- Một số chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ

+ Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hạ xuống 11,5%o vào năm 2015 và 11%0 vào năm 2020;

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 11% vào năm 2015 và dưới 8% năm 2020.

- Tuổi thọ trung bình đạt 79 năm đến năm 2015 và 80 năm đến năm 2020.

- Phấn đấu đến năm 2015 đạt tỷ lệ 20 giường bệnh/10.000 dân (kể cả  bệnh viện tuyến Trung ương là 34-35 giường bệnh/10.000 dân) và khoảng 25 giường bệnh/10.000 dân năm 2020 (kể cả bệnh viện tuyến Trung ương là 41-42 giường bệnh/10.000 dân).

b. Phương hướng phát triển

- Phát triển mạnh và có chọn lọc các trung tâm y tế chuyên sâu của thủ đô, áp dụng kỹ thuật tiên tiến và hiện đại trong khám chữa bệnh (KCB), đảm bảo ngang bằng với các nước phát triển trong khu vực.

- Củng cố, nâng cấp toàn bộ hệ thống y tế cơ sở trên địa bàn thành phố, đảm bảo đáp ứng thuận tiện, nhanh chóng với chất lượng dịch vụ tốt mọi nhu cầu CSSK thiết yếu của người dân về KCB, phòng bệnh, phòng dịch. Phấn đấu tới năm 2015, 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế.

- Đầu tư phát triển một số lĩnh vực y tế chuyên sâu, trình độ cao mà Hà Nội có điều kiện và tiềm năng. Xây dựng một khu khám chữa bệnh kỹ thuật có ứng dụng các kỹ thuật y học hiện đại nhất với quy mô 2 bệnh viện 1.000 giường bệnh và cơ sở hạ tầng đạt trình độ quốc tế tại khu đô thị mới của thành phố. Khu KCB kỹ thuật cao y tế này vừa là nơi cung cấp các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, vừa là cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực y tế của thủ đô Hà Nội.

- Củng cố, nâng cấp một số bệnh viện cấp thành phố đạt trình độ chuyên môn của bệnh viện cấp trung ương hiện nay sau 3-5 năm, đạt trình độ chuyên môn và quản lý của các bệnh viện lớn ở thủ đô các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới sau 5-10 năm. Nâng cấp các bệnh viện loại 3 hiện nay thành bệnh viện loại 2 và loại 1 sau 5-10 năm.

- Dự kiến đầu tư xây dựng thành 5các cụm trung tâm y tế đa khoa hoặc những tổ hợp nghiên cứu, khám chữa bệnh có tầm cỡ quốc tế tại các đô thị vệ tinh và các huyện ngoi thành, tạo điều kiện thuận lợi về mặt đầu tư hạ tầng kỹ thuật liên thông, sử dụng trang thiết bị kỹ thuật cao và hỗ trợ nhau về kỹ thuật và đồng thời hỗ trợ tốt cho các cơ sở y tế tuyến dưới...

Dự kiến phân bố tại 5 khu vực như sau:

+ Khu vực 1 (phía Đông thành phố): Bố trí tại huyện Gia Lâm;

Dự kiến bố trí xây dựng Bệnh viện Việt Đức cơ sở II, Viện Tim mạch Quốc gia, Trường Cao đẳng nghề sửa chữa thiết bị y tế (tuyến Trung ương) và Bệnh viện Đa khoa Gia Lâm, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 2, Bệnh viện Thận học Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội 2, Trường Trung học và Trường cao đẳng y dược Gia Lâm (tuyến thành phố).

+ Khu vực 2 (phía Tây thành phố): Bố trí tại huyện Đan Phượng và Quốc Oai;

Dự kiến xây dựng Bệnh viện Bạch Mai 2, Viện Răng hàm mặt quốc gia, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Trường Đại học Dược Hà Nội, Trường Đại học Y Hà Nội (cơ sở nghiên cứu và bệnh viện thực hành), Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương, Viện lây quốc gia, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (tuyến Trung ương) và Bệnh viện Đa khoa Đan Phượng, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 2, Bệnh viện Nhi Hà Nội, Bệnh viện Mắt Hà Nội, Trường Đại học Y Dược Hà Nội, Trường Trung học Y dược Quốc Oai và 01 cơ sở nghiên cứu thực nghiệm Đan Phượng.

+ Khu vực 3 (phía Nam thành phố): Bố trí tại Thường Tín - Phú Xuyên;

Dự kiến xây dựng Viện Pháp Y tâm thần, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương, Viện Dinh dưỡng, Viện Kiểm nghiệm VSAT thực phẩm, Viện Dược liệu - Trung tâm bảo tồn giống cây thuốc (tuyến Trung ương) và Bệnh viện Đa khoa Thường Tín, Bệnh viện Đa khoa phục hồi chức năng, Bệnh viện Răng hàm mặt Hà Nội, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội 2, Trường Cao đẳng Y dược Thường Tín và một cơ sở nghiên cứu thực nghiệm Hà Nội (tuyến thành phố)

+ Khu vực 4 (phía Tây Nam thành phố): Tại huyện Chương Mỹ;

Dự kiến xây dựng Bệnh viện Hữu nghị, Viện Da liễu quốc gia, Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, Học viện Y dược học cổ truyền (tuyến Trung ương) và Bệnh viện Đa khoa Chương Mỹ, Bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Da liễu Hà Đông, Bệnh viện Mắt Hà Đông, Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, Trường kỹ thuật thực hành y tế Chương Mỹ (tuyến thành phố).

+ Khu vực 5 (phía Bắc thành phố): bố trí tại Sóc Sơn và Mê Linh (gần trục đường Bắc Thăng Long - Nội Bài).

Dự kiến xây dựng Bệnh viện Mắt Trung ương, Viện Y học lâm sàng và các bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Quốc tế kỹ thuật cao, Viện Châm cứu quốc gia và Trung tâm đào tạo kỹ thuật viên châm cứu (tuyến Trung ương) và Bệnh viện Đa khoa Mê Linh, Bệnh viện Dưỡng lão, Bệnh viện Tim Hà Nội 2, Bệnh viện Đa khoa Bắc sông Hồng (tuyến thành phố).

Ngoài ra tiếp tục triển khai xây dựng các bệnh viện trung ương, thành phố, cơ sở đào tạo tại các vị trí đã được quy hoạch như Bệnh viện đa khoa Hoà Lạc (tại huyện Thạch Thất). Dự kiến xây dựng Bệnh viện đa khoa khu vực tại các huyện xa trung tâm như Ba Vì, Mỹ Đức, Phú Xuyên...

- Khuyến khích, tạo điều kiện xây dựng các bệnh viện ngoài công lập. Mở rộng mô hình bệnh viện liên doanh hay bệnh viện 100% vốn nước ngoài.

- Hiện đại hoá các kỹ thuật xét nghiệm y tế để đáp ứng tốt nhất nhu cầu phòng bệnh, KCB. Thành lập một labo xét nghiệm trung tâm của y tế thành phố được trang bị đầy đủ các máy móc, thiết bị hiện đại, đủ khả năng phân tích mẫu vật, bệnh phẩm, các yếu tố môi trường xung quanh... với độ chính xác cao, đạt trình độ quốc tế, hạn chế từng bước việc gửi mẫu vật ra nước ngoài xét nghiệm rất tốn kém và không kịp thời như hiện nay.

- Kế thừa, phát triển y học cổ truyền, tăng cường sản xuất thuốc và nguyên liệu thuốc YHCT để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

- Tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh theo hướng thúc đẩy xã hội hoá, đa dạng hoá các nguồn lực; kết hợp giữa công lập và ngoài công lập.

Chuyển đổi theo hình thức cổ phần hoá hoặc tư nhân hoá một số cơ sở khám chữa bệnh hiện nay hoạt động không hiệu quả, hiệu suất sử dụng giường bệnh thấp (như một số PKĐK khu vực, nhà hộ sinh...) với phương châm ưu tiên về vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng. Phát triển hệ thống bác sỹ gia đình.

Mở rộng hợp tác quốc tế về y tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực đào tạo, ứng dụng khoa học công nghệ mới trong y học, phát triển các cơ sở khám chữa bệnh hiện đại.

          5. Thể dục, thể thao

          Xây dựng Hà Nội trở thành thành phố hàng đầu có nền thể dục thể thao tiên tiến, vừa quan tâm phát triển TDTT quần chúng, vừa chú trọng thể thao thành tích cao đạt trình độ cao trong khu vực và tiếp cận trình độ châu lục và thế giới. Phát triển mạnh các môn thể thao truyền thống gắn với mở rộng một số môn thể thao của khu vực.

          Phát triển mạnh thể thao phong trào, tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện theo gương Bác Hồ vĩ đại” với các tiêu chí, nội dung và phương thức tổ chức mới, phù hợp với điều kiện về kinh tế - xã hội trên các địa bàn của thành phố. Nâng cao công tác giáo dục thể chất trong nhà trường, rèn luyện chiến sĩ khỏe theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, rèn luyện thể lực với chất lượng ngày càng cao. Phấn đấu nâng tỷ lệ dân số tham gia luyện tập thể dục thể thao th­ường xuyên lên 40-45% năm 2015 và giữ vững ở mức trên.

          Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mạng lưới các công trình TDTT theo quy hoạch, tạo điều kiện cho phát triển thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao, khai thác và sử dụng có hiệu quả các công trình TDTT.

Hoàn thiện các Khu liên hợp thể dục thể thao Quốc gia và của Thành phố tại Mỹ Đình, Nhổn, các trung tâm đào tạo VĐV cao cấp; các Trung tâm TDTT các quận, huyện. Đầu tư phát triển công trình thể thao khác để đến năm 2018 đăng cai Đại hội Thể dục thể thao Châu Á.

          6. Khoa học và công nghệ

Nâng cao tiềm lực KH-CN của Thủ đô, phấn đấu để Hà Nội thực sự là trung tâm khoa học và công nghệ lớn của cả nước, tiến tới là trung tâm khoa học và công nghệ của khu vực Đông Nam Á trong một số lĩnh vực. Chú trọng chuyển giao công nghệ nguồn thông qua hợp tác quốc tế. Tăng cường hợp tác về KH-CN giữa Hà Nội với Thủ đô các nước.

Xây dựng và phát triển thị trường KH-CN. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của các công trình nghiên cứu, đưa nhanh tiến bộ KH-CN vào sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; gắn với xây dựng kinh tế tri thức.

Tăng cường nghiên cứu phổ biến và ứng dụng chuyển giao KH&CN để phục vụ trực tiếp cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô. Chú trọng các ngành sử dụng công nghệ cao. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng gắn với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm, trực tiếp là nhu cầu của các doanh nghiệp và các cơ sở ứng dụng khác.

Đẩy nhanh các chương trình sản phẩm của Hà Nội: các sản phẩm này hội tụ được nhiều ngành chuyên môn sâu để có thể tạo ra những công nghệ, dây chuyền, thiết bị đồng bộ, cụ thể: Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tạo sản phẩm mới có sức cạnh tranh; Chương trình ứng dụng chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố; Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị; Hỗ trợ về công nghệ cho việc sản xuất những dây chuyền phục vụ các lĩnh vực công cộng của Thành phố; Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành doanh nghiệp.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng KH&CN:

+ Đầu tư xây dựng Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm.

+ Đầu tư xây dựng Trung tâm tư vấn và giám định công nghệ.

+ Dự án đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện nhằm nâng cao năng lực hoạt động của Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng.

+ Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội.

+ Trung tâm giao dịch công nghệ thường xuyên.

Thành lập khu công nghệ cao của Hà Nội. Nghiên cứu, quy hoạch xây dựng một số khu đô thị khoa học, tổ hợp khoa học - sản xuất, vườn ươm công nghệ, doanh nghiệp công nghệ, trung tâm dự báo nguồn nhân lực, trường đại học, trường phổ thông, bệnh viện trọng điểm, trung tâm văn hóa nghệ thuật với trang thiết bị máy móc đồng bộ, hiện đại để thúc đẩy hoạt động sáng tạo của trí thức trong và ngoài nước.

          7. Quốc phòng, an ninh

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân của Thủ đô vững mạnh toàn diện. Làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra, bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội. Xây dựng lực lượng vũ trang mạnh cả về đội ngũ cán bộ, chiến sỹ và cơ sở vật chất (trang thiết bị, phương tiện...). Củng cố, nâng cao tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ và tiềm lực quân sự của Thủ đô.

Xây dựng quy hoạch thế trận quân sự của Thành phố Hà Nội, hàng năm tổ chức xây dựng theo quy hoạch, trước hết là những khu vực trọng điểm theo phương án phòng thủ của Thành phố. Xây dựng quy hoạch bố trí quốc phòng kết hợp với kinh tế của Thủ đô. Thường xuyên coi trọng kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng trong xây dựng, thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, các dự án của các ngành, các cấp.

Xây dựng lực lượng và bảo đảm trang bị, cơ sở vật chất cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang, công tác phòng cháy chữa cháy, phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, phòng thủ dân sự. Xây dựng lực lượng vũ trang Thủ đô, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an nhân dân “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ “Vững mạnh, rộng khắp” đủ sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng - An ninh của Thủ đô. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan Trung ương, Thành phố, các sự kiện chính trị quan trọng trên địa bàn Thủ đô.

Xây dựng, thực hiện quy hoạch động viên Quân đội, động viên nền kinh tế quốc dân đáp ứng nhu cầu quốc phòng. Xây dựng lực lượng dự bị động viên (quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật) bảo đảm yêu cầu: số lượng đủ, chất lượng cao, thời gian nhanh, an toàn, bí mật. Bảo vệ chặt chẽ các công trình quốc phòng và khu quân sự.

Xây dựng Thành phố Hà Nội thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới.

Tiếp tục đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của mọi công dân. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất bảo đảm công tác giáo dục quốc phòng - an ninh cho các đối tượng, nhất là cho học sinh, sinh viên. Hoàn thành xây dựng trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh của Thành phố trước năm 2015.

Xây dựng và phát động sâu rộng Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, giữ vững ổn định chính trị và bảo vệ an toàn Thủ đô trong mọi tình huống.

Quy hoạch, dành đất cho công tác đảm bảo an ninh trật tự (trụ sở an ninh, điểm cứu hộ...), các điểm phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy gần các trung tâm chính trị, kinh tế, các khu công nghiệp, khu du lịch.

 

VII. KẾT CẤU HẠ TẦNG

          1. Mạng lưới giao thông

1.1 Định hướng chung

- Phát triển giao thông phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và điều tiết tốt đối với các vùng xung quanh, thực hiện sự liên kết kinh tế giữa Hà Nội với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là với vùng đô thị Thủ đô và các trung tâm thương mại, du lịch, giao lưu quốc tế, kết nối tốt đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh.

- Phát triển giao thông đi trước một bước, là tiền đề và động lực phát triển kinh tế - xã hội và đô thị.

- Giải quyết ách tắc giao thông với xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bền vững lâu dài, để Hà Nội nhanh chóng đạt được trình độ văn minh, hiện đại như Thủ đô các nước trong khu vực. Nhanh chóng đầu tư xây dựng các tuyến vận tải công cộng khối lượng lớn như đường sắt trên cao, tầu điện ngầm.

- Huy động đa dạng các nguồn vốn vào phát triển mạng lưới giao thông, đặc biệt là nguồn vốn từ quỹ đất.

- Quỹ đất dành cho giao thông đô thị chiếm 18-20% diện tích đất đô thị (trong đó giao thông tĩnh 4-6%), riêng ở các quận nội thành đạt khoảng 10-12%. Chú trọng phát triển các công trình ngầm, hệ thống đường trên cao, tăng diện tích giao thông tĩnh.

- Tổ chức quản lý giao thông đô thị một cách khoa học, sử dụng công nghệ và các trang thiết bị hiện đại. Nâng cấp, mở rộng trung tâm điều khiển giao thông của Thủ đô Hà Nội.

1.2 Phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

a) Mạng lưới đường bộ

- Các quốc lộ và cao tốc hướng tâm:

+ Cải tạo, mở rộng các quốc lộ hướng tâm hiện tại lên thành đường có 4 đến 6 làn xe cơ giới, gồm: quốc lộ 1A (đoạn Hà Nội - Thường Tín và Cầu Đuống - Bắc Ninh); quốc lộ 6 (đoạn Hà Nội - Hoà Bình); quốc lộ 32 (đoạn Hà Nội - Sơn Tây); quốc lộ 2 (đoạn Nội Bài - Vĩnh Yên); quốc lộ 3 (đoạn từ thị trấn Đông Anh).

Phối hợp với tỉnh Phú Thọ nghiên cứu xây dựng các cầu qua sông Hồng kết nối đường 32C, cầu qua sông Đà kết nối với đường Láng - Hoà Lạc - Hoà Bình, với đường 316, quốc lộ 32A với các tỉnh vùng Tây Bắc.

+ Xây dựng các đường cao tốc song hành với các quốc lộ có lưu lượng lớn, theo các hướng: Hà Nội - Lạng Sơn; Pháp Vân - Giẽ - Thanh Hóa; Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Việt Trì - Lào Cai; Hà Nội - Thái Nguyên; Nội Bài - Hạ Long; Láng - Hoà Lạc.

- Vành đai giao thông đô thị:

+ Vành đai II: Cải tạo, mở rộng, xây dựng mới theo trục Vĩnh Tuy - Minh Khai - Ngã Tư Vọng - Ngã Tư Sở - Cầu Giấy - Bưởi - Nhật Tân - Vĩnh Ngọc - Đông Hội - cầu chui Gia Lâm - khu công nghiệp Hanel - Vĩnh Tuy thành đường đô thị 4 ¸ 8 làn xe.

+ Vành đai III: vành đai III có chiều dài khoảng 65 km, đoạn Nội Bài - Mai Dịch - Thanh Xuân - Pháp Vân - cầu Thanh Trì cấu thành bởi đường đô thị hai bên kết hợp với cao tốc đô thị ở giữa. Đoạn cầu Thanh Trì - Sài Đồng - Ninh Hiệp - Việt Hùng là đường cao tốc mang yếu tố đô thị. Đoạn từ Việt Hùng đến nút giao với đường Bắc Thăng Long - Nội Bài là đường phố chính. Đoạn tuyến nối giữa đường vành đai III với đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long qua các điểm khống chế Ninh Hiệp, Đường Yên, Đồng Xuân là đường cao tốc với chiều dài 8,5 km. Mặt cắt ngang của đường vành đai III và đoạn Ninh Hiệp - Đường Yên - Đồng Xuân bảo đảm 6 ¸ 8 làn xe. Các cầu lớn gồm cầu Thanh Trì (vượt sông Hồng) và cầu Phù Đổng 2 (vượt sông Đuống).

Xây dựng đường trên cao theo đường vành đai III đoạn Mai Dịch - Pháp Vân.

Hoàn chỉnh xây dựng đường vành đai 2,5; triển khai xây dựng đường vành đai 3,5.

- Vành đai giao thông liên vùng:

+ Vành đai giao thông đối ngoại (vành đai IV): xây dựng mới đường vành đai giao thông kết nối các tuyến quốc lộ và cao tốc hướng tâm, nối các khu công nghiệp, khu đô thị liền kề Thủ đô Hà Nội, quy mô 6 ¸ 8 làn xe.

+ Vành đai liên kết các đô thị vệ tinh xung quanh Hà Nội (vành đai V): quy hoạch, xây dựng đường vành đai liên kết các đô thị vệ tinh xung quanh Hà Nội.

 - Các tuyến đường quan trọng khác:

+ Xây dựng cầu Vĩnh Thịnh, Quốc lộ 2C

+ Xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn Hoà Lạc - Cầu Cời theo tiêu chuẩn tiền cao tốc.

+ Xây dựng đoạn Sơn Tây - Xuân Mai quốc lộ 21 đạt cấp 1 đường đô thị.

+ Nâng cấp đường 70.

- Các trục chính đô thị và khu vực phía Tây Hà Nội:

Mở rộng, kết hợp xây dựng mới các trục chính đô thị của Thủ đô bao gồm cả phía Nam và Bắc sông Hồng nhằm tạo thành các luồng hành khách chủ yếu trong đô thị Hà Nội, kết nối trung tâm Hà Nội với các đô thị mới, các khu đô thị mới, các trục của khu vực Hà Tây cũ. Xây dựng hệ thống đường trên cao.

Các trục đô thị quan trọng bao gồm:

+ Đường Lê Văn Lương kéo dài.

+ Đường 5 kéo dài.

+ Đường Hoàng Quốc Việt kéo dài đoạn qua địa phận các huyện Đan Phượng, Phúc Thọ, Sơn Tây.

+ Trục phát triển Sơn Tây - Thạch Thất - Quốc Oai - Xuân Mai - Miếu Môn.

+ Đường Tế Tiêu - Yến Vĩ.

+ Đường Đỗ Xá - Quan Sơn.

+ Đường trục Bắc - Nam tỉnh Hà Tây cũ.

- Các nút giao thông:

Cải tạo và xây dựng mới các nút giao lập thể trên các đường vành đai và trục chính đô thị, các đường cao tốc song hành.

- Các cầu đường bộ vượt sông Hồng và sông Đuống:

+ Các cầu vượt sông Hồng: Hoàn thành xây dựng cầu Nhật Tân (trên đường vành đai II). Đầu tư xây dựng mới các cầu trên đường vành đai IV và V là cầu Hồng Hà, cầu Mễ Sở, cầu Vĩnh Thịnh, cầu Tứ Liên.

+ Các cầu vượt sông Đuống: Hoàn thành xây dựng cầu Đông Trù, đầu tư xây dựng mới cầu Thạch Cầu, cầu Đuống (mới), cầu Phù Đổng II và cầu Đuống trên vành đai IV.

- Mạng lưới đường bộ khu vực

Hoàn thành nâng cấp, mở rộng trục Đông - Tây (đường vành đai 1 cũ). Nâng cấp, tăng cường quản lý, khai thác các đường phố chính, đường gom và đường phố nội bộ.

Xây dựng mạng lưới giao thông theo dạng ô bàn cờ tại các khu vực phát triển mới.

- Bố trí bến, bãi đỗ xe:

Nâng cấp, mở rộng các bến xe đối ngoại, mạng lưới các điểm đỗ xe và bãi đỗ xe công cộng, bến xe tại các đô thị vệ tinh, thị trấn. Xây dựng hệ thống bãi đỗ xe ngầm, trên cao (nhiều tầng) tại khu vực nội thành.

- Xây dựng các cầu vượt cho người đi bộ.

b. Đường sắt

- Đường sắt quốc gia:

+ Đường sắt hướng tâm: bao gồm các tuyến Yên Viên - Lạng Sơn; Yên Viên - Bãi Cháy; Cổ Bi - Hải Phòng; Ngọc Hồi - thành phố Hồ Chí Minh; Bắc Hồng - Lào Cai; Đông Anh - Thái Nguyên. Xây dựng thành đường sắt đôi, trước mắt là đối với các đoạn nối liền Hà Nội với các đô thị vệ tinh có bán kính 50 km ¸ 70 km quanh trung tâm Hà Nội để sử dụng cho giao thông liên tỉnh và giao thông quốc gia. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Hà Nội sẽ có thêm tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam.

+ Đường sắt vành đai: xây dựng mới đoạn phía Đông (Đông Anh - Cổ Loa - Yên Viên - Trung Mầu - Như Quỳnh - Tân Quang - Văn Giang - Ngọc Hồi); hoàn chỉnh đường sắt vành đai theo tiêu chuẩn đường đôi khổ lồng 1.435/1.000 mm.

+ Đường sắt xuyên tâm: Yên Viên - Long Biên - ga Hà Nội - Văn Điển - Ngọc Hồi.

+ Các nhà ga chính: trên đường sắt vành đai sẽ hình thành các ga khách đầu mối tại Phú Diễn (ga phía Tây), Yên Viên (ga phía Bắc), Như Quỳnh (ga phía Đông), Ngọc Hồi (ga phía Nam). Ga hàng hoá được bố trí tại các khu vực Bắc Hồng, Yên Viên, Cổ Bi (sau này là Như Quỳnh), Ngọc Hồi.

Ga Hà Nội là ga hành khách trung tâm của tuyến đường sắt quốc gia và đường sắt liên vận, đồng thời cũng là ga trung chuyển đa phương thức giữa các tuyến đường sắt đô thị với các tuyến vận tải hành khách công cộng khác.

- Đường sắt đô thị và xe buýt nhanh:

Hệ thống đường sắt đô thị (bao gồm cả chạy ngầm và đi trên cao) của thành phố Hà Nội sẽ đóng vai trò chính trong hệ thống vận tải hành khách công cộng tốc độ cao, khối lượng lớn, có chức năng gắn kết với các khu đô thị, khu công nghiệp, các trung tâm thương mại - dịch vụ - du lịch, trường học. Đồng thời các tuyến đường sắt đô thị phải gắn kết với nhau, hình thành mạng lưới bao quát các khu vực đô thị quan trọng của Hà Nội.

Mạng lưới đường sắt đô thị của Hà Nội bao gồm các tuyến:

+ Tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên, Như Quỳnh): tuyến này phục vụ các khu vực ngoại thành phía Đông Bắc và phía Nam Hà Nội đi qua khu vực trung tâm thành phố.

+ Tuyến số 2 (Nội Bài - trung tâm thành phố - Thượng Đình): dài khoảng 35,2 km, là xương sống cho khu vực đô thị hiện tại và tương lai.

Kết nối với tuyến số 2 có tuyến đường sắt đô thị Hà Nội - Hà Đông, bắt đầu tại khu vực Cát Linh (giao với tuyến số 3) đi Hà Đông - Ba La. Sau năm 2020 sẽ phát triển tuyến này tới Xuân Mai.

+ Tuyến số 3 (Nhổn - ga Hà Nội - Hoàng Mai): tuyến số 3 nối khu vực phía Tây với trung tâm thành phố và khu vực phía Nam thành phố. Sau năm 2020 sẽ phát triển tuyến số 3 lên tới Sơn Tây.

+ Tuyến số 4 (Đông Anh - Sài Đồng - Vĩnh Tuy/Hoàng Mai - Thanh Xuân - Từ Liêm - Thượng Cát - Mê Linh): tuyến có dạng vòng tròn, kết nối với các tuyến số 1, số 2, số 3 và số 5.

+ Tuyến số 5 (Nam Hồ Tây - Ngọc Khánh - Láng - Hòa Lạc): là tuyến này có chức năng kết nối trung tâm thành phố Hà Nội với các khu đô thị dọc theo hành lang Láng - Hòa Lạc.

Nghiên cứu xây dựng tuyến Nội Bài - Phú Diễn - Hà Đông - Ngọc Hồi (trên cơ sở tuyến đường sắt vành đai phía Tây), tuyến Mê Linh - Đô thị mới Nhổn, Vân Canh, Dương Nội (kết nối chuỗi đô thị mới phía Đông vành đai 4), tuyến Mai Dịch - Vành đai 3 - Lĩnh Nam - Dương Xá (kết nối chuỗi đô thị vành đai 3).

c. Đường sông

Giao thông đường sông khu vực Hà Nội gồm 4 tuyến chính là tuyến trên sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy và sông Nhuệ. Ngoài ra, dự kiến mở thêm một số tuyến vận tải khu vực chùa Hương, Ba Vì và du lịch trên các hồ lớn Quan Sơn, Đồng Mô, Suối Hai...

- Chỉnh trị, cải tạo các tuyến đường sông:

+ Đối với sông Hồng: Điều chỉnh thế sông tự nhiên về thế sông quy hoạch bằng hệ thống các công trình tác động vào dòng chảy, lòng dẫn. Xây dựng mới và nâng cấp các công trình bảo vệ bờ sông hiện có sau khi đã ổn định được thế sông. Kiến nghị nạo vét cải tạo để hoàn chỉnh tuyến sông từ Hà Nội đến cửa Đáy và Lạch Giang, đặc biệt là việc cải tạo cửa luồng từ biển vào.

Công tác cải tạo sông Hồng được kết hợp với các dự án phát triển đô thị, cải tạo môi trường và xây dựng, nâng cấp các tuyến đường bộ song hành.

+ Tuyến đường thuỷ sông Đáy: Nạo vét, xây dựng bờ sông, mở rộng khúc cong, lắp đặt hệ thống dẫn luồng, bảo trì luồng tuyến để đoạn này đạt tiêu chuẩn sông cấp 3.

+ Tuyến đường thuỷ sông Nhuệ: Đầu tư nâng cấp để đạt tiêu chuẩn sông cấp 4.

- Các bến, cảng:

Nghiên cứu phương án chuyển chức năng cảng Hà Nội hiện nay thành cảng khách và du lịch.

Nâng cấp cảng Khuyến Lương, Thanh Trì, Chèm, Hồng Vân, Sơn Tây, Vạn Điểm, Chẹ, Phù Đổng, Đức Giang.

Mở rộng bến Chèm, bến Bát Tràng. Phát triển các bến tiềm năng: Bến Vân Đình, bến Tế Tiêu, bến Ba Thá.

Nghiên cứu, xây dựng cảng mới phía Bắc (khu vực Tàm Xá), cảng mới phía Đông trên bờ sông Đuống (khu vực Phà Lời - Đằng Xá); các cảng phục vụ du lịch dọc hai bên bờ sông Hồng.

d. Hàng không

Trên địa bàn Hà Nội có cảng hàng không quốc tế Nội Bài, sân bay Gia Lâm là sân bay nội địa và sân bay Bạch Mai, Miếu Môn là sân bay chuyên dùng cho quân sự.

Đến năm 2020, cảng hàng không quốc tế Nội Bài có tổng công suất đạt 20 -25 triệu hành khách/năm, 260.000 tấn hàng hóa/năm và có diện tích dự phòng đảm bảo yêu cầu phục vụ. Định hướng cho giai đoạn sau năm 2020, cảng hàng không quốc tế Nội Bài tiếp tục hoàn chỉnh khu phía Bắc, đồng thời phát triển về phía Nam, nâng tổng công suất lên 50 triệu hành khách/năm[8].

Trong thời gian tới, tiếp tục nghiên cứu vị trí, quy mô của sân bay quốc tế thứ hai trong vùng khi sân bay Nội Bài có dấu hiệu mãn tải và dự trữ phát triển lâu dài.

          2. Hệ thống cấp điện

          - Lưới điện 500 KV

Lắp đặt thêm máy tại các trạm 500 KV Hiệp Hoà, thay máy tại trạm 500 KV Thường Tín (giai đoạn 2011-2015), xây dựng các trạm 500 KV Hoài Đức, Đông Anh (giai đoạn 2016-2020). Xây dựng đường dây 500 KV Quảng Ninh - Hiệp Hoà, Hiệp Hoà - Phố Nối (giai đoạn 2011-2015).

- Lưới điện 220 KV

Lắp đặt thêm máy 2 tại trạm 220 KV Vân Trì, An Dương, Long Biên, Sơn Tây, Xuân Mai, Thường Tín; xây dựng mới trạm 220 KV Đông Anh, Hoài Đức, Chương Mỹ (giai đoạn 2011-2015), Văn Điển, Sóc Sơn 2, Đông Anh 2 (giai đoạn 2016-2020). Xây dựng các đường dây 220 KV Hiệp Hòa (Sóc Sơn) - Đông Anh, Long Biên - Đông Anh, An Dương - Mai Động, Hoài Đức (Hà Tây) - Đông Anh.

- Phát triển các đường dây 110 KV và mạng lưới phân phối điện phù hợp với nhu cầu phụ tải ngày càng cao của các khu vực trên địa bàn thành phố.

Tiến hành ngầm hóa mạng lưới điện tại khu vực nội thành. Cải tạo lưới điện các đô thị, bảo đảm an toàn và mỹ quan đô thị. Chú trọng đầu tư các trạm biến áp và lưới điện cho các khu, cụm công nghiệp, các khu du lịch, các khu đô thị mới. Xây dựng và lắp đặt hệ thống đèn đường đảm bảo ánh sáng đô thị.

          3. Thông tin và truyền thông

Phát triển bưu chính theo hướng cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá nhằm đạt trình độ hiện đại ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực, cung cấp các dịch vụ đa dạng theo tiêu chuẩn quốc tế. Nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, kết hợp cung cấp dịch vụ công ích với dịch vụ thương mại, phát triển nhiều loại dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư nâng cấp, phát triển hệ thống bưu điện văn hóa xã, nhất là tại các khu vực khó khăn, miền núi.

Phát triển bền vững cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet của Thủ đô trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đi trước một bước, tạo động lực quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an ninh quốc phòng. Cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet được sử dụng chung hạ tầng (viễn thông, Internet, truyền hình cáp...). Phát triển đa dịch vụ, công nghệ 4G, các dịch vụ nội dung số (các hình thức thanh toán qua tin nhắn, qua môi trường mạng Internet, chữ ký điện tử...) nhằm thu hẹp khoảng cách số.

Hiện đại hoá hạ tầng thông tin và truyền thông. Đưa số máy điện thoại cố định bình quân đạt 29-31 máy/100 dân vào năm 2015 và 32-35 máy/100 dân vào năm 2020. Mật độ thuê bao Internet đạt 30-35% vào năm 2015 và 38-43% vào năm 2020. Mật độ thuê bao di động truy nhập vào mạng Internet bằng công nghệ 3G, 4G dự kiến khoảng 45-50% vào năm 2015.

Sử dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến là phương thức cung cấp thông tin và dịch vụ công trên toàn Thành phố đạt mức 3, 4 vào năm 2020 để mọi công dân của Thủ đô được thanh toán, trao đổi qua môi trường mạng (mạng Internet, 3G, 4G).

Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng hệ thống thiết bị giao ban từ Thành phố xuống cấp huyện.

Phát triển công nghiệp phần cứng, phần mềm và nội dung số. Phát triển nguồn nhân lực thông tin và truyền thông.

4. Cấp nước

          - Mục tiêu:

          Phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản tất cả dân cư được cấp nước hợp vệ sinh, trong đó bình quân cấp nước đô thị đạt 150-180 l/người.ngày đêm.

          Nâng cao chất lượng và năng lực quản lý mạng lưới cấp nước. Giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch xuống còn khoảng 24-26% vào năm 2020.

          - Nguồn nước:

          Từng bước hạn chế sử dụng nước ngầm ở khu vực trong đê, nghiên cứu khai thác nước ngầm tại khu vực bãi ngoài đê sông Hồng. Triển khai xây dựng, mở rộng các nhà máy sử dụng nước mặt: Nhà máy nước mặt sông Đà (mở rộng thêm 900.000 m3/ngđ), Nhà máy nước mặt sông Đuống (600.000 m3/ngđ), Nhà máy nước mặt sông Hồng 1 và 2 (nhà máy 1: 300.000 m3/ngđ).

          Xây dựng các trạm cấp nước nông thôn với tổng công suất khoảng 180-200 nghìn m3/ngày đêm.

          - Mạng lưới truyền dẫn và phân phối

          Xây dựng mạng lưới truyền dẫn đồng bộ, khép kín. Tiếp tục đầu tư hệ thống mạng lưới truyền dẫn và phân phối để tiếp nhận có hiệu quả nguồn nước mặt sông Đà. Hoàn thành các dự án cấp nước cho một số khu vực phía Bắc sông Hồng, một số khu vực thuộc quận Hà Đông, thị xã Sơn Tây, huyện Từ Liêm.

          Đầu tư hệ thống cấp nước cho một số khu vực phía Tây thành phố, các khu đô thị mới, các đô thị vệ tinh.

          Tiếp tục cải tạo hệ thống đường ống cũ, lắp đặt đồng hồ và tăng cường quản lý chặt chẽ, xử lý nghiêm các vi phạm nhằm giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch.

          Xây dựng, cải tạo mạng lưới truyền dẫn, phân phối để cấp nước cho các cụm dân cư khu vực nông thôn.

          5. Thủy lợi, thoát nước và xử lý nước thải

          a) Thủy lợi và thoát nước       

          - Hoàn thành Dự án 2 - Dự án thoát nước nhằm cải thiện môi trường Hà Nội cho khu vực nội thành Hà Nội cũ (lưu vực sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch). Cải tạo các tuyến sông, mương thoát nước trong khu vực nội thành.

- Triển khai dự án thoát nước lưu vực sông Nhuệ, dự án thoát nước cho khu vực phát triển đô thị nằm giữa lưu vực Hữu Nhuệ và Tả Đáy.

Trong giai đoạn trước mắt tập trung nạo vét sông Nhuệ, chỉnh trang sông Nhuệ đoạn Liên Mạc - Hà Đông, nâng cấp đê sông Nhuệ. Xây dựng mới trạm bơm Yên Nghĩa công suất 120 m3/s, trạm bơm Liên Mạc giai đoạn 1, trạm bơm Yên Sở 2 công suất 45 m3/s, trạm bơm Đông Mỹ công suất 35 m3/s.

- Đầu tư cho hệ thống thoát nước mưa khu vực quận Long Biên và Bắc Thăng Long - Vân Trì thuộc huyện Đông Anh.

          - Xây dựng các hồ điều hòa kết hợp với công viên, cây xanh.

- Phối hợp với Trung ương và các địa phương trong vùng thực hiện Đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ, sông Đáy; các đề án cải tạo đê điều, hệ thống thoát lũ, các dự án ổn định dòng sông. Hoàn thành nghiên cứu dự án và triển khai cải tạo sông Hồng nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả đất đai, sắp xếp lại dân cư khu vực ngoài đê sông Hồng.

          - Xây dựng các hệ thống tưới và tiêu cho các vùng chuyên canh.

b) Xử lý nước thải

          Xây dựng các hệ thống thu gom nước thải riêng và các trạm xử lý nước thải cục bộ, trước mắt tại các khu đô thị mới.

          Triển khai và hoàn thành các dự án xử lý nước thải tập trung quy mô lớn: Dự án nhà máy xử lý nước thải Yên Sở (công suất 200.000 m3/ngày đêm), Yên Xá (270.000 m3/ngày đêm), Phú Đô (84.000 m3/ngày đêm).

Đầu tư xây dựng các trạm xử lý nước thải cho các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề, các đô thị vệ tinh.

          6. Xử lý chất thải rắn

Tổ chức tốt công tác thu gom, vận chuyển, chôn lấp và xử lý rác thải trên địa bàn theo hướng văn minh, hiện đại, hạn chế không để rác tồn đọng qua ngày.

- Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ rác thải được thu gom và xử lý trong ngày đạt 100%. Tuyên truyền, giáo dục người dân phân loại rác tại nguồn.

Đầu tư công nghệ tái chế, xử lý rác thải theo công nghệ mới, tiên tiến. Tăng tỷ lệ rác thải được xử lý, giảm dần tỷ lệ rác thải chôn lấp xuống còn khoảng 30% đến năm 2020.

Hoàn thành khu xử lý chất thải rắn Nam Sơn (giai đoạn II); khu xử lý rác thải Núi Thoong (huyện Chương Mỹ), khu xử lý rác thải Sơn Tây (giai đoạn II). Xây dựng các khu xử lý chất thải rắn Phù Đổng (Gia Lâm), Khu XLCTR Kiêu Kỵ, Nhà máy XLCTR Cầu Diễn, Nhà máy phân hữu cơ Núi Thoong, Nhà máy phân hữu cơ Cao Dương, Khu XLCTR An Phú, Nhà máy XLCTR Tiến Sơn, Khu XLCTR Đồng Ké.

Phối hợp với các tỉnh lân cận và Bộ, ngành Trung ương đầu tư  xây dựng các khu liên hợp xử lý rác phục vụ liên tỉnh.

Các quận, huyện phối hợp với các Sở, ngành nghiên cứu, chuẩn bị địa điểm xây dựng các khu, nhà máy xử lý rác thải tại chỗ, quy mô nhỏ, tránh tình trạng vận chuyển rác thải từ địa phương này sang địa phương khác.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải.

          7. Nghĩa trang

Xây dựng các nhà tang lễ trên địa bàn quận, huyện của Thành phố. Tuyên truyền, khuyến khích các hình thức mai táng sử dụng công nghệ mới, bảo đảm vệ sinh môi trường và tiết kiệm đất. Đầu tư một số cơ sở hỏa táng.

Nghiên cứu quy hoạch, xây dựng các nghĩa trang quy mô nhỏ trên địa bàn các huyện dưới hình thức công viên - nghĩa trang. Di dời các nghĩa trang nhỏ nằm lẫn trong các khu dân cư, khu đô thị mới.

Mở rộng nghĩa trang Yên Kỳ, Thanh Tước, Sóc Sơn. Xây dựng mới nghĩa trang Mai Dịch II.

Quy hoạch, xây dựng các nghĩa trang - công viên quy mô lớn, có kiến trúc, cảnh quan đẹp, môi trường sinh thái đảm bảo. Các nghĩa trang được mở rộng, xây mới dưới hình thức xã hội hoá, có sự tham gia của khu vực doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư chủ yếu vẫn là vốn ngân sách nhà nước.

 VIII. PHÂN KHU CHỨC NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU VỰC

          1. Phân khu chức năng

          Dự kiến tổ chức không gian Hà Nội thành các khu vực như sau:

+ Khu nội đô lịch sử: Giới hạn từ phía Nam sông Hồng đến đường vành đai 2;

+ Khu nội đô mở rộng: Giới hạn từ đường vành đai 2 đến sông Nhuệ;

+ Khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng: Giới hạn từ sông Nhuệ đến đường vành đai 4;

+ Khu vực mở rộng phía Bắc sông Hồng: Giới hạn đến Nam sông Cà Lồ;

+ Khu vực ngoại thành.

2. Định hướng phát triển các khu vực

          Dự kiến các chức năng và định hướng phát triển các khu vực như sau:

a) Khu nội đô lịch sử (Giới hạn từ phía Nam sông Hồng đến đường vành đai 2):

Bảo tồn, tôn tạo khu phố cổ và khu phố cũ (Pháp) tạo cho thành phố cảnh quan và không gian sống độc đáo với nhiều nét văn hoá truyền thống. Triển khai các dự án trùng tu, nâng cấp, cải tạo các công trình cổ, các công trình kiến trúc kiểu Pháp.

Hoàn thiện hệ thống các trung tâm công cộng bao gồm trung tâm thành phố hiện có như trung tâm hành chính - chính trị quốc gia Ba Đình, trung tâm hành chính - chính trị của thành phố tại khu vực hồ Hoàn Kiếm.

Cải tạo các khu chung cư cũ theo hướng không tăng mật độ dân số và mật độ xây dựng, tăng diện tích cây xanh và các công trình hạ tầng xã hội. Chỉnh trang các khu dân cư tự phát với nhà hình ống, làm mất mỹ quan đô thị. Điều chỉnh các chức năng sử dụng đất, di dời các cơ sở sản xuất, cơ sở đào tạo, y tế không phù hợp ra bên ngoài.

b) Khu nội đô mở rộng (Giới hạn từ đường vành đai 2 đến sông Nhuệ):

Đây là khu vực phát triển các khu đô thị mới, các trung tâm văn hóa, dịch vụ - thương mại cấp thành phố có chất lượng cao, kiến trúc hiện đại. Đồng thời là khu vực chính thu hút dân từ nội đô lịch sử tới. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng đô thị đồng bộ hiện đại, chỉnh trang kiến trúc một số khu dân cư và làng xóm ven đô trong quá trình mở rộng đô thị.

c) Khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng (từ sông Nhuệ đến đường vành đai 4):

Khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng bao gồm chuỗi các đô thị: Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Đông, Thanh Trì, được ngăn cách với khu vực nội đô bằng vùng đệm vành đai xanh sông Nhuệ. Đây là khu vực phát triển dân cư mới cao tầng đồng bộ và hiện đại, các trung tâm văn hóa, dịch vụ thương mại, tài chính của vùng, quốc gia.

d) Khu vực mở rộng phía Bắc sông Hồng (đến Nam sông Cà Lồ):

Khu đô thị Long Biên - Gia Lâm - Yên Viên: phát triển dịch vụ thương mại, giáo dục, trung tâm y tế... gắn với các ngành công nghiệp công nghệ cao theo hướng các quốc lộ 5 và quốc lộ 1. 

Khu đô thị Đông Anh: phát triển thương mai giao dịch quốc tế, công nghiệp kỹ thuật cao, du lịch sinh thái, giải trí gắn với bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá truyền thống khu di tích Cổ Loa, sông Thiếp và đầm Vân Trì; hình thành khu thể thao mới thành phố Hà Nội, trung tâm triển lãm, thương mại Hà Nội và khu vui chơi giải trí của Thành phố.

Khu đô thị Mê Linh - Đông Anh: phát triển dịch vụ và các ngành công nghiệp sạch, kỹ thuật cao gắn với dịch vụ hàng không, sân bay Nội Bài, trung tâm trưng bày, hội chợ hoa Thăng Long - Mê Linh và trung tâm khoa học - công nghệ chuyên ngành hoa và cây cảnh.

e) Đối với khu vực ngoại thành

- Hình thành các vành đai cây xanh gắn với phát triển các công viên sinh thái quy mô lớn. Thiết lập không gian xanh nối từ Cổ Loa qua sông Hồng đến hồ Tây lên Sơn Tây. Khai thác có hiệu quả vùng đồi núi để trồng cây xanh, bảo vệ tốt rừng tại khu vực Sóc Sơn, Ba Vì kết hợp với phát triển du lịch.

Hình thành các vành đai cây xanh bao quanh Thủ đô Hà Nội: rừng Sóc Sơn - hồ Đại Lải - Đồng Mô - Ngải Sơn - Ba Vì - Chùa Hương.

Phát triển các dải cây xanh theo các dòng sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống... để tạo sự lưu thông không khí tốt trên phạm vi toàn Thủ đô Hà Nội.

- Phát triển các vùng rau, hoa cây cảnh cao cấp, thực phẩm sạch. Nhân rộng các mô hình các khu nông nghiệp công nghệ cao đã và đang hình thành tại Gia Lâm, Đông Anh, Mê Linh.

- Hình thành các khu du lịch sinh thái quy mô lớn tại khu vực Ba Vì, Sóc Sơn, Hương Sơn - Quan Sơn. Gắn phát triển du lịch với tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân khu vực phụ cận.

- Phát triển hệ thống các đô thị vệ tinh, dải đô thị vệ tinh.

- Phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Đầu tư công nghiệp chế biến, giết mổ gia súc, gia cầm, chế biến rau quả; mở rộng hệ thống thương mại, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh, tổ chức hoạt động có hiệu quả các chợ đầu mối, sắp xếp hệ thống chợ nông thôn, khôi phục và mở rộng các làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch làng nghề.

- Nâng cấp, mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo sự liên kết hợp lý về cơ sở hạ tầng giữa nội thành và ngoại thành, tập trung vào mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, xử lý chất thải.

- Nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của nhân dân ngoại thành. Cải thiện từng bước nhà ở ngoại thành. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, kiến trúc xây dựng ở nông thôn cho phù hợp với quá trình đô thị hoá; kết hợp hài hoà giữa nét đẹp truyền thống của làng xóm với tính hiện đại của nông thôn đô thị.

3. Định hướng sử dụng đất

a) Phương hướng chung

- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả quỹ đất trên địa bàn thành phố, kể cả khu vực đô thị và nông thôn.

- Hạn chế đến mức thấp nhất chuyển đổi đất nông nghiệp trồng 2 vụ lúa sang phát triển các khu công nghiệp, sân golf, các khu đô thị.

- Huy động cao nhất nguồn lực từ quỹ đất để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố. Thực hiện từng bước, tiến tới chủ động công tác giải phóng mặt bằng theo quy hoạch, tạo quỹ đất sạch để phát triển kinh tế - xã hội.

- Đối với đất nông nghiệp, triển khai lập quy hoạch những vùng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao và đầu tư hệ thống hạ tầng hiện đại để phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch.

b) Dự kiến quy mô một số loại đất

- Đất nông nghiệp: Do tốc độ đô thị hóa cao, đất nông nghiệp sẽ giảm dần, dự kiến đến năm 2020 còn khoảng 130 nghìn ha.

- Đất xây dựng đô thị: Dự kiến đất xây dựng đô thị đến năm 2020 khoảng 73-74 nghìn ha (bình quân 160 m2/người); trong đó đất ở khoảng 17-18 nghìn ha, đất giao thông 11-12 nghìn ha.

- Đất khu, cụm công nghiệp tập trung: Dự kiến đến năm 2020 diện tích đất các khu công nghiệp tập trung khoảng 6.800 ha, đất các cụm công nghiệp khoảng 3.100 ha.

 

Theo dõi chúng tôi