BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TP HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 ( PHẦN 3 VÀ PHỤ LỊC I,II,III,IV)

 
BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TP HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 ( PHẦN 3 VÀ PHỤ LỊC I,II,III,IV)

Tác giả:

Nhà xuất bản: --

Mã sách: QHTTKTXH3

 

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030


Tài liệu gồm 2 phần:

Phần 1: Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 (phần 1,2).

Phần 2: Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 (phần 3 và phụ lục I,II,II,IV).

Phần 3: Mục lục tổng thể báo cáo.


 

PHẦN THỨ BA - CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH VÀ KIẾN NGHỊ

I. GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ

1. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư

2. Các giải pháp huy động vốn

II. CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH

III. MỞ RỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ

IV. TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC, PHỐI HỢP VỚI CÁC BỘ, NGÀNH TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VÀ NGOÀI VÙNG

V. NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH

VII. KIẾN NGHỊ VỚI TRUNG ƯƠNG

PHỤ LỤC I - CÁC YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC

I. CÁC YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN

1. Vị trí địa kinh tế

2. Khí hậu

3. Địa hình

4. Tài nguyên nước

5. Tài nguyên đất và thực trạng sử dụng đất

6. Tài nguyên rừng

7. Tài nguyên khoáng sản

8. Tài nguyên du lịch

9. Dân số, lao động

II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC

1. Công nghiệp

2. Dịch vụ

3. Nông lâm thủy sản

4. Các lĩnh vực xã hội và khoa học - công nghệ

5. Kết cấu hạ tầng

6. Hiện trạng môi trường

PHỤ LỤC II - TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH QUỐC TẾ, TRONG NƯỚC ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

I. TÁC ĐỘNG BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC

1. Bối cảnh quốc tế

2. Bối cảnh khu vực

3. Vai trò của các đô thị lớn ngày càng tăng trong thế giới hiện đại

II. TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH TRONG NƯỚC

1. Bối cảnh trong nước

2. Bối cảnh trong vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và vùng Kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Bắc Bộ

PHỤ LỤC III - CÁC PHƯƠNG ÁN TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

I. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

II. YÊU CẦU ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG CỦA HÀ NỘI

1. Tạo việc làm

2. Đảm bảo là đầu tàu tăng trưởng

3. Các yếu tố khác

III. CÁC PHƯƠNG ÁN TĂNG TRƯỞNG

1. Phương án 1

2. Phương án 2

3. Phương án 3

PHỤ LỤC IV - CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ


 

PHẦN THỨ BA

CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH VÀ KIẾN NGHỊ

I. GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ

            1. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư

            Để đảm bảo phát triển theo định hướng như trên, dự kiến nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội của Hà Nội khoảng 1.400-1.500 nghìn tỷ đồng theo giá thực tế (tương ứng khoảng 69-70 tỷ USD) thời kỳ 2011-2015 và khoảng 2.500-2.600 nghìn tỷ đồng theo giá thực tế thời kỳ 2016-2020 (tương đương khoảng 110-112 tỷ USD).

Về cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn, dự kiến đầu tư từ ngân sách Nhà nước và tín dụng đầu tư sẽ giảm dần, tăng nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp, của dân cư và tư nhân. Trong bối cảnh chung của khu vực và quốc tế, ưu tiên dành cho các nước có mức thu nhập trung bình về ODA sẽ có xu thế giảm, song FDI vào Hà Nội sẽ tăng dần.

Biểu 9. Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tư

 

Chỉ tiêu

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn 2016-2020

Ngàn tỷ VNĐ

Tỷ USD

Ngàn tỷ VNĐ

Tỷ USD

I.  Tổng nhu cầu vốn (giá  thực tế)

1.400-1.500

69-70

2.500-2.600

110-112

II. Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn (%)

100

100

1. Vốn đầu t­ư từ NSNN

18,0

16,0

2. Vốn tín dụng Nhà n­ước

1,8

1,5

3. Vốn của DNNN

12,0

9,0

4. Vốn của dân c­ư và DN ngoài Nhà nước

52,0

55,0

5. Vốn FDI

14,0

16,0

6. Vốn từ các nguồn khác

2,2

2,5

            2. Các giải pháp huy động vốn

Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư như trên cần phải có hệ thống các biện pháp huy động vốn một cách tích cực, trong đó nguồn nội lực là chủ yếu, huy động tối đa nguồn vốn từ quỹ đất, từ tài sản công thuộc sở hữu Nhà nước để phát triển đô thị, kết cấu hạ tầng, chú trọng thu hút vốn từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đẩy mạnh xã hội hoá trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá - thể thao... Xác định các giá trị văn hóa (vật thể và phi vật thể) là nguồn lực phát triển quan trọng của Thủ đô, đặc biệt là trong phát triển du lịch, dịch vụ và một số ngành kinh tế tri thức.

a) Các biện pháp huy động các nguồn vốn

 - Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn ODA), trong đó cả từ ngân sách Trung ương và ngân sách Thành phố dành chủ yếu cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội.

Dự kiến vốn đầu tư từ ngân sách sẽ đáp ứng được khoảng 16-18% nhu cầu vốn đầu tư tuỳ theo từng giai đoạn. Để nâng cao nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cần tăng tỷ lệ tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế của thành phố, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có các biện pháp khuyến khích tiết kiệm cho đầu tư phát triển.

Kêu gọi Trung ương đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng lớn của mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, bệnh viện, trường đại học, các công trình kết cấu hạ tầng quy mô vùng... trên địa bàn thành phố. Dự kiến nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương đáp ứng 7-8% nhu cầu vốn đầu tư trên địa bàn Thủ đô.

Tiếp tục tranh thủ các nguồn tài trợ ODA, NGO, tập trung vào lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ môi trường như hệ thống cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải, xử lý chất thải rắn...

 Nâng cao hiệu quả đầu tư, chống lãng phí, thất thoát trong đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các Chương trình quốc gia, các dự án hỗ trợ của quốc tế để tạo sức mạnh tổng hợp của các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

- Vốn tự có doanh nghiệp nhà nước: dự kiến sẽ đáp ứng được khoảng 9-12% tổng nhu cầu vốn đầu tư.

- Vốn tín dụng nhà nước: dự kiến sẽ đáp ứng được 1,5-1,8% tổng nhu cầu vốn đầu tư, chủ yếu phục vụ cho các dự án sản xuất ưu tiên.

- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp ngoài Nhà nước và dân cư: Ước tính chiếm khoảng 48-52% trong cơ cấu vốn đầu tư.

Tiếp tục tháo gỡ những khó khăn mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt liên quan đến các nhân tố đầu vào và sản phẩm đầu ra. Có chương trình và phát động phong trào toàn dân khuyến khích, cổ vũ, động viên, đào tạo và tôn vinh tinh thần kinh doanh, sáng kiến kinh doanh.

Chuyển một bộ phận các đơn vị sự nghiệp có thu sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp như y tế, giáo dục, đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội, nghiên cứu khoa học... Tiến tới ngân sách nhà nước chỉ cấp cho những đơn vị sự nghiệp thực hiện các nhiệm vụ chính trị, các nghiên cứu khoa học cơ bản làm nền tảng để phát triển công nghệ.

- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): dự kiến đáp ứng khoảng 14-16% nhu cầu vốn đầu tư.

Huy động tối đa nguồn vốn đầu tư nước ngoài: Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo lợi thế trong việc thu hút nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. Chú trọng công tác xúc tiến đầu tư để thu hút làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam. Làm tốt công tác quy hoạch, chuẩn bị tốt dự án đầu tư và quỹ đất sạch để kêu gọi đầu tư thay vì xem xét, chấp nhận các dự án do các nhà đầu tư nghiên cứu, kiến nghị.

b) Giải pháp huy động vốn từ quỹ đất

Đất đai là một trong các nguồn lực quan trọng nhất để tạo nguồn vốn đầu tư phát triển Thủ đô. Phối hợp với Trung ương hoàn thiện chính sách tài chính đất đai (định giá và thuê đất) theo chuẩn mực quốc tế.

Sử dụng hiệu quả đất đai thông qua việc xây dựng tốt quy hoạch sử dụng đất; công khai, minh bạch quy hoạch sử dụng đất, quỹ đất. Tạo quỹ đất “sạch” (đã đền bù, giải phóng mặt bằng) để đấu giá quyền sử dụng đất, tạo nguồn thu để phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội.

Kiên quyết thu hồi các diện tích mặt đất, mặt nước để không hoặc sử dụng không hiệu quả đã giao cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trước đây để cho các nhà đầu tư khác thuê.

c) Giải pháp huy động các nguồn vốn khác

Tăng cường huy động vốn đầu tư từ các hình thức đầu tư BOT, BTO, BT để đẩy nhanh phát triển kết cấu hạ tầng, nghiên cứu, áp dụng thí điểm một số hình thức đầu tư mới trong đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội và cung cấp dịch vụ như PPP, TOT[1].

Đẩy mạnh thu hút vốn thông qua phát hành Trái phiếu công trình; thuế nhà đất; hình thành, mở rộng các quỹ phát triển đô thị, quỹ phát triển hạ tầng đô thị, quỹ phát triển nhà ở đô thị...

Định hướng tổ chức các sự kiện lớn như các hội nghị quốc tế lớn, Đại hội Thể dục thể thao châu Á (Asian Games), Thế vận hội (Ôlimpic)... để tập trung đầu tư mạng lưới kết cấu hạ tầng, các cơ sở lưu trú, dịch vụ, công trình thể thao... và tạo bước phát triển mới về kinh tế.

 

II. CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH

1. Xây dựng, thông qua Luật Thủ đô và sớm ban hành các văn bản hướng dẫn để đưa Luật vào thực hiện.

2. Đổi mới thể chế

Tập trung thực hiện công khai, minh bạch tuyệt đối trong mọi mối quan hệ hành chính giữa cơ quan nhà nước và người dân, nâng cao quyền tiếp cận thông tin của người dân. Thay đổi tư duy về vai trò, trách nhiệm của cơ quan hành chính, cán bộ nhà nước đối với người dân, chuyển từ tập trung quản lý sang cung cấp dịch vụ công.

Nghiên cứu, áp dụng mô hình chính quyền đô thị khi có đủ điều kiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý phát triển đô thị.

3. Tiếp tục nghiên cứu, đưa vào áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù đối với Thủ đô trong các lĩnh vực:

(1) Nhóm các chính sách về xây dựng, phát triển, quản lý đô thị

- Chính sách về quản lý dân cư, kiểm soát di cư;

- Cơ chế, chính sách tạo điều kiện phát triển các đô thị vệ tinh theo quy hoạch;

- Cơ chế về đầu tư, quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, các công trình ngầm và công trình theo tuyến;

- Cơ chế về quản lý và phát triển nhà ở tại các khu đô thị (chủ trương xã hội hóa);

- Các cơ chế, chính sách để di chuyển các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, các cơ sở y tế, đào tạo ra khu vực ngoại vi và các đô thị vệ tinh;

- Cơ chế phối hợp phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của Thủ đô.

(2) Nhóm chính sách huy động các nguồn lực

- Cơ chế phân cấp về tài chính, ngân sách, đầu tư giữa Trung ương và Thành phố;

- Chính sách về thuế nhà đất phù hợp với hoàn cảnh, đặc thù của Hà Nội;

- Cơ chế, chính sách ưu đãi phát triển các khu công nghệ cao, các dịch vụ cao cấp, khoa học - công nghệ;

- Cơ chế, chính sách phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng hiện đại, giao thông công cộng (đường sắt đô thị, tàu điện ngầm...);

- Chính sách về quản lý đất đai, huy động vốn đầu tư từ quỹ đất, các hình thức đầu tư mới (PPP, TOT);

- Chính sách về tiền lương, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao (kể cả các nhà khoa học, quản lý, chuyên gia nước ngoài);

- Cơ chế, chính sách thúc đẩy xã hội hóa, công khai, minh bạch trong kêu gọi đầu tư.

(3) Nhóm chính sách khác     

- Chính sách phát triển nông nghiệp đô thị;

- Chính sách phát triển vùng ven đô, hành lang xanh;

- Chính sách xây dựng cộng đồng sống tốt, văn minh đô thị;

- Cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tăng cường quản lý giao thông và an toàn giao thông (xây dựng chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật giao thông có tính đặc thù của các thành phố lớn).

III. MỞ RỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh phát triển kinh tế với mức tăng trưởng cao và ổn định trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.

Thông qua các cơ quan ngoại giao đóng trên địa bàn, Hà Nội mở rộng giao lưu thương mại, đầu tư, văn hoá, khoa học - công nghệ... với Thủ đô và các nước trong khu vực và trên thế giới.

Tạo điều kiện thuận lợi để tập trung đầu tư phát triển các nhóm sản phẩm, các ngành sản xuất có lợi thế cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu.

Thực hiện tốt các cam kết, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, an ninh - quốc phòng giữa Hà Nội với Thủ đô các nước bạn.

Mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác với các địa phương trên hai hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

IV. TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC, PHỐI HỢP VỚI CÁC BỘ, NGÀNH TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VÀ NGOÀI VÙNG

Xây dựng và thực hiện các cơ chế phối hợp, hợp tác giữa Hà Nội với các Bộ, ngành và các địa phương theo hướng rõ lĩnh vực, rõ việc, tạo điều kiện mở rộng thị trường, liên kết sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp.

Hà Nội và các Bộ, ngành phối hợp trong việc lập quy hoạch và đầu tư xây dựng các công trình do các Bộ, ngành quản lý trên địa bàn thành phố. Thành phố chủ động đề xuất nếu các Bộ, ngành chậm thực hiện các công việc trên.

Hà Nội phối hợp với các tỉnh, thành phố khác để cùng phát triển theo quy hoạch thống nhất, khai thác có hiệu quả lợi thế của từng địa phương. Hợp tác, liên kết phát triển giữa Hà Nội và các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trên cơ sở vừa kinh doanh, vừa hỗ trợ hợp tác; kết hợp hài hoà lợi ích của mỗi địa phương với lợi ích chung của vùng; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; tập trung vào các lĩnh vực: quy hoạch, xây dựng các đô thị mới, khu đô thị mới, khu dân cư; phát triển công nghiệp, các khu, cụm công nghiệp; phát triển du lịch, dịch vụ; nông nghiệp và vành đai cây xanh; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội và các lĩnh vực xã hội; hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hình thành các hành lang kinh tế; phối hợp bảo vệ môi trường (nạo vét, khơi thông dòng chảy sông Nhuệ, sông Đáy, xử lý nước thải công nghiệp, sinh hoạt trước khi xả vào sông Nhuệ, sông Đáy)...

Phối hợp với các địa phương trong vùng đối với các lĩnh vực xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch; phối hợp xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư để tránh cạnh tranh không cần thiết và không lành mạnh.

V. NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Đổi mới toàn diện và tạo sự chuyển biến căn bản về chất lượng bộ máy hành chính trên cả ba phương diện: cán bộ, tổ chức bộ máy và thủ tục hành chính.

Hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI). Xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh trên địa bàn.

- Về cán bộ

Phát hiện, thu hút nhân tài, bồi dưỡng, đào tạo một cách chủ động, cơ bản và toàn diện đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp của Thành phố. Tiêu chuẩn hóa các chức danh cán bộ, sử dụng và quản lý cán bộ căn cứ vào hiệu quả công việc thực tế.

Chú trọng tăng cường, bổ sung cán bộ trẻ có năng lực cho chính quyền các cấp. Tăng cường, kiểm tra giám sát cán bộ công chức. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy hành chính những cán bộ công chức thiếu trách nhiệm, tiêu cực, tham nhũng. Công khai, minh bạch hóa quá trình tuyển dụng công chức hành chính ở tất cả các ngành, các cấp.

Đào tạo nguồn nhân lực với tầm nhìn lâu dài, có bước đi phù hợp, tạo nguồn cán bộ phục vụ công tác quản lý, điều hành của các ngành, các cấp.

-  Về tổ chức bộ máy

Xây dựng bộ máy chính quyền các cấp phù hợp với quy mô một đô thị lớn, tiếp tục mở rộng phân cấp trên các lĩnh vực để quản lý có hiệu lực và hiệu quả.

Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy hợp lý từ cấp thành phố đến quận, huyện, thị xã. Phân cấp và ủy quyền mạnh hơn cho các sở, ngành và quận, huyện. Tăng cường thực hiện phân cấp theo nguyên tắc những việc gì cấp dưới có thể làm tốt thì giao cho cấp đó.

-  Về cải cách hành chính

Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính một cách triệt để, thông thoáng tạo điều kiện tốt nhất cho mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp. Coi đây là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Thực hiện mạnh mẽ cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, phục vụ và chi phí thấp. Công khai hóa mọi thủ tục và chế tài nghiêm đối với các cấp, các ngành tự đặt ra những thủ tục quy định gây phiền hà cho doanh nghiệp, cho nhân dân. Tiếp tục thực hiện tốt cơ chế hành chính một dấu, một cửa ở các quận, huyện và sở, ngành. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở.

Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước tại các cơ quan quận, huyện, sở ban ngành. Thực hiện chính phủ điện tử ở Thành phố. Tất cả các thông tin chủ yếu liên quan đến chính sách phát triển Thành phố, lợi ích, quyền và nghĩa vụ công dân, các quy hoạch phát triển đô thị, kinh tế, văn hóa, các dự án đầu tư đều được phổ biến công khai qua mạng chính phủ điện tử.

 

VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH

1. Công bố quy hoạch, triển khai các quy hoạch ngành và kế hoạch

Sau khi đề án quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cần tổ chức công bố công khai đề án quy hoạch, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia thực hiện quy hoạch.

Tiến hành rà soát, xây dựng mới quy hoạch phát triển các ngành và lĩnh vực, các địa phương, các quy hoạch chi tiết. Chú trọng công tác quy hoạch xây dựng đô thị; nâng cao chất lượng thiết kế đô thị, kiến trúc cảnh quan, quy hoạch khai thác không gian ngầm...

Phối hợp các ngành trong quá trình thực hiện quy hoạch, đảm bảo tính thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch phát triển ngành.

Triển khai quy hoạch qua các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm. Các kế hoạch phát triển phải bám vào các mục tiêu quy hoạch đã được duyệt và tiến độ phải thực hiện trong từng thời kỳ.

Giám sát, kiểm tra việc thực hiện đầu tư phát triển theo quy hoạch. Tăng cường trách nhiệm các cấp, các ngành và các địa phương trong việc thực hiện quy hoạch. Cuối mỗi kỳ quy hoạch (năm 2015, năm 2020) tổ chức đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch của từng thời kỳ, bổ sung và điều chỉnh lại mục tiêu cho phù hợp với tình hình thực tế.

2. Trách nhiệm của một số Bộ, ngành trong tổ chức thực hiện quy hoạch

- Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính tham mưu, đề xuất các chính sách, biện pháp tài chính, tiền tệ để xây dựng Hà Nội trở thành Trung tâm tài chính tiền tệ của cả nước và khu vực.

- Bộ Giao thông vận tải đẩy mạnh đầu tư mạng lưới đường bộ hướng tâm, vành đai, đường sắt trên đại bàn Thủ đô và thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

- Bộ Khoa học và Công nghệ tham mưu, đề xuất các chính sách, biện pháp để xây dựng Hà Nội trở thành Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học của cả nước; đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu công nghệ cao Hòa Lạc và hỗ trợ thành phố Hà Nội xây dựng khu công nghệ cao của thành phố.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và thực hiện chuyển dần các trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề ra ngoại thành, các đô thị vệ tinh của Hà Nội và các tỉnh lân cận; đầu tư, nâng cấp một số trường đại học, cao đẳng hiện có trên địa bàn Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn khu vực và thế giới.

- Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch có trách nhiệm đầu tư xây dựng, tôn tạo, quản lý các công trình văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia trên địa bàn Thủ đô, các khu liên hợp thể thao hiện đại, các trung tâm thể thao và các cơ sở thể dục thể thao quốc gia đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

 - Bộ Y tế có trách nhiệm đầu tư nâng cấp các bệnh viện, các cơ sở sản xuất dược hiện có do Bộ quản lý trên địa bàn Thủ đô thành các trung tâm y học, dược học hiện đại, chất lượng cao; di chuyển một số bệnh viện; quy hoạch và xây dựng một số bệnh viện lớn có chất lượng cao ở ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận nhằm giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện ở nội thành.

- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và Uỷ ban nhân dân các tỉnh có liên quan tổ chức hiệu quả các Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy;

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội trong việc quy hoạch lại hệ thống đê bao của Thành phố; khai thác có hiệu quả quỹ đất hai bên sông Hồng theo quy định của pháp luật

- Bộ Công Thương có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống cấp điện đồng bộ, hiện đại;

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính ưu tiên bố trí các nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô theo quy định của pháp luật.

 

 VII. KIẾN NGHỊ VỚI TRUNG ƯƠNG

1. Chỉ đạo nghiên cứu, ban hành các chính sách ưu đãi, đặc thù cho thành phố Hà Nội phát triển xứng đáng là Thủ đô văn minh, hiện đại của cả nước và có tầm cỡ trong khu vực và thế giới.

2. Phối hợp, điều chỉnh, xây dựng các quy hoạch ngành có liên quan đến thành phố Hà Nội (giao thông, cấp điện, thủy lợi, y tế, đào tạo...). Chú trọng đầu tư cho các công trình do các Bộ, ngành quản lý trên địa bàn thành phố như: các tuyến đường cao tốc, vành đai; các công trình quy mô lớn thuộc hệ thống cấp điện, thủy lợi, thoát nước và xử lý ô nhiễm các sông; các cơ sở đào tạo, y tế...

3. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho Thành phố thu hút đầu tư phát triển các khu công nghệ cao, các dịch vụ cao cấp (trung tâm tài chính - ngân hàng, trung tâm thương mại quốc tế...).

4. Chỉ đạo, phối hợp các địa phương trong vùng để phát triển các công trình kết cấu hạ tầng quy mô vùng, tạo điều kiện hình thành các đô thị thực sự là đô thị vệ tinh của Thủ đô Hà Nội, giảm sự tập trung quá mức dân cư, kinh tế, các cơ sở đào tạo, y tế... vào khu vực nội thành Hà Nội.

PHỤ LỤC I

CÁC YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC

I. CÁC YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN

1. Vị trí địa kinh tế

Hà Nội nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với 8 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc; Bắc Giang - phía Đông Bắc; Bắc Ninh, Hưng Yên - phía Đông; Hà Nam ở phía Nam, Hòa Bình - Tây Nam, Phú Thọ - phía Tây; Vĩnh Phúc - phía Tây Bắc.

Thành phố Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có vị trí địa lý - chính trị quan trọng, có ưu thế đặc biệt so với các địa phương khác trong cả nước. Nghị quyết 15 NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 15 tháng 12 năm 2000) đã xác định: Hà Nội "là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế ".

Trải qua các thời kì biến đổi của lịch sử và 4 lần điều chỉnh địa giới[2] kể từ năm 1961, năm 2008 Hà Nội có diện tích 3.348,5 km2; dân số là 6,45 triệu người, mật độ trung bình là 1.926 người/km2, Hà Nội được tổ chức thành 29 quận, huyện với 577 phường, xã và thị trấn (tính đến 31/12/2008).

Từ Hà Nội đi các thành phố, thị xã của Bắc Bộ cũng như của cả nước rất dễ dàng bằng cả đường ô tô, sắt, thủy và hàng không. Hà Nội có 2 sân bay dân dụng, là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt[3], 7 tuyến đường quốc lộ đi qua trung tâm[4]. Đó là những yếu tố gắn bó chặt chẽ Hà Nội với các trung tâm trong cả nước và tạo điều kiện thuận lợi để Hà Nội phát triển mạnh giao lưu buôn bán với nước ngoài, tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới; tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hội nhập vào quá trình phát triển năng động của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương.

Trong Vùng Thủ đô, Hà Nội được khẳng định là thành phố trung tâm của vùng với mô hình chùm đô thị có hệ thống đa trung tâm hiện đại, đầu mối giao thông chính, trung tâm nghiên cứu, dịch vụ tài chính, thương mại, văn hoá, du lịch và dịch vụ hạ tầng xã hội mang tầm khu vực Đông Nam Á.

Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, là trung tâm hàng đầu về khoa học - công nghệ, đào tạo, y tế, văn hóa. Tại Hà Nội còn có các cơ quan ngoại giao, các văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế.

Hà Nội đã và sẽ giữ vai trò trung tâm phát triển lớn nhất ở Bắc Bộ, là thị trường lớn của vùng và cả nước. Đồng thời Hà Nội nằm trong vùng nhiều quần thể di tích lịch sử và cảnh quan du lịch hấp dẫn: Hạ Long, Đồ Sơn, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Đền Hùng, Tam Đảo, hệ thống hang động tự nhiên rất đẹp ở Ninh Bình, Hà Nam... có thể làm điểm đầu mối của nhiều tuyến du lịch hấp dẫn ở miền Bắc.

2. Khí hậu

Thành phố Hà Nội nằm trong vùng khí hậu Đồng bằng Bắc Bộ mang đặc thù của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.

- Mùa đông: lạnh rõ rệt so với mùa hạ, chênh lệnh giữa nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất và tháng nóng nhất lên tới 120C, song nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất chỉ xuống đến 16-170C, rất thuận lợi để phát triển cây vụ Đông giá trị kinh tế cao.

- Mùa hè: nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa trung bình từ 1700-1800 mm. Lượng mưa tăng dần từ đầu mùa tới giữa mùa, đạt cực đại vào tháng 8, tháng 9 thuộc về mùa ít mưa.

- Riêng vùng núi Ba Vì: Khí hậu có sự khác biệt, ngoài sự chênh lệch nâng cao của nền nhiệt độ vùng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, ở Ba Vì còn có sự chênh lệch rõ nét về độ cao địa hình. Mùa hè nhiệt độ thấp so với chân núi, giảm dần theo độ cao. Mùa hè càng lên cao nhiệt độ càng giảm, khí hậu mát mẻ, dễ chịu. Mùa đông: từ cao độ 700 m trở lên, nhiệt độ ổn định dưới 200C, kéo dài trong 6 tháng. Độ ẩm ở đây cũng tỷ lệ nghịch theo độ cao và phụ thuộc vào mùa: Giảm về mùa hè, tăng về mùa đông. Cùng với nền hạ thấp của nhiệt độ, phụ thuộc vào độ cao, càng lên cao lượng mưa có tăng nhẹ, từ cao độ 500-600 m lượng mưa tăng mạnh hơn, trên 600m lượng mưa tăng chậm. Càng lên cao tổng số giờ nắng càng nhiều hơn. Nói chung thời tiết đẹp, ít mây và sương mù.

3. Địa hình

Thành phố Hà Nội có địa hình đa dạng, bao gồm vùng núi cao, vùng đồi thấp và vùng đồng bằng thấp trũng.

Vùng núi cao có cao độ thay đổi từ 300 m đến 1.000 m, trong đó có đỉnh núi Ba Vì cao 1.281 m và một số núi đá vôi ở phía Nam, Tây Nam thành phố (Chương Mỹ, Mỹ Đức) với nhiều hang động đẹp, các núi rừng này thường có độ dốc lớn, hay bị xói mòn, rửa trôi khi mùa mưa đến. Phía Bắc Hà Nội có dãy Sóc Sơn với đỉnh cao nhất là Chân Chim có độ cao 462 m.

 Vùng đồi thấp tập trung chủ yếu ở khu vực Hà Tây cũ với diện tích trên 53 nghìn ha, chủ yếu có cao độ từ 30 m đến 300 m. Địa hình vùng đồi thấp dốc thoải với độ dốc trung bình từ 8-20%, đây là vùng đất nâu vàng, đỏ.

 Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích của thành phố, bao gồm khu vực phía Đông của tỉnh Hà Tây cũ, hầu hết diện tích của Hà Nội cũ (trừ khu vực vùng núi Sóc Sơn) và huyện Mê Linh. Địa hình này chia thành hai dạng: vùng cao độ từ 10 đến 30 m ở khu vực Ba Vì với độ dốc < 10% là vùng đất xây dựng rất tốt và vùng đồng bằng thấp trũng - có địa hình tương đối bằng phẳng, song lại có khu vực quá trũng như khu vực Mỹ Đức (trong đê hữu ngạn sông Đáy), khu vực Ứng Hoà - Thường Tín (trong đê tả ngạn sông Đáy), Thanh Trì, Phú Xuyên, có chỗ cao độ nền thấp nhất chỉ đạt 1,7 m.

4. Tài nguyên nước

a. Trữ lượng nước

Về trữ lượng, thành phố Hà Nội được chia làm 2 khu vực:

- Khu vực Hà Nội cũ: Nguồn nước cung cấp và phục vụ cho sinh hoạt và một phần cho các dịch vụ khác của người dân Thủ đô được khai thác chủ yếu từ nguồn nước dưới đất thông qua các giếng khoan.

Trữ lượng nước mưa 1,34 tỷ m3; nước mặt: Sông Hồng có lưu lượng trung bình quan sát nhiều năm là 2.650 m3/s; các sông khác có tổng lưu lượng khoảng 70 m3/s.

Nước dưới đất: lưu lượng tiềm năng 5.914.000 m3/ngày.

- Khu vực Hà Nội phần mở rộng:

Theo các số liệu sơ bộ đã có về khu vực (có tham khảo tài liệu tại Liên đoàn quy hoạch điều tra tài nguyên nước Miền Bắc) cho thấy tài nguyên nước dưới đất phân bố không đều. Đặc biệt có một số khu vực hiếm nước (Thạch Thất, Chương Mỹ,...) hoặc nước bị nhiễm mặn (Thường Tín, Phú Xuyên...).

Trên địa bàn khu vực Hà Nội mở rộng có các sông lớn chảy qua là: sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ, trong đó sông Đà hiện tại và trong tương lai có khả năng lớn về cấp nước cho thành phố Hà Nội.

b. Tình hình khai thác, sử dụng

Trong suốt thời gian trước khi có Luật Tài nguyên nước, các tổ chức, cá nhân tự khai thác sử dụng nước chưa có ý thức tiết kiệm, cũng như chưa xác định rõ trách nhiệm phải bảo vệ nguồn tài nguyên nước, chống suy kiệt và ô nhiễm.

Hầu hết trữ lượng nước phục vụ cho sinh hoạt và một phần cho các dịch vụ khác của nhân dân Thủ đô hiện được khai thác từ nguồn nước dưới đất, qua các giếng khoan, với trữ lượng khai thác khoảng gần 1.000.000 m3/ngày đêm, trong đó, khai thác nước tập trung 600.000 m3/ngày đêm, khai thác của các hộ dân khoảng 200.000 m3/ngày đêm. Hiện chỉ có nhà máy nước sông Đà sử dụng nguồn nước mặt. Nguồn nước mặt, trên địa bàn thành phố hiện nay chủ yếu được cung cấp để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

5. Tài nguyên đất và thực trạng sử dụng đất

Đến năm 2009, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu sử dụng đất của thành phố, khoảng 56,5%, trong đó đất trồng lúa là 118,1 nghìn ha, chiếm 35,3% diện tích tự nhiên thành phố.

Đất lâm nghiệp chỉ có khoảng 24,05 nghìn ha, trong đó chủ yếu là đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng (14,43 nghìn ha).

Diện tích đất chưa sử dụng là 10,51 nghìn ha, trong đó đất bằng chưa sử dụng còn khá nhiều (4,84 nghìn ha).

Biểu 10. Thực trạng sử dụng đất thành phố Hà Nội

STT

Chỉ tiêu

Năm 2009

Năm 2010

Diện tích

(ha)

Cơ cấu
(%)

Diện tích

(ha)

Cơ cấu
(%)

TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN

334.852,150

100,0

334.852,150

100,0

1

Đất nông nghiệp

189.092,480

56,470

172.837,470

51,616

1.1

Đất sản xuất nông nghiệp

153.513,010

45,845

133.680,250

39,922

1.1.1

Đất trồng cây hàng năm

138.907,380

41,483

116.139,560

34,684

1.1.1.1

Đất trồng lúa

118.126,550

35,277

96.428,500

28,797

1.1.1.2

Đất trồng cây hàng năm còn lại

20.138,990

6,014

19.711,060

5,886

1.1.2

Đất trồng cây lâu năm

14.605,630

4,362

17.540,690

5,238

1.2

Đất lâm nghiệp

24.051,920

7,183

23.342,790

6,971

1.2.1

Đất rừng sản xuất

9.618,440

2,872

8.511,780

2,542

1.2.2

Đất rừng phòng hộ

3.753,630

1,121

5.308,710

1,585

1.2.3

Đất rừng đặc dụng

10.679,850

3,189

9.522,300

2,844

1.3

Đất nuôi trồng thuỷ sản

9.658,250

2,884

13.835,930

4,132

1.4

Đất nông nghiệp khác

1.869,300

0,558

1.978,500

0,591

2

Đất phi nông nghiệp

135.245,150

40,390

153.611,560

45,874

2.1

Đất ở

33.493,540

10,002

36.998,080

11,049

2.1.1

Đất ở tại nông thôn

26.948,780

8,048

27.477,740

8,206

2.1.2

Đất ở tại đô thị

6.544,760

1,955

9.520,340

2,843

2.2

Đất chuyên dùng

70.002,820

20,906

94.622,240

28,258

2.2.1

Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp

2.265,540

0,677

2.386,250

0,713

2.2.2

Đất quốc phòng, an ninh

9.773,530

2,919

9.840,790

2,939

2.2.3

Đất an ninh

 

 

 

0,000

2.2.4

Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp

11.837,750

3,535

20.432,620

6,102

2.2.5

Đất có mục đích công cộng

46.126,000

13,775

51.962,580

15,518

2.3

Đất tôn giáo, tín ngư­ỡng

788,480

0,235

792,810

0,237

2.4

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

2.966,840

0,886

3.216,060

0,960

2.5

Đất sông suối và mặt n­ước chuyên dùng

27.527,970

8,221

26.909,700

8,036

2.6

Đất phi nông nghiệp khác

465,500

0,139

1.072,670

0,320

3

Đất ch­ưa sử dụng

10.514,520

3,140

8.403,120

2,510

3.1

Đất bằng ch­ưa sử dụng

4.840,050

1,445

3.465,120

1,035

3.2

Đất đồi núi ch­ưa sử dụng

2.794,110

0,834

2.201,950

0,658

3.3

Núi đá không có rừng cây

2.880,360

0,860

2.736,050

0,817

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường

6. Tài nguyên rừng

Hiện nay, toàn thành phố có 24.051,92 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất 9618,44 ha, đất rừng phòng hộ 3.753,63 ha; đất rừng đặc dụng 10.679,85 ha. Đất lâm nghiệp chiếm 7,18% diện tích tự nhiên toàn thành phố, đây là tỷ lệ rất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu về phòng hộ, bảo vệ môi trường đối với Thủ đô.

Hệ động vật rừng tập trung chủ yếu ở Ba Vì, Hương Sơn, Sóc Sơn. Theo thống kê tại vườn quốc gia Ba Vì có 44 loài thú thuộc 23 họ, 9 bộ, khu Hương Sơn có 32 loài, 17 họ, 7 bộ và trên 40 loài bò sát. Nhìn chung do còn ít rừng tự nhiên nên tài nguyên động vật rừng cũng bị suy giảm.

7. Tài nguyên khoáng sản

Trữ lượng các loại khoáng sản trên địa bàn Hà Nội như sau: Than bùn: 35,1 triệu tấn; Vàng: 423,6 kg; Pyrit: 16,9 triệu tấn; Kaolin: 22,97 triệu tấn; Asbest: 89,8 nghìn tấn; Cát san lấp: 151,3 triệu m3; Cuội, sỏi: 1,3 triệu m3, Sét gạch ngói: 253,7 triệu m3; Bột màu: 1,3 triệu tấn; Puzolan: 27,5 triệu m3; Đá ong: 35,5 triệu m3; Đá bazan: 60 triệu m3; Đá xi măng: 664,4 triệu m3; Đá xây dựng: 620 triệu m3.

            Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay có 27 đơn vị đang hoạt động khai thác khoáng sản, trong đó:

            + 16 đơn vị khai thác đá. Các đơn vị khai thác đá tập trung chủ yếu trên địa bàn các huyện: Thạch Thất, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Ba Vì, Quốc Oai. Phần lớn các đơn vị khai thác đá với công suất khai thác từ 100-300 nghìn m3/ngày đêm, trữ lượng mỏ từ 1-5 triệu m3.

            + 7 đơn vị khai thác cát với công suất khai thác từ 45-100 nghìn m3/năm.

            + 01 đơn vị khai thác nước khoáng với công suất 340 m3/ngày đêm.

            + 01 đơn vị khai thác puzolan công suất 80 nghìn m3/năm.

8. Tài nguyên du lịch

- Tài nguyên du lịch thiên nhiên

Thủ đô Hà Nội nhiều thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng, là điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch, tập trung thành 3 cụm: cụm Hương Sơn, cụm Ba Vì- Suối Hai, cụm Sóc Sơn. Khu vực Hương Sơn có động Hương Tích được mệnh danh là "Nam Thiên đệ nhất động". Núi Ba Vì là dải núi đá có nhiều hang động đẹp, có rừng nguyên sinh, khí hậu mát mẻ và hệ thống hồ, đập được xây dựng (Suối Hai, Ao Vua, Đồng Mô, Ngải Sơn...).

Khu vực nội thành cũng có hệ thống hồ độc đáo, trong đó đáng kể nhất là Hồ Tây có quy mô diện tích khá lớn khoảng 500 ha, nằm giữa trung tâm thành phố.

- Tài nguyên du lịch nhân văn

Với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, Hà Nội có nhiều danh thắng, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật, khảo cổ, kiến trúc cùng với các di tích phi vật thể khác, các lễ hội, làng nghề và văn hóa dân gian; nơi tập trung những bảo tàng lớn và quan trọng của cả nước. Những đặc trưng văn hoá Việt là nguồn lực và lợi thế cho phát triển những ngành đem lại giá trị gia tăng cao và tạo xuất khẩu tại chỗ như du lịch và các dịch vụ văn hoá khác.

Trên địa bàn Hà Nội có trên 5.100 di tích lịch sử - văn hoá, trong đó có trên 700 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và trên 1.400 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, mật độ di tích vào loại cao nhất nước. Hà Nội có nhiều danh thắng, di tích lịch sử nổi tiếng như Cổ Loa, Văn Miếu, Hoàng thành Thăng Long, thành cổ Sơn Tây, lăng Ngô Quyền, khu phố cổ, khu phố cũ, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh... Trên địa bàn thành phố có nhiều đình, chùa, đền, như chùa Hương, chùa Quán Sứ, chùa Kim Liên, chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Mía, chùa Đậu, chùa Tây Phương, chùa Trầm...; những ngôi đình nổi tiếng như: Tây Đằng, Chu Quyến, Tường Phiên, Đại Phùng, Hoàng Xà... các đền: Quán Thánh, đền Thượng, đền Và, phủ Tây Hồ...

 Hà Nội là nơi tập trung những bảo tàng lớn và quan trọng nhất của nước ta như Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Quân đội và một số bảo tàng chuyên ngành như Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Địa chất, Bảo tàng Dân tộc. Hà Nội còn là nơi tập trung nhiều lễ hội và có những lễ hội mang tính đặc trưng của riêng mình như lễ hội chùa Hương, lễ hội An Dương Vương ở Cổ Loa, Hội Gióng, Hội đền Hai Bà Trưng, Hội gò Đống Đa, lễ hội chùa Thầy... Lễ hội chùa Hương là một lễ hội dài nhất và thu hút được nhiều khách nhất nước. Nhiều lễ hội gắn với di tích và cùng với di tích tạo thành một sản phẩm du lịch độc đáo.

 Hà Nội là nơi tập trung nhiều làng nghề nổi tiếng, trong đó có các nghề đặc sắc như: làm tranh dân gian (tranh Hàng Trống, tranh Đông Hồ); gốm sứ Bát Tràng; nghề làm giấy dó lụa, dệt tơ lụa ở Bưởi; nghề thêu ở Yên Thái; nghề đúc đồng Ngũ Xã; nghề chạm khảm trang trí đồ gỗ Vân Hà; nghề sản xuất đồ da ở Kiêu Kỵ; lụa Vạn Phúc; nón Chuông; quạt Vác; khảm trai Chuyên Mỹ; hàng mây tre Phú Vinh; đồ mộc Tràng Sơn, tượng gỗ Sơn Đồng... Tới Hà Nội du khách có thể thưởng thức hàng trăm món ăn tiêu biểu mang phong cách tao nhã, thanh lịch của riêng người Hà Nội.

9. Dân số, lao động

9.1 Dân số

            Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố Hà Nội có xu hướng tăng lên từ 11,69%o năm 2000 lên 11,75%o năm 2005 và đạt 12,46%o năm 2008 và khoảng 12,67% năm 2009.

            Tốc độ đô thị hóa đạt khá cao trong giai đoạn 2001-2005 là 5,6%/năm và giảm xuống còn 2,96%/năm giai đoạn 2006-2009, đưa tỷ lệ đô thị hóa của thành phố từ 33,2% năm 2000 lên 39,6% năm 2005 và đạt 40,8% năm 2009.

            Dự báo dân số thành phố năm 2010 khoảng 6.591 nghìn người, trong đó dân số đô thị khoảng 2.722 nghìn người, chiếm 41,3% tổng dân số.

Biểu 11. Một số chỉ tiêu về dân số

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Năm

2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

Dân số trung bình

1000 người

5.377,3

5.910,2

6.448,8

6.591

1,91

2,20

Mật độ dân số

người/km2

1.606

1.765

1.926

1.969

 

 

Tỷ suất sinh

16,17

16,15

16,90

16,50

 

 

Tỷ lệ tăng tự nhiên

11,69

11,75

12,67

12,6

 

 

Dân số đô thị

1000 người

1.783,2

2.341,9

2.632,1

2.722

5,60

3,05

Tỷ lệ đô thị hoá

%

33,2

39,6

40,8

41,3

 

 

Dân số nông thôn

1000 người

3.594,1

3.568,3

3.816,7

3.869

-0,14

1,63

Nguồn: Niên giám thống kê 2008, Số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 và dự báo.

 

9.2 Lao động - việc làm

Dự kiến giai đoạn 2006-2010, trung bình mỗi năm có trên 10 vạn người được giải quyết việc làm. Tỷ lệ thu hút của khu vực CN-XD, DV, NLN dự kiến năm 2010 là 41,2%, 47,3%, 11,5% so với năm 2006 là 35%, 43,4%, 23,6%.

Tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm từ 6,06% năm 2006 xuống còn 5,35% năm 2008, dự kiến năm 2010 giảm còn 5,0%.

Lao động Hà Nội tuy dồi dào song tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2010 mới đạt 35%, trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 25,4%, chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bố không đều, tập trung ở vùng đô thị, các quận nội thành. Lao động Hà Nội còn có tâm lý kén chọn việc làm và thu nhập rất nặng nề. Tỷ trọng việc làm bền vững tăng chậm, việc làm không ổn định, việc làm tạm thời còn khá cao, chiếm khoảng 45% kết quả giải quyết việc làm hàng năm.

            Theo số liệu Tổng Điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009, đến năm 2009 trong cơ cấu lao động trên địa thành phố Hà Nội khu vực nông lâm thủy sản chiếm 31,2%; khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 20,4% và khu vực dịch vụ chiếm 48,4%.

Biểu 12. Một số chỉ tiêu về lao động

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

1. Dân số trong độ tuổi lao động

1000 ng­ười

3.571

3.842

4.034

4.079

1,47

1,20

2. Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

1000 ng­ười

3.464

3.731

3.920

3.964

1,50

1,22

3. Số ng­ười đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

1000 ngư­ời

2.309

2.674

3.114

3.239

2,98

3,91

4. Số ngư­ời trong độ tuổi có khả năng lao động không có việc làm

1000 ng­ười

97

89

84

83

-1,71

-1,39

Nguồn: Cục Thống kê thành phố.

9.3 Đào tạo nghề

Từ năm 2006-2009, có 457.300 lượt người được đào tạo nghề, bình quân mỗi năm có 114.325 lượt người được đào tạo nghề (hệ cao đẳng nghề và trung cấp nghề chiếm 37,5%, sơ cấp nghề chiếm 62,5%). Số lượt người qua đào tạo nghề tăng từ 98.500 lượt người năm 2006 dự kiến lên đến 145.000 lượt người năm 2010.

Cơ cấu lao động và nghề đào tạo đã từng bước chuyển dịch theo nhu cầu thị trường lao động, theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.

Số lượng cơ sở dạy nghề tăng hàng năm, tính đến nay, hệ thống cơ sở dạy nghề trên địa bàn TP có 275 cơ sở, (trong đó CSDN công lập là 120 và ngoài công lập là 155), số cơ sở tăng thêm chủ yếu là các CSDN ngoài công lập.

Công tác xã hội hóa dạy nghề được quan tâm. Mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích tham gia công tác đào tạo nghề, góp phần hình thành mạng lưới cơ sở dạy nghề đa dạng với nhiều hình thức đào tạo.

Nhìn chung hoạt động đào tạo nghề phát triển và vươn lên bắt kịp yêu cầu của thị trường lao động, chủ trương xã hội hóa dạy nghề của Nhà nước đã khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề, tạo điều kiện nâng cao tay nghề cho người lao động. Tuy nhiên, cơ sở dạy nghề tuy nhiều nhưng phần lớn nhỏ, thiếu cơ sở vật chất, trình độ đội ngũ giáo viên còn bất cập làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề trình độ cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp thời kỳ đổi mới.

II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC

1. Công nghiệp

1.1 Thực trạng phát triển

- Tăng trưởng giá trị tăng thêm công nghiệp

Trong thời gian vừa qua, tốc độ tăng trưởng GTTT công nghiệp trên địa bàn thành phố ở mức khá cao, bình quân 14,1%/năm giai đoạn 2001-2005 và 12,1%/năm giai đoạn 2006-2010. Ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp khu vực ngoài Nhà nước có tốc độ tăng cao nhất.

Biểu 13. Một số chỉ tiêu tăng tr­ưởng GTTT công nghiệp Thành phố Hà Nội

Chỉ tiêu

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng tr­ưởng

2001-2005

2006-2010

I. Phân theo ngành

 

 

 

 

 

 

GTTT Công nghiệp

6.952

13.451

22.173

23.851

14,1

12,1

1. Công nghiệp khai thác

154

252

288

302

10,4

3,7

2. Công nghiệp chế biến

6.005

11.936

19.947

21.442

14,7

12,4

3. Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, ga, n­ước

793

1.263

1.938

2.106

9,8

10,8

II. Phân theo thành phần kinh tế

 

 

 

 

 

 

GTTT Công nghiệp

6.952

13.451

22.173

23.851

14,1

12,1

1. Nhà nư­ớc

4.322

6.956

10.599

11.144

10,0

9,9

2. Ngoài Nhà nước

928

2.770

4.900

5.514

24,4

14,8

3. Đầu t­ư n­ước ngoài

1.702

3.725

6.674

7.193

17,0

14,1

Nguồn: Cục Thống kê.

 

- Cơ cấu GTTT công nghiệp

Trong cơ cấu GTTT công nghiệp, công nghiệp chế biến có tỷ trọng rất cao và tăng dần, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài có tỷ trọng tăng nhanh.

Biểu 14. Cơ cấu GTTT công nghiệp Thành phố Hà Nội

 

 

 

 

 

 

 

Chỉ tiêu

Năm

2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

 
 

I. Phân theo ngành

 

 

 

 

 

GTTT Công nghiệp

100,0

100,0

100,0

100,0

 

1. Công nghiệp khai thác

1,7

1,2

1,1

1,1

 

2. Công nghiệp chế biến

85,7

88,9

89,5

89,9

 

3. Công nghiệp sản xuất và phân phối điện,  ga, nước

12,6

9,9

9,4

9,0

 

II. Theo thành phần kinh tế

 

 

 

 

 

GTTT Công nghiệp

100,0

100,0

100,0

100,0

 

1. Nhà n­ước

58,1

44,0

41,2

40,2

 

2. Ngoài Nhà nước

12,8

20,0

22,3

23,5

 

3. Đầu t­ư n­ước ngoài

29,1

35,9

36,5

36,3

 

Nguồn: Cục Thống kê.

 

- Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn thành phố bao gồm: bia, các sản phẩm dệt - may, hóa chất (phân bón, xà phòng...), vật liệu xây dựng, sản phẩm cơ khí, điện, điện tử (ô tô, xe máy, xe đạp, động cơ, máy công cụ, ti vi...).

Biểu 15. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Sản phẩm

Đơn vị tính

2000

2005

2009

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

Động cơ điện

cỏi

43.877

85.963

60.000

66.390

14,4

-5,0

Động cơ điezen

cỏi

626

14.113

24.800

25.668

86,5

12,7

Lắp rỏp ụ tụ

cỏi

4.450

12.342

27.837

30.209

22,6

19,6

Lắp rỏp xe mỏy

cỏi

59.576

540.153

632.186

731.123

55,4

6,2

Xe đạp hoàn chỉnh

1000 cỏi

102

117

52

58

2,8

-13,2

Quạt cỏc loại

1000 cỏi

217

642

1.251

1.422

24,2

17,2

Ti vi

1000 cỏi

114

54

24

28

-13,9

-12,3

Phõn hoỏ học

1000 tấn

210

256

280

315

4,0

4,2

Gạch xõy dựng

tr.viờn

1.138

1.866

1.965

2.390

10,4

5,1

Giấy cỏc loại

tấn

8.491

8.529

21.983

24.038

0,1

23,0

Quần ỏo dệt kim

tr.cỏi

12

21

21

25

11,8

3,6

Thuốc lỏ bao

tr.bao

210

401

750

792

13,8

14,6

Bia cỏc loại

tr.lớt

111

219

334

371

14,6

11,1

Nguồn: Cục Thống kê.

- Về thực hiện chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực

Thực hiện kế hoạch số 60/KH-UB, ngày 10/10/2005 của UBND Thành phố về việc triển khai chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2005-2010, với mục tiêu tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh trên địa bàn, đồng thời xây dựng các cơ chế hỗ trợ thúc đẩy công nghiệp và sản phẩm công nghiệp chủ lực phát triển. Quá trình triển khai, đến nay qua 3 đợt xét chọn, đã trình UBND Thành phố quyết định công nhận 41 sản phẩm của 39 doanh nghiệp là sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố. Việc công nhận và tôn vinh 41 sản phẩm công nghiệp chủ lực so với mục tiêu chương trình đặt ra đã hoàn thành trên 80% kế hoạch về số lượng sản phẩm công nghiệp chủ lực trong giai đoạn này.

1.2 Hiện trạng phát triển các khu, cụm công nghiệp

1.2.1 Các khu công nghiệp

a.      Số lượng KCN, tình hình sử dụng đất và kết cấu hạ tầng KCN

Hiện tại trên địa bàn thành phố Hà Nội có 17 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập đến năm 2015 với tổng diện tích 4.817 ha hiện đã và đang triển khai gồm:

* Các KCN đang hoạt động bao gồm: KCN Thăng Long, KCN Nội Bài, KCN Sài Đồng B, KCN Hà Nội - Đài Tư, KCN Nam Thăng Long, KCN  Thạch Thất - Quốc Oai, KCN Phú Nghĩa, KCN Quang Minh I với tổng diện tích 1.236 ha.

Các KCN này đã cơ bản hoàn thành kết cấu hạ tầng trong KCN, một số khu đã được lấp đầy doanh nghiệp thứ phát như: KCN Bắc Thăng Long, Nội Bài...

* Các KCN đang triển khai xây dựng bao gồm: KCN Bắc Thường Tín, KCN Phụng Hiệp, KCN Quang Minh II, KCN sạch Sóc Sơn, KCN Nam Phú Cát, Khu công viên công nghệ thông tin Hà Nội, Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội, KCN Đông Anh, KCN Kim Hoa (phần diện tích thuộc huyện Mê Linh) với tổng diện tích 3.581 ha.

Hiện nay các KCN này đang trong giai đoạn lập quy hoạch, hoàn chỉnh hồ sơ thu hồi đất GPMB và xây dựng hạ tầng.

b. Tình hình thu hút đầu tư và kết quả hoạt động của các DN KCN

- Về thu hút đầu tư: Trong năm 2008, các KCN Hà Nội đã thu hút được 50 dự án đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3.849 tỷ đồng, gồm 33 dự án nước ngoài với vốn đăng ký 165 triệu USD (tương đương 2.805 tỷ đồng) và 117 dự án trong nước, vốn đăng ký 1.044 tỷ đồng.

- Kết quả hoạt động của doanh nghiệp KCN năm 2008:

+ Doanh thu năm 2008 đạt 2,61 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2007. Thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước ước đạt 46,14 triệu USD tăng 15% so với cùng kỳ năm 2007.

+ Tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 1,61 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2007, chiếm tỷ trọng 45,33% tổng giá trị xuất khẩu của địa phương và chiếm 23,23% tổng giá trị xuất khẩu của toàn thành phố.

+ Tổng giá trị nhập khẩu ước đạt 1,39 tỷ USD tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2007, chiếm tỷ trọng 17,47% tổng giá trị nhập khẩu địa phương và chiếm 5,93% tổng giá trị nhập khẩu của toàn thành phố.

- Trong 6 tháng đầu năm 2009, BQL đã tiếp nhận, cấp giấy chứng nhận đầu tư và cấp điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư 20 dự án trong các KCN. Tổng mức vốn đăng ký đầu tư là 31.019.000 USD và 205,7 tỷ đồng. Trong đó có 5 dự án đầu tư trong nước và 15 dự án đầu tư nước ngoài.

Như vậy tính đến nay các KCN trên địa bàn thành phố đã thu hút được 437 dự án, với tổng số vốn đăng ký khoảng 69.123 tỷ đồng; trong đó dự án nước ngoài là 234 dự án với tổng số vốn đăng ký là 3.562,882 triệu USD.

- Hiện nay có các KCN Bắc Thăng Long, Nội Bài, Hà Nội - Đài Tư, Quang Minh I, Nam Thăng Long đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải trong KCN.

- Các KCN Thạch Thất - Quốc Oai, Phú Nghĩa đang trong quá trình xây dựng nhà máy xử lý nước thải.

Biểu 16. Hiện trạng các khu công nghiệp

 

STT

Tên khu công nghiệp

Địa điểm, đơn vị đầu tư hạ tầng

Diện tích

Tổng mức đầu tư

Các ngành thu hút đầu tư

Đất công      nghiệp

Tổng

1

Bắc Thăng Long

- H. Đông Anh

- Công ty KCN Thăng Long

206,2

274

90.329.000 USD

Đa ngành nghề

2

Nội Bài

- Huyện Sóc Sơn

Công ty TNHH Phát triển  Nội Bài

66,42

115

29.000.000 USD

Đa ngành nghề

3

Sài Đồng B

- Quận Long Biên

- Công ty điện tử Hà Nội

-

45

163 tỷ đồng

Đa ngành nghề

4

Hà Nội - Đài Tư

- Quận Long Biên

Công ty xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN Hà Nội - Đài Tư

32,1276

40

12.000.000 USD

Đa ngành nghề

5

Nam Thăng Long

- Huyện Từ Liêm

- Công ty CP Phát triển Hạ tầng Hiệp hội công thương Hà Nội

17,5

89,2 ha (gđ 2, 3) giao Công ty TNHH Pacific Land VN đầu tư XD khu công nghệ cao sinh học

30,83 (gđ 1)

250 tỷ đồng

Đa ngành nghề

6

Thạch Thất - Quốc Oai

- Huyện Thạch Thất, Quốc Oai

- Công ty CP phát triển Hà Tây

105,4

155

220,255 tỷ đồng

Đa ngành nghề

7

Phú Nghĩa

- H. Chương Mỹ

- Công ty CP Phát triển Công nghiệp Phú Mỹ

125,7

170,1

400 tỷ đồng

Đa ngành nghề

8

Quang Minh I

- Huyện Mê Linh

- Công ty đầu tư phát triển hạ tầng Nam Đức

256,16

407

532,725 tỷ đồng

Đa ngành                nghề

Tổng

 

809,52

1.236

 

 

               

Nguồn: Ban Quản lý các KCN, KCX.

c. Các kết quả chủ yếu

Hiện nay, Hà Nội đã có 8 KCN (tổng diện tích 1.200 ha), đã cơ bản hoàn thành xây dựng hạ tầng, đã cho thuê từ 65% trở lên đất CN (đất đã có hạ tầng, sẵn sàng cho thuê để đầu tư sản xuất kinh doanh), với 443 doanh nghiệp (trong đó có 232 DN đầu tư nước ngoài).

Kết quả mỗi ha đất KCN Hà Nội bình quân đã tạo việc làm mới được 80 lao động; tạo ra gần 50 tỷ đồng doanh thu, nộp ngân sách gần 1 tỷ đồng.

- KCN đã góp phần thể hiện vai trò của Hà Nội là một trong các trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Các KCN Hà Nội đã chiếm khoảng 10% các chỉ tiêu đạt được của các khu công nghiệp của cả nước, và đang dẫn đầu các tỉnh, thành phố phía Bắc. Trong đó KCN Bắc Thăng Long được xây dựng hoàn chỉnh với các sản phẩm công nghệ cao của các tập đoàn nổi tiếng như Canon, Panasonic... tạo việc làm cho gần 5 vạn lao động, đang là nơi cho các tỉnh, thành phố tham khảo.

- Tổng lao động trong các DN KCN đến hết 24/6/2009 là 89.687 người.

Trong đó:

+ Lao động Việt Nam: 88.911 người

+ Lao động nước ngoài 776 người, tăng 124 người.

Mặc dù tình hình kinh tế suy giảm, nhưng số lao động trong các KCN ở các DN KCN tăng 1.658 người (tăng 1,88%) so với cuối năm 2008.

d. Những tồn tại, khó khăn

Việc đầu tư, phát triển các KCN của Thành phố vừa qua còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng của Thành phố (các Thành phố có điều kiện tương tự đều đã có số lượng các KCN gấp đôi hoặc gấp ba của Hà Nội đã đi vào hoạt động), hạ tầng kỹ thuật và xã hội (cả trong và ngoài hàng rào) của các KCN hiện có vẫn còn chưa đồng bộ:

+ Nhiều khu chưa hoàn thành đường nối với đường giao thông chính như vào các KCN Nam Thăng Long, Hà Nội - Đài Tư, Bắc Thường Tín, Phụng Hiệp, Quang Minh 2, Sóc Sơn...

Một số khu công nghiệp bám dọc các quốc lộ làm hạn chế khả năng lưu thông của đường và gia tăng tai nạn giao thông.

+ Ngoài Bắc Thăng Long, các KCN khác chưa có nơi ở tập trung và các dịch vụ văn hóa, xã hội cho cán bộ, công nhân; ngay khu nhà ở Kim Chung cho Bắc Thăng Long cũng chưa hoàn thành đường sang KCN và chưa có các khâu dịch vụ công cộng.

+ Mới chỉ 3 KCN có khu xử lý nước thải tập trung đi vào hoạt động là các KCN Bắc Thăng Long, Nội Bài và Quang Minh 1.

+ Một số KCN được nâng cấp mở rộng từ cụm công nghiệp (Quang Minh 1, Quang Minh 2, Phú Nghĩa, Thạch Thất - Quốc Oai...) còn đang trong giai đoạn bàn giao và khớp nối các công trình hạ tầng kỹ thuật. Trong các khu này còn nhiều lô đất chưa giải phóng được mặt bằng, hoặc nhiều DN được giao đất quá nhiều năm nhưng chưa xây dựng, một số DN còn hoạt động kém hiệu quả chưa nộp được ngân sách.

1.2.2 Các cụm công nghiệp, làng nghề

Trong giai đoạn 2006-2010 có 36 cụm công nghiệp triển khai xây dựng với tổng diện tích là 1.650 ha. Trong đó số cụm công nghiệp đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung là 03 cụm, do hầu hết các cụm công nghiệp đều đang trong giai đoạn hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật.

Tổng số làng nghề được công nhận trong giai đoạn 2006-2010 là 105 làng nâng tổng số làng nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội là 256 làng.

Biểu 17. Số liệu về thực trạng các cụm công nghiệp

TT

Tên cụm công nghiệp

Địa điểm

Diện tích (ha)

Diện tích cho thuê (%)

Tỷ lệ
lấp đầy (%)

1

Cụm CN Vĩnh Tuy

Quận Hoàng Mai

12

68

100

2

Cụm CN Phú Thị

Huyện Gia Lâm

20

72

100

3

Cụm CN Từ Liêm

Huyện Từ Liêm

67

 -

45

4

Cụm CN Cầu Giấy

Quận Cầu Giấy

8,3

62

100

5

Cụm CN Hai Bà Tr­ưng

Hai Bà Trư­ng

9

51

100

6

Cụm CN Ninh Hiệp

Huyện Gia Lâm

65

 -

25

7

Cụm CN Lệ Chi

Huyện Gia Lâm

31

 -

35

8

Cụm CN Nguyên Khê

Huyện Đông Anh

96

 -

20

9

Cụm CN Ngọc Hồi

Thanh Trì

75

63

100

10

Cụm CN Mai Đình

Huyện Sóc Sơn

56

 -

0

11

Cụm CN Sóc Sơn

Huyện Sóc Sơn

204

 -

0

12

Cụm CN Phú Minh

Huyện Từ Liêm

40

76

100

13

Cụm CN Lại Yên - An Ninh

Huyện Hoài Đức

35

82

100

14

Cụm CN Kim Chung

Huyện Hoài Đức

49

75

30

15

Cụm CN Yên Sơn - Ngọc Liệp

Huyện Quốc Oai

36

81

100

16

Cụm CN Bình Phú

Thạch Thất

21

76

100

17

Cụm CN Liên Ph­ương

Thư­ờng Tín

19

75

100

18

Cụm CN Gas Lư­u Xá

Th­ường Tín

5,2

85

100

19

Cụm CN Quất Động

Th­ường Tín

73

72

60

20

Cụm CN thị trấn Phùng

Huyện Đan Ph­ượng

36

71

100

21

Cụm CN Phú Lâm

Quận Hà Đông

6,7

75

100

22

Cụm CN Yên Nghĩa

Quận Hà Đông

44

61

100

23

Cụm CN Thị trấn Phúc Thọ

Huyện Phúc Thọ

40

72

90

24

Cụm CN Bích Hòa

Thanh Oai

10

84

65

25

Cụm CN Biên Giang

Quận Hà Đông

45

75

100

26

Cụm CN Cam Th­ượng

Huyện Ba Vì

16

75

100

27

Cụm CN Duyên Thái

Th­ường Tín

18

67

100

28

Cụm Đồng Giai

Ba Vì

20

75

10

29

Cụm Đại Xuyên

Phú Xuyên

68

69

0

30

Cụm Bình Phú - Phùng Xá

Thạch Thất

110

65

0

31

Cụm CN Habeco

Th­ường Tín

170

63

0

32

Cụm CN Song Ph­ượng

Đan Ph­ượng

47

67

0

33

Cụm CN Đông La

Hoài Đức

35

73

0

34

Cụm CN Đức Thư­ợng

Hoài Đức

145

60

0

35

Cụm CN Bình Minh

Thanh Oai

41

61

0

36

Cụm CN Bắc Vân Đình

Ứng Hòa

50

68

30

37

Cụm CN Trư­ờng An

Hoài Đức

11

82

100

38

Cụm CN Đại Nghĩa

Mỹ Đức

30

75

15

39

Cụm CN Phú Xuyên

Phú Xuyên

204

55

0

40

Cụm CN Thanh Oai

Thanh Oai

45

71

100

41

Cụm CN Đồng Mai

Hà Đông

225

68

0

42

Cụm CN Nam Sông Hồng

Đan Phư­ợng

425

60

0

43

Cụm CN Nam Phúc Thọ

Phúc Thọ

340

65

0

44

Cụm CN Ngọc Hòa

Ch­ương Mỹ

40

65

0

45

Cụm CN Đông Phú Yên

Ch­ương Mỹ

80

68

0

46

Cụm CN Nam Tiến Xuân

Chư­ơng Mỹ

193

65

0

47

Cụm CN Sơn Đông

Sơn Tây

77

70

0

48

Cụm CN Japan-Shanshe

Thạch Thất

83

60

0

49

Cụm CN Hà Hồi - Quất Động

Th­ường Tín

30

70

0

Nguồn: Sở Công Thương

 

2. Dịch vụ

2.1 Thương mại

- Thương mại nội địa

Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ giai đoạn 2001-2005 tăng trưởng bình quân đạt 17,4%/năm. Dự kiến tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ năm 2010 là 180.527 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 26,3%/năm.

Biểu 18. Một số chỉ tiêu về th­ương mại - dịch vụ

 

 

 

 

 

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng tr­ưởng (%)

2001-2005

2006-2010

Tổng mức bán lẻ HH và dịch vụ tiêu dùng XH

25.272

56.283

146.610

180.527

17,4

26,3

Th­ương nghiệp và  dịch vụ

21.217

48.516

127.501

157.680

18,0

26,6

Khách sạn, nhà hàng

3.745

6.962

17.399

21.074

13,2

24,8

Du lịch, lữ hành

310

805

1.710

1.773

21,0

17,1

Nguồn: Cục Thống kê

 

Hiện tại toàn Thành phố Hà Nội có 362 chợ (trong đó có 20 chợ loại 1; 52 chợ loại 2; 290 chợ loại 3); 70 Trung tâm thương mại, siêu thị (trong đó có: 12 TTTM, ST hạng 1; 17 TTTM, ST hạng 2; 41 TTTM, ST hạng 3); gần 200 cửa hàng tiện ích, tự chọn và 418 cửa hàng kinh doanh xăng dầu.

            - Xuất nhập khẩu

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 15,7%/năm. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 6.579 triệu USD, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006-2010 ước đạt 18,3%/năm.

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 22,1%/năm. Dự kiến kim ngạch nhập khẩu năm 2010 là 19.865 triệu USD, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 dự kiến đạt 13,2%/năm.

Biểu 19. Một số chỉ tiêu xuất nhập khẩu

Đơn vị: Triệu USD

Chỉ tiờu

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Ước năm 2010

Tốc độ tăng trưởng b́nh quân (%)

2001-2005

2006-

2010

I. Xuất khẩu

 

 

 

 

 

 

1. Tổng kim ngạch XK trên địa bàn

1.449

3.003

6.353

6.958

15,7

18,3

2. Mặt hàng chủ yếu

 

 

 

 

 

 

- Hàng nụng sản

453

667

858

889

8,0

5,9

- Hàng may, dệt

341

502

785

812

8,0

10,1

- Giày dộp và sản phẩm từ da

62

99

153

157

9,8

9,7

- Hàng điện tử

70

193

260

275

22,5

7,4

- Linh kiện mỏy tớnh và thiết bị ngoại vi

21

410

1.068

1.161

81,2

23,2

- Hàng thủ cụng mỹ nghệ

91

83

89

92

-1,8

2,1

- Xăng dầu (tạm nhập tái xuất)

160

284

692

703

12,2

19,9

- Than đá

32

166

281

293

39,0

12,0

- Hàng khỏc

219

599

2.166

2.196

22,3

29,7

II. Nhập khẩu

 

 

 

 

 

 

1. Tổng kim ngạch NK trên địa bàn

3.937

10.687

17.882

19.865

22,1

13,2

2. Mặt hàng chủ yếu

 

 

 

 

 

 

- Mỏy múc thiết bị

800

3.167

4.536

4.874

31,7

9,0

- Vật tư nguyên liệu

2.453

5.709

8.057

8.442

18,4

8,1

Trong đó:

 

 

 

0

 

 

+ Sắt thộp

290

722

1.181

1.235

20,0

11,3

+ Phõn bún

155

236

287

295

8,8

4,5

+ Hoỏ chất

111

254

260

268

18,0

1,1

+ Chất dẻo

62

201

327

345

26,5

11,4

+ Xăng dầu

1.254

3.474

4.130

4.359

22,6

4,6

- Hàng khác

684

1.811

5.289

5.689

21,5

25,7

Nguồn: Cục Thống kê.

            2.2 Du lịch

            Trong giai đoạn 2001-2005 số lượng khách du lịch tăng khá cao, đạt bình quân 16,8%/năm, trong đó khách nội địa tăng 17,4%/năm, khách nước ngoài tăng 13,5%/năm, dẫn đến doanh thu du lịch cũng tăng khá cao, đạt bình quân 23,1%/năm. Tuy nhiên trong giai đoạn 2006-2008 số lượng khách du lịch tăng rất thấp, kể cả khách nội địa và khách nước ngoài. Doanh thu giai đoạn này vẫn tăng cao do ảnh hưởng của yếu tố giá cả.

            Dự báo năm 2010, sau khi nền kinh tế thế giới bước đầu hồi phục và nền kinh tế nước ta có mức tăng trưởng cao hơn năm 2009, lượng khách du lịch đến Hà Nội sẽ dần quay lại mức trước khi khủng hoảng. Dự kiến năm 2010 số khách du lịch đến Hà Nội khoảng 8.822 nghìn lượt người, trong đó khách quốc tế khoảng 1.228 nghìn lượt người, khách trong nước khoảng 7.594 nghìn lượt người, doanh thu du lịch đạt 8.066 tỷ đồng.

Biểu 20. Một số chỉ tiêu về phát triển du lịch

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm

2000

Năm

2005

Năm

2008

Năm

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

I - Số l­ượng khách sạn, nhà nghỉ

Khách sạn,
nhà nghỉ

314

689

626

639

17,0

-1,5

     - Buồng

Buồng

9.328

13.820

13.415

13.885

8,2

0,1

     - Giư­ờng

Gi­ường

15.854

21.527

23.556

24.498

6,3

2,6

II. Khách du lịch

 

 

 

 

 

 

 

1. Khách đến khách sạn

Nghìn lư­ợt

3.716

8.080

8.750

8.822

16,8

1,77

- Khách nước ngoài

Nghìn lư­ợt

584

1.100

1.251

1.228

13,5

2,23

- Khách nội địa

Nghìn l­ượt

3.132

6.980

7.499

7.594

17,4

1,70

2. Khách Việt Nam đi du lịch n­ước ngoài

Nghìn lư­ợt

20

46

50

52

18,1

2,5

III. Doanh thu

Tỷ đồng

1.426

4.031

8.390

8.066

23,1

14,9

Nguồn: Niên giám thống kê 2008 và số liệu dự báo.

 

3. Nông lâm thủy sản

3.1 Đánh giá chung

Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh; diện tích đất nông nghiệp liên tục giảm, song sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển và tăng trưởng. Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp/1 ha đất nông nghiệp liên tục tăng. Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch tích cực: giảm trồng trọt, tăng chăn nuôi - thuỷ sản - dịch vụ nông nghiệp. Tỷ trọng các cây trồng, vật nuôi có chất lượng và giá trị kinh tế cao, an toàn thực phẩm tăng dần. Hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn tiếp tục được quan tâm đầu tư đã từng bước đáp ứng nhu cầu phục vụ nông nghiệp và góp phần xây dựng nông thôn mới, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân khu vực nông thôn.

Trong giai đoạn 2001-2005 khu vực nông lâm thủy sản có tốc độ tăng trưởng khá, đạt 4,1%/năm, tuy nhiên đã giảm xuống trong giai đoạn 2006-2010.

 

Biểu 21. Tăng trưởng nông lâm thủy sản

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm 2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

GTTT nông lâm thủy sản giá 1994

3.282

4.013

4.214

4.300

4,10

1,39

 - Nông nghiệp

3.165

3.819

3.992

4.066

3,83

1,26

 - Lâm nghiệp

14

12

10

10

-3,04

-3,37

 - Thủy sản

103

182

212

224

12,06

4,27

Nguồn: Cục Thống kê thành phố và số liệu dự báo.

 

            Trong cơ cấu nông lâm thủy sản, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn, luôn trên 94%. Mặc dù ngành thủy sản một số năm có mức tăng trưởng khá nhưng tỷ trọng vẫn dưới 5%.

 

Biểu 22. Cơ cấu nông lâm thủy sản

Chỉ tiêu

Năm 2000

Năm 2005

Năm 2009

Năm 2010

GTTT nông lâm thủy sản (giá TT, tỷ đồng)

4.154

6.390

12.838

14.684

 - Nông nghiệp

3.996

6.047

12.200

13.950

 - Lâm nghiệp

35

33

31

34

 - Thủy sản

123

310

607

700

Cơ cấu  (%)

100,0

100,0

100,0

100,0

 - Nông nghiệp

96,2

94,6

95,1

95,0

 - Lâm nghiệp

0,8

0,5

0,2

0,2

 - Thủy sản

3,0

4,9

4,7

4,8

Nguồn: Cục Thống kê thành phố và số liệu dự báo.

 

            3.2 Nông nghiệp        

            - Trồng trọt

            Công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mô hình canh tác trên địa bàn thành phố trong thời gian qua diễn ra tích cực theo hướng tăng chất lượng nông sản hàng hoá và nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác. Các giống cây trồng có ưu thế về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế đang được khảo nghiệm, chọn lọc làm cơ sở nhân rộng trong những năm tới.

            Cơ cấu giống lúa có sự chuyển dịch tích cực, góp phần quan trọng tăng năng suất lúa qua các năm. Diện tích sản xuất lúa chất lượng cao tăng dần. Sản xuất rau, đậu thực phẩm qua các năm có xu hướng tăng khá. Bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh rau sạch, hoa, cây ăn quả...

Một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao đã được hình thành tại Đông Anh, Mê Linh, Gia Lâm. Một số công nghệ cao đã được áp dụng trong nhân giống như công nghệ cấy mô tế bào (Invitro), công nghệ nhà lưới...

Biểu 23. Các sản phẩm trồng trọt chủ yếu

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

1

Sản lượng lương thực có hạt

Tấn

1313291

1273996

1345775

1415755

-0,61

2,13

 

SLLT/ người

Kg

244,2

215,6

208,7

216,2

-2,47

0,06

2

Sản lượng thóc

Tấn

1206727

1175799

1219035

1265359

-0,52

1,48

 

Diện tích gieo trồng lúa

Ha

236689

219042

202097

198055

-1,54

-1,99

 

Năng suất

Tấn/ Ha

5,10

5,37

6,03

6,39

1,04

3,54

3

Sản lượng ngô

Tấn

106564

98197

119802

131063

-1,62

5,94

 

Diện tích gieo trồng

Ha

34927

24818

26844

27971

-6,61

2,42

 

Năng suất

Tấn/ Ha

3,05

3,96

4,46

4,69

5,34

3,44

4

Sản lượng sắn

Tấn

28494

37145

38705

39595

5,45

1,29

 

Diện tích gieo trồng

Ha

3714

3098

3067

3021

-3,56

-0,50

 

Năng suất

Tấn/ Ha

7,67

11,99

12,62

13,11

9,34

1,80

5

Sản lượng mía cây

Tấn

16465

11750

11633

11574

-6,53

-0,30

 

Diện tích gieo trồng

Ha

519

207

204

199

-16,79

-0,81

 

Năng suất

Tấn/ Ha

31,72

56,76

57,05

58,22

12,34

0,51

6

Sản lượng lạc

Tấn

10109

15006

17842

18841

8,22

4,66

 

Diện tích gieo trồng

Ha

7984

9560

10535

10914

3,67

2,69

 

Năng suất

Tấn/ Ha

1,27

1,57

1,69

1,73

4,39

1,92

7

Sản lượng đậu tương

Tấn

17462

45513

54115

57145

21,12

4,66

 

Diện tích

Ha

15148

29933

32388

33553

14,59

2,31

 

Năng suất

Tấn/ Ha

1,15

1,52

1,67

1,70

5,69

2,29

8

Sản lượng đay

Tấn

402

199

196

196

-13,12

-0,30

 

Diện tích

Ha

266

117

115

115

-15,15

-0,40

 

Năng suất

Tấn/ Ha

1,51

1,70

1,70

1,71

2,39

0,10

9

Sản lượng rau đậu

Tấn

384457

472799

562158

593639

4,22

4,66

 

Diện tích gieo trồng

Ha

29333

30924

34078

35305

1,06

2,69

 

Năng suất

Tấn/ Ha

13,11

15,29

16,50

16,81

3,13

1,92

Nguồn: Cục Thống kê thành phố.

- Chăn nuôi

Trong giai đoạn 2001-2005 chăn nuôi có mức tăng khá cao, trừ đàn trâu giảm, tuy nhiên trong giai đoạn 2006-2010 chăn nuôi đã tăng trưởng chậm lại.

Trong chăn nuôi đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi tập trung, các trang trại chăn nuôi lợn, bò sữa, gia cầm.

Chăn nuôi phát triển mạnh, song đang đặt ra nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, kiểm soát và phòng chống dịch bệnh.

Biểu 24. Các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

I

Tổng đàn

 

 

 

 

 

 

 

1

Tổng đàn bò

1000 Con

139,8

205,2

207,6

212,4

7,98

0,69

2

Tổng đàn trâu

1000 Con

55,7

40,2

28,3

28,0

-6,31

-7,00

3

Tổng đàn lợn

1000 Con

1.286,8

1.790,8

1.670,5

1.842,6

6,83

0,57

4

Tổng đàn gia cầm

Triệu con

8,6

14,7

15,6

17,8

11,32

3,94

II

Sản phẩm chăn nuôi

 

 

 

 

 

 

 

1

Thịt lợn hơi

Tấn

121.262

221.027

276.470

308.264

12,76

6,88

2

Thịt trâu hơi

Tấn

1.122

1.209

1.210

1.186

1,50

-0,39

3

Thịt bò hơi

Tấn

2.695

4.369

7.010

7.171

10,14

10,42

4

Thịt gia cầm

Tấn

27.979

28.657

36.470

41.029

0,48

7,44

5

Trứng, gà vịt

Ngàn quả

238.909

340.699

421.104

483.848

7,36

7,27

Nguồn: Cục Thống kê thành phố.

3.3 Thủy sản

Nuôi trồng thủy sản đã có bước phát triển khá. Một số diện tích đất nông nghiệp trồng lúa một vụ, vùng trũng đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản hoặc theo mô hình một vụ lúa, một vụ cá.

Biểu 25. Một số chỉ tiêu về thủy sản

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

1. Sản lượng thủy sản

Tấn

21.069

35.050

40.944

42.681

10,72

4,02

- Sản lượng đánh bắt

Tấn

4.601

3.144

2.656

2.746

-7,33

-2,67

- Sản lượng nuôi trồng

Tấn

16.468

31.906

38.288

39.934

14,14

4,59

2. Diện tích nuôi thủy sản

Ha

 

 

10.158

 

 

 

Nguồn: Cục Thống kê thành phố.

3.4 Lâm nghiệp

Diện tích rừng của Hà Nội không nhiều, nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ trồng rừng trên đồi, núi trọc, trồng cây phân tán trong nhân dân, thay thế vườn tạp bằng cây ăn quả, bảo vệ rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn như: rừng Quốc gia Ba Vì, khu vực Hương Sơn - Mỹ Đức, Sóc Sơn. Hiệu quả của rừng chủ yếu là bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ phát triển du lịch.

Biểu 26. Một số chỉ tiêu về lâm nghiệp

TT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm 2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

I

Trồng và nuôi rừng

 

 

 

 

 

 

 

1

Trồng rừng tập trung

Ha

658

720

228

223

1,82

-20,90

2

Trồng cây phân tán

Ha

751

1229

610

595

10,35

-13,51

3

Chăn sóc rừng

Ha

1.457

2.246

674

671

9,04

-21,46

4

Tu bổ rừng

Ha

1.132

3.212

1.119

1.103

23,19

-19,25

II

Khai thác

 

 

 

 

 

 

 

1

Gỗ tròn khai thác

M3

17.837

9.366

8.645

8.524

-12,09

-1,87

2

Củi khai thác

Ste

12.491

4.914

4.683

4.650

-17,02

-1,10

3

Tre, vầu, luồng

Ngàn cây

3.478

2.978

2.927

2.875

-3,06

-0,70

4

Nứa hàng

Ngàn cây

228

319

329

335

6,95

0,96

Nguồn: Cục Thống kê thành phố.

 

4. Các lĩnh vực xã hội và khoa học - công nghệ

4.1 Giáo dục - đào tạo

4.1.1 Giáo dục

Thành phố Hà Nội hiện có 2.375  cơ sở giáo dục với 43.722 nhóm lớp, 1.337.152 học sinh và 94.500 cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên (trong đó có 72.646 giáo viên) của các cấp học; Ngoài công lập có 316 cơ sở giáo dục và 122.966 học sinh chiếm tỷ lệ 9,2% (theo thống kê giữa năm học).

a. Giáo dục mầm non:

Trên địa bàn Hà Nội có 775 trường với 12.353 nhóm lớp, 289.020 cháu và 16.755 cô giáo. Ngoài công lập có 115 cơ sở, 28.665 cháu chiếm tỷ lệ 9,9%. Triển khai chuyển 357 trường mầm non bán công thành trường công lập. Huy động hầu hết trẻ 5 tuổi đến học lớp mẫu giáo thực hiện phổ cập một năm (số trẻ 5 tuổi tăng hơn 15.000 cháu so với năm học trước).

Tính đến 31/7/2009, toàn Thành phố có 64 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 8,3% của cấp học.

b. Giáo dục tiểu học:

Hà Nội có 674 trường và 7 trường liên cấp, với 13.913 lớp, 411.202 học sinh và 20.246 giáo viên. Ngoài công lập có 22 trường với 8.499 học sinh chiếm tỷ lệ 2,1%. Tổ chức được 73% số học sinh trong các trường tiểu học được học 2 buổi/ngày.

Tính đến 31/7/2009, toàn Thành phố có 261 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 38,7% của cấp học.

c. Giáo dục THCS:

Hà Nội có 586 trường THCS và 25 trường liên cấp (trong đó, Tiểu học và THCS 7 trường, THCS và THPT 18 trường) với 9.391 lớp, 345.685 học sinh và 20.970 giáo viên. Ngoài công lập có 7.603 học sinh chiếm tỷ lệ 2,2%. Huy động được 607 cháu khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập.

Tính đến 31/7/2009, toàn Thành phố có 124 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 21,2% của cấp học.

d. Giáo dục THPT:

Hà Nội có 182 trường với 5.015 lớp, 224.293 học sinh và 11.541 giáo viên. Ngoài công lập có 56.091 học sinh chiếm tỷ lệ 24,8%. Hoàn thành công tác kiểm tra và giao chỉ tiêu kế hoạch năm học 2009 - 2010. Tích cực chuẩn bị và triển khai thực hiện công tác thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh lớp 10 đúng quy định.

Năm học 2008 - 2009, Hà Nội có 138 học sinh THPT dự thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12 với 11 môn, kết quả đạt được 107 giải, trong đó có 7 giải nhất, 34 giải nhì, 35 giải ba và 31 giải khuyến khích. Năm 2008 Hà Nội có 7 học sinh đạt giải quốc tế, trong đó có 3 học sinh THPT đạt giải quốc tế về vật lý, hóa học, 4 học sinh THCS đạt huy chương đồng.

Tính đến 31/7/2009, toàn Thành phố có 16 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 8,8% của cấp học.

e. Giáo dục thường xuyên:

Hiện có 39 trung tâm GDTX và trường BTVH, 284 trung tâm học tập cộng đồng tại các quận huyện. Duy trì tốt công tác xóa mù chữ và phổ cập cấp Tiểu học và THCS đúng độ tuổi; Huy động được 26.797 học viên tham gia, trong đó 24.438 học viên bổ túc THPT. Hoàn thành công tác kiểm tra và giao chỉ tiêu kế hoạch năm học 2009 - 2010, khuyến khích thí điểm dạy và học chương trình THPT. Năm học 2008 - 2009, GDTX có 5 học sinh đạt giải quốc gia về giải toán trên máy tính, trong đó có 1 giải nhất, 1 giải ba và 3 giải khuyến khích.

g. Trung tâm giáo dục KTTH:

Hà Nội hiện có 15 trung tâm GD KTTH đã làm tốt công tác dạy nghề và thi cấp chứng chỉ cho học sinh THCS, THPT và học viên của các trung tâm GDTX.

h. Đánh giá chung

Trong giai đoạn vừa qua GD&ĐT của thành phố đã có nhiều nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ như: Giữ vững và ổn định quy mô giáo dục. Phát triển đa dạng các loại hình trường lớp và hình thức học tập, cơ bản đáp ứng được nhu cầu người học. Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững, chất lượng mũi nhọn được nâng cao. Việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông và nâng cao chất lượng đội ngũ thu được kết quả tốt. Công tác giáo dục pháp luật và giáo dục truyền thống được tăng cường. Chương trình kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa được ưu tiên đầu tư, số trường đạt chuẩn quốc gia tăng nhanh. Quản lý giáo dục có nhiều đổi mới; kỷ cương nền nếp có chuyển biến tích cực. Công tác thi và tuyển sinh được tổ chức an toàn và nghiêm túc. Xã hội hóa giáo dục có chuyển biến rõ rệt, công bằng trong giáo dục được đảm bảo.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, GD&ĐT Thủ đô vẫn còn bộc lộ một số hạn chế: Mạng lưới trường lớp phân bố chưa thật hợp lý; sự quá tải của các trường học khu vực nội thành và các khu đô thị mới; chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các khu vực; cơ sở vật chất của nhiều trường ngoài công lập còn yếu và thiếu; một số ít cán bộ quản lý còn có hạn chế về công tác quản lý nhân sự, quản lý tài chính; tình trạng dạy thêm, học thêm sai quy định chưa được khắc phục triệt để…

Việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia còn gặp phải một số khó khăn: Tiến độ triển khai xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia còn chậm do sự phối hợp chỉ đạo chưa đồng bộ giữa các cấp; Các trường học khu vực nội thành diện tích đất còn thiếu nhiều so với chuẩn; Theo tiêu chuẩn của trường chuẩn quốc gia các trường học của Hà Nội còn thiếu nhiều phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, thư viện chuẩn, nhà thể chất…; Sĩ số học sinh/ lớp, số lớp/trường ở khu vực nội thành vượt quá quy định; Khu vực ngoài thành hiện còn quá nhiều phòng cấp 4, phòng học tạm; số lớp lẻ, điểm lẻ còn nhiều và tổng thể quy hoạch xây dựng trường chưa đồng bộ.

Phát triển giáo dục mới hướng đến số lượng, chưa gắn với nhu cầu và chất lượng. Phát triển các trường công lập và ngoài công lập còn thiếu cân đối; nhất là các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài chưa gắn với nhu cầu phát triển giáo dục - đào tạo Thủ đô.

4.1.2 Đào tạo

Trên địa bàn Hà Nội hiện có 50 trường Đại học, 29 trường Cao đẳng, 45 trường Trung cấp chuyên nghiệp và một số trường, học viện của ngành quân đội, công an, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh với khoảng 530 nghìn sinh viên (năm 2008).

Hiện nay thành phố Hà Nội quản lý 39 trường TCCN, 1 trường Bồi dưỡng cán bộ giáo dục, 1 trường cao đẳng.

Các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố đào tạo hầu hết các nhóm ngành chủ yếu như Sư phạm; Kỹ thuật - Công nghệ; Nông - Lâm - Ngư; Khoa học, bao gồm Tự nhiên, Xã hội và Nhân văn; Kinh tế - Luật; Y - Dược; Thể dục - Thể thao; Văn hoá - Nghệ thuật; Ngoại ngữ và Kinh tế - Kỹ thuật. Trong số đó có các trường đã được thành lập từ lâu hoặc có quy mô đào tạo rất lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Bách khoa Hà Nội, Kinh tế Quốc dân, Y Hà Nội...

Các trường đại học, cao đẳng phân bố trên rất nhiều quận, huyện như  Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Tây Hồ, Hà Đông, Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì, Thường Tín, Hoài Đức, Mê Linh; trong đó các quận Cầu Giấy, Đống Đa có nhiều cơ sở nhất. 

Nhìn chung, phân bố mạng lưới nhà trường chưa hợp lý; do lịch sử để lại, các trường chủ yếu được đặt trong nội thành. Hầu hết các trường, đặc biệt là các trường có quy mô đào tạo lớn tập trung chủ yếu ở các quận Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân và Cầu Giấy. Chưa có những trung tâm đào tạo chất lượng cao đạt các tiêu chí và chuẩn mực của một số trường đại học danh tiếng trong khu vực và quốc tế. Ngành nghề đào tạo còn chồng chéo; mối gắn kết giữa đào tạo và thị trường lao động còn lỏng lẻo; một số ngành nghề được tập trung đào tạo nhiều nhưng nội dung, chương trình đào tạo chưa có những thay đổi cần thiết mang tính đột phá nên chất lượng và hiệu quả đào tạo chưa cao. Tiềm năng nghiên cứu khoa học của các trường đại học chưa được phát huy triệt để. Cơ sở vật chất - kỹ thuật và trang thiết bị của các trường vẫn còn trong tình trạng yếu và thiếu; đất đai, khuôn viên các nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh. Quy mô sinh viên đang vượt quá năng lực đào tạo (cả về đội ngũ giáo viên, về cơ sở vật chất và về trang thiết bị) của từng trường đại học, cao đẳng.

4.2 Y tế

a. Kết quả thực hiện công tác y tế giai đoạn đến năm 2010

- Các mục tiêu, chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe

Hy vọng sống (tuổi thọ trung bình) của người dân Hà Nội (cũ) tăng từ 75 lên 76 tuổi, tuổi thọ trung bình người dân Hà Tây giữ vững 71 tuổi vào năm 2008.

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 12,7%o năm 2008; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 8,86% năm 2008;

Tỷ lệ trẻ sơ sinh đẻ nhẹ cân (dưới 2500 gram) của Hà Nội  (cũ) đã giảm từ 5% xuống 4,6%, Hà Tây (cũ) giảm xuống còn 3,3%, năm 2008 số liệu chung của Hà Nội là 4,5%.

Năm 2008, tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi là 13%o và dưới 5 tuổi là 15%o, là một trong những tỉnh, thành có tỷ lệ thấp nhất trong toàn quốc.

Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ được thành phố luôn giữ vững và duy  trì về số lượng và chất lượng cao với tỷ lệ 99,9%.

Tình hình thực hiện Chuẩn quốc gia y tế cơ sở: Từ năm 2003, UBND thành phố Hà Nội và UBND tỉnh Hà Tây đã chỉ đạo, hướng dẫn triển khai xây dựng chuẩn quốc gia y tế cơ sở. Năm 2003 chỉ có 32 xã, phường đạt chuẩn quốc gia (5,5%), năm 2008 số xã, phường đạt chuẩn quốc gia đã tăng lên 437 (76%). Năm 2009 số xã, phường đạt chuẩn quốc gia là 487 (84,4%), năm 2010 dự kiến 527 xã, phường đạt chuẩn quốc gia, đạt 97,3%.

Chỉ tiêu về giường bệnh/10.000 dân (chỉ tính số giường bệnh thuộc Sở Y tế Hà Nội) khoảng 13,5/10.000 (năm 2009) và dự kiến đạt 14,5 giường/10.000 dân vào năm 2010, nếu tính cả số giường bệnh của các bệnh viện Trung ương trên địa bàn thì tỷ lệ này khoảng 25 giường/10.000 dân.

- Công tác phòng bệnh:

Ngành y tế Hà Nội có mạng lưới giám sát dịch rộng rãi nên đã xác định được nguy cơ xảy ra dịch, góp phần dự báo dịch sớm, giúp tuyến trên chủ động khống chế và phòng chống kịp thời, là nòng cốt trong việc triển khai công tác vệ sinh môi trường ở xã, phường, thị trấn. Trong những năm qua ngành y tế Hà Nội luôn chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh vì vậy đã khống chế, dập tắt một số nguồn dịch bệnh nguy hiểm như SARS, viêm phổi cấp do virus, tiêu chảy cấp...

- Công tác phát triển y tế cơ sở:

Phát triển và củng cố, nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Thủ đô. Hệ thống y tế cơ sở không ngừng được củng cố, hoàn thiện cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ. Đến nay, 100% cán bộ y tế cơ sở có trình độ từ trung học trở lên; tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ tăng từ 80,8% năm 2007 lên 86,1% năm 2008. Xây dựng được 437 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế cơ sở (tích luỹ đến năm 2008) nâng tỷ lệ đạt 76% tổng số xã phường trên địa bàn toàn Thành phố; Đặc biệt cho đến nay đã có 14/29 quận, huyện hoàn thành chuẩn quốc gia y tế xã, phường. Hiện tại thành phố vẫn tiếp tục tạo điều kiện và chủ trương nâng cấp đầu tư trang thiết bị y tế, cơ sở hạ tầng và bổ sung nguồn nhân lực cho các trạm y tế; Tỷ lệ nhân viên y tế thôn bản tăng từ 80% (năm 2007) lên 100% (năm 2008)... Ngành y tế phối hợp với các trường Đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội đào tạo bác sỹ cho y tế cơ sở và y tế quận, huyện. Các chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế cơ sở như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phụ cấp đặc thù... được quan tâm giải quyết.

b. Hệ thống y tế

Các cơ sở y tế của Hà Nội cũng như của Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội (bao gồm các Bệnh viện, các Viện nghiên cứu, Trường Cao đẳng, Đại học Y- dược) vừa làm công tác khám chữa bệnh đồng thời cũng là nơi nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành. Một số viện nghiên cứu còn là trung tâm, hạt nhân nghiên cứu của cả vùng, cả nước, tham gia nghiên cứu Y - Dược của thế giới.

- Cơ sở y tế :

Trên địa bàn thành phố hiện có 89 cơ sở, trong đó có 18 viện nghiên cứu, trường cao đẳng, đại học.

+ Các cơ sở Y tế Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội (do Bộ Y tế và các ngành quản lý) đầu tư từ đầu thế kỷ trước và những năm đầu của thời kỳ đổi mới; không được đầu tư đồng bộ nên hiện trạng quy hoạch xây dựng đến thời điểm này không đáp ứng đầy đủ với nhu cầu cấp thiết của sự phát triển kinh tế-xã hội. Hiện tại trên địa bàn thành phố Hà Nội có 32 cơ sở y tế do Bộ Y tế quản lý, trong đó có 16 Bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 16 Viện Nghiên cứu và các trường Đại học... Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn 9 bệnh viện và trung tâm khám chữa bệnh do các Bộ, ngành và 5 bệnh viện do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quản lý.

+ Các cơ sở y tế thuộc thành phố Hà Nội (bệnh viện thành phố và huyện):

Hiện có 37 bệnh viện (11 bệnh viện thành phố, 13 bệnh viện chuyên khoa và 13 bệnh viện đa khoa huyện) và 6 trung tâm chuyên khoa có giường bệnh, tổng số có 43 đơn vị có giường bệnh), đang xây dựng thêm bệnh viện đa khoa huyện Gia Lâm; hiện có 2 trường cao đẳng y tế công lập và đang xây dựng 01 trường Trung học y dược dân lập.

+ Các bệnh viện đa khoa tư nhân: số bệnh viện đa khoa tư nhân đang hoạt động là 13 đơn vị; số dự án xây dựng bệnh viện tư nhân là 15, trong đó 7 dự án đã được giao đất xây dựng bệnh viện.

- Nguồn nhân lực:

Tổng số có 13.106 cán bộ y tế do thành phố quản lý:

+ Tuyến thành phố: 6.578 chiếm 50,2%

+ Tuyến quận, huyện, thị xã: 3.346 chiếm tỷ lệ 25,5%.

+ Tuyến xã/phường/thị trấn: 3.182 chiếm tỷ lệ 24,3%.

- Cơ sở vật chất và trang thiết bị:

Trong những năm qua, ngành y tế Thủ đô được sự quan tâm của UBND Thành phố, Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan nên công tác đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế được nâng cấp, phần nào đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân.

Về cơ sở vật chất: một số bệnh viện được đầu tư nâng cấp và thành lập mới như: Ung Bướu, Thanh Nhàn, Xanh Pôn, Bệnh viện Thận..., nhiều trạm y tế phường, xã, khu vực phía Tây Thành phố và cơ sở y tế khác.

Về trang thiết bị: Từ năm 2006 đến nay đã có những bước chuyển biến rõ rệt về đầu tư trang thiết bị y tế: đầu tư đồng bộ trang thiết bị y tế cho hệ thống mổ tim của bệnh viện Tim Hà Nội. Đầu tư trang thiết bị chuẩn đoán hình ảnh, hồi sức cấp cứu, mổ và cấp cứu nhi cho bệnh viện Xanh Pôn. Trang bị hệ thống mổ Phaco và hệ thống chụp huỳnh quang võng mạc cho bệnh viện Mắt. Nhiều đơn vị đã chủ động hợp tác huy động vốn và đầu tư kinh phí bằng các nguồn thu khác để đầu tư trang bị phục vụ yêu cầu chuyên môn của đơn vị (bệnh viện Xanh Pôn, bệnh viện Phụ sản, bệnh viện Thanh Nhàn,...). Tranh thủ được các nguồn đầu tư thông qua viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (bệnh viện Xanh Pôn, bệnh viện Phụ sản, bệnh viện Lao và Bệnh phổi, bệnh viện Việt Nam - Cu Ba) do vậy tổng mức đầu tư đã có sự thay đổi rõ rệt so với thời gian trước.

            4.3 Văn hóa - Thể dục thể thao

            a) Văn hóa

Môi trường văn hóa Thủ đô chuyển biến tích cực, văn hóa ở nơi công cộng được cải thiện, văn minh xã hội được nâng lên một bước. Hà Nội là địa phương đảm bảo tốt các điều kiện phúc lợi xã hội cho sự phát triển con người. Công tác quản lý văn hoá, bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được tăng cường có hiệu quả.

 Chương trình Phát triển văn hoá, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, thiết thực kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội được tuyên truyền sâu rộng tới toàn dân. Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng người Hà Nội thanh lịch - văn minh được đẩy mạnh kết hợp với việc thực hiện phong trào xây dựng Thủ đô văn minh - xanh - sạch đẹp. Mô hình gia đình văn hóa, làng, tổ dân phố, khu phố văn hóa, các hình thức tự quản được triển khai sâu rộng. Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá đã tăng từ 65% năm 2000 lên 70% năm 2005 và dự kiến đạt 75% năm 2010.

Hoạt động văn hóa - thông tin phong phú phục vụ tốt các dịp kỷ niệm, ngày lễ và tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Công tác tuyên truyền và tổ chức các hoạt động kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và Đại lễ kỷ niệm được chuẩn bị chu đáo.

Biểu 27. Một số chỉ tiêu về văn hoá - thể thao

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm

2000

Năm

2005

Năm

2009

Năm

2010

1. Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa

%

65

70

72

75

2. Tỷ lệ dân số tham gia luyện tập thể dục thể thao th­ường xuyên

%

19

22

28

29

Nguồn: Cục Thống kê thành phố.

 

Nhiều di sản văn hóa được bảo tồn, sưu tập, tôn tạo và phát huy tác dụng như Khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Thành cổ Hà Nội. Một số công trình văn hóa mới (vật thể và phi vật thể) có giá trị đã và đang được xây dựng như Tượng đài Lý Thái Tổ, Tượng đài Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, Thư viện Hà Nội, Bảo tàng Hà Nội... Nhiều hoạt động giao lưu văn hóa lớn như ASEM V, Lễ hội Kỷ niệm 995 năm Thăng Long - Hà Nội được tổ chức thành công, góp phần nâng cao vị thế của Thủ đô ở trong nước và trên thế giới.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vai trò, tiềm năng, vị thế và nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Thủ đô. Một số phong trào còn nặng về hình thức, thiếu chiều sâu, kém hiệu quả. Nét đẹp thanh lịch, văn minh, nhất là trong giao tiếp, ứng xử chưa trở thành nếp sống tự giác phổ biến, chưa thành thói quen của người dân; một bộ phận thanh, thiếu niên nhận thức lệch lạc, thiếu ý chí vươn lên. Những tồn tại nêu trên đã hạn chế nhiều đến sự phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.

b) Thể dục - thể thao

Thể dục thể thao có bước phát triển mạnh. Phong trào thể dục thể thao quần chúng được mở rộng cả ở các khu dân cư, trường học, cơ quan, đơn vị. Tỷ lệ dân số tham gia luyện tập thể dục thể thao th­ường xuyên tăng từ 19% năm 2000 lên 22% năm 2005 và dự kiến đạt 29% năm 2010.

Hà Nội dẫn đầu cả nước trong việc du nhập và phát triển các môn thể thao mới; thể thao thành tích cao đạt nhiều thành tích trong nước và quốc tế. Cơ sở vật chất tiếp tục được đầu tư nâng cấp và xây dựng, trong đó có các công trình lớn như Khu liên hợp thể thao Mỹ Đình, Nhổn, Cung thể thao Quần Ngựa, nhà thi đấu các quận, huyện. Hà Nội đã tổ chức thành công nhiều đại hội thể thao lớn tầm cỡ khu vực như SEAGAMES 23, PARAGames II, Đại hội thể thao châu Á trong nhà lần thứ 3.

            4.4 Các lĩnh vực xã hội khác

Thành phố đã quan tâm giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn của nhân dân, nhất là nhân dân ngoại thành, vùng sâu, vùng xa như triển khai các biện pháp hỗ trợ nông dân khắc phục thiệt hại do thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài; tạm dừng triển khai việc tăng giá đối với vận chuyển hành khách bằng xe buýt, nước sạch, học phí, viện phí..., ngừng thu phí thuỷ lợi; miễn phí xe buýt cho người có công với cách mạng. Xây dựng, phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án "Một số giải pháp hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, dạy nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp". Năm 2008 Thành phố giảm khoảng 13.000 hộ nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 16% (theo chuẩn mới dự kiến của Thành phố). Tích cực triển khai phòng chống các tệ nạn xã hội (ma tuý, mại dâm).

            4.5 Khoa học - công nghệ

a. Các kết quả đạt được

Với vị thế của Thủ đô, là nơi tập trung đông nhất các nhà khoa học đầu ngành đang công tác tại hơn 80 trường Đại học - Cao đẳng, 113 cơ quan nghiên cứu khoa học. Trong đó số giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội chiếm hơn 65% tổng số các nhà khoa học trong cả nước. Hà Nội có một nền tảng vững chắc phục vụ cho công tác nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ.

Thời gian qua, hoạt động khoa học và công nghệ đã có những đóng góp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Thủ đô, ngày càng khẳng định vai trò là đòn bẩy, là động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô.

Lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn có những đóng góp quan trọng trong việc tiếp tục khẳng định, vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay; góp phần vào việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo các Chủ trương, Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn Thủ đô, đề xuất định hướng, hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch và các giải pháp phát triển góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trong khu vực và thế giới; một số công trình khoa học cơ bản đã xây dựng cơ sở khoa học cho đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ. Nhiều kết quả nghiên cứu đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu công nghệ hiện đại, định hướng cho việc bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn Thủ đô.

Các hoạt động quản lý nhà nước về Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng tiếp tục được chú trọng triển khai và đem lại những kết quả tốt. Công tác thanh tra luôn đảm bảo đúng quy trình thanh tra, đúng quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Hoạt động an toàn bức xạ hạt nhân đã góp phần bảo vệ sức khỏe của người dân, kịp thời khắc phục các sự cố phóng xạ xảy ra trên địa bàn. Lĩnh vực Sở hữu trí tuệ giúp các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp và các địa phương xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm truyền thống nhằm nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm. Hoạt động triển khai và hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO trong cơ quan hành chính nhà nước và các doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh; góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và thực hiện công tác cải cách hành chính của thành phố; các doanh nghiệp nhờ việc áp dụng hệ thống ISO tiên tiến vào sản xuất đã nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của Thủ đô.

Nhờ đó, Khoa học và Công nghệ đã góp phần tạo ra những chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa. Những đổi mới công nghệ trong ngành công nghiệp đã góp phần làm cho sản xuất công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng cao liên tục trong những năm qua. Trong lĩnh vực nông nghiệp của Thủ đô nhờ áp dụng các tiến bộ KH&CN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, từng bước chuyển dịch sang nền nông nghiệp trình độ cao với việc hình thành các vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn, tạo ra các loại giống cây trồng vật nuôi cho năng suất và chất lượng cao…

b. Hạn chế

Trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa Thủ đô và đất nước, hoạt động Khoa học và Công nghệ Thủ đô chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, nguồn nhân lực hiện có; chưa trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tập trung đông nhưng còn bất hợp lý về ngành nghề, trình độ, lĩnh vực hoạt động, còn thiếu những chuyên gia đầu ngành; Chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế; Đội ngũ cán bộ nghiên cứu được trang bị khá vững về lý thuyết nhưng còn hạn chế về năng lực thực hành, kỹ năng về công nghệ.

Kinh phí đầu tư cho KH&CN còn dàn trải, chưa tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc của Thủ đô, những công nghệ trọng điểm, có ý nghĩa quyết định tạo ra nhiều ngành nghề mới và giá trị kinh tế cao.

Hệ thống các cơ chế, chính sách thúc đẩy nhu cầu đầu tư khoa học và công nghệ của doanh nghiệp; cơ chế hỗ trợ các sản phẩm nghiên cứu và phát triển công nghệ trở thành sản phẩm hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của các lĩnh vực kinh tế xã hội còn thiếu và chưa đồng bộ.

 

5. Kết cấu hạ tầng

5.1 Mạng lưới giao thông

a. Về hệ thống giao thông đường bộ:

Trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay có khoảng 3.974 km; trong đó 9 quận nội thành cũ có 643 km đường (chiếm khoảng 6,8% diện tích đất đô thị), quận Hà Đông có 37,1 km đường (chiếm 8,8% diện tích), thị xã Sơn Tây có 50,7 km đường (chiếm 4,9% diện tích).

Bộ Giao thông Vận tải trực tiếp quản lý 10 đoạn tuyến quốc lộ qua Hà Nội với chiều dài khoảng trên 150 km (gồm: QL2, QL3, QL5, QL6, QL18, đường Hồ Chí Minh đang thi công, đường Pháp Vân - Cầu Giẽ, đường Láng - Hoà Lạc, đường Nội Bài - Bắc Ninh, đường Bắc Thăng Long - Nội Bài).

Ngoài các tuyến đường do Bộ Giao thông Vận tải, trên địa bàn Thành phố có khoảng 3.628 km đường và 237 cầu các loại (Sở Giao thông Vận tải quản lý 1.178 km đường với 583 tuyến; các quận huyện, thị xã quản lý, duy trì khoảng 2.450 km đường giao thông nông thôn gồm các tuyến chưa đặt tên, tuyến đường trục của huyện, đường liên xã). Các tuyến đường quốc lộ do Bộ Giao thông Vận tải uỷ thác quản lý gồm 4 tuyến (gồm: QL32, QL21B, QL21 và QL2C) với chiều dài 142,45 km và 25 cầu.

b. Về giao thông đường thuỷ nội địa:

- Mạng lưới đường thuỷ:

Trên địa bàn Thành phố có hệ thống sông với quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Trong đó, có các sông lớn chảy qua địa bàn như: sông Hồng; sông Đà; sông Đáy; sông Tích. Các tuyến sông do Trung ương quản lý dài 188 km, gồm có sông Đà (32 km), sông Đáy (38 km), sông Hồng (118 km). Các tuyến sông do Hà Nội quản lý dài 207 km, bao gồm: sông Tích (55 km), sông Nhuệ (49 km), sông Bùi (26 km), sông Đáy (77 km), sông Hồng (40 km).

- Hệ thống cảng bến:

Trên địa bàn Hà Nội hiện nay có 9 cảng sông có hệ thống kho bãi và công trình phụ trợ:

+ Cảng Khuyến Lương, cảng Thanh Trì, cảng Chèm và bến Chương Dương, bến Bát Tràng, cảng Phù Đổng, cảng Đức Giang (địa bàn Hà Nội cũ).

+ Cảng Sơn Tây, cảng Hồng Vân, cảng Vạn Điểm (địa bàn Hà Tây cũ).

+ Cảng Chu Phan (địa bàn huyện Mê Linh)

Ngoài ra, Hà Nội có 17 bến thuỷ nội địa và 58 bến khách ngang sông.

c. Về hệ thống giao thông đường sắt:

Hệ thống đường sắt trên địa bàn Thành phố Hà Nội có chiều dài 90 km, có 5 ga chính (Hàng Cỏ, Giáp Bát, Văn Điển, Gia Lâm và Yên Viên) và một số ga phụ (Thường Tín, Chợ Tía, Phú Xuyên, Ba La). Cơ sở hạ tầng của đường sắt còn cũ, lạc hậu, chưa được đầu tư hiện đại, việc vận tải hành khách và hàng hoá còn nhiều hạn chế. Các nút giao cắt với các tuyến đường bộ phần lớn là giao bằng; còn nhiều tuyến đường ngang qua đường sắt thiếu rào chắn, đèn báo hiệu, người gác.

Các trục đường sắt hướng tâm thực chất là các trục đường sắt quốc gia nối vào đầu mối Hà Nội. Hiện tại, có 5 tuyến đường sắt nối vào đầu mối Hà Nội  (trong đó có 4 tuyến ở phía Bắc sông Hồng nối vào đầu mối theo dạng hình rẻ quạt), gồm các tuyến: Hà Nội- TP Hồ Chí Minh (đường sắt Bắc Nam); Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Đồng Đăng; Hà Nội - cảng Cái Lân (chở hàng) và đường sắt vành đai Hà Nội trở thành một vòng khép kín, trong đó có 2 ga lập tàu khách, 2 ga lập tàu hàng.

Hiện nay Thành phố Hà Nội đang phối hợp với Bộ Giao thông vận tải triển khai các dự án đường sắt trên cao, gồm tuyến Yên Viên - Ngọc Hồi, tuyến Nhổn - Ga Hà Nội, tuyến Cát Linh - Hà Đông.

d. Hàng không:

Trên địa bàn Thành phố hiện nay có các sân bay: Nội Bài (đi quốc tế, nội địa); Gia Lâm (bay dịch vụ kết hợp quân sự); Bạch Mai, Hoà Lạc và Miếu Môn (đều là sân bay quân sự). Trong những năm qua, các sân bay này được đầu tư nâng cấp nhưng chỉ dừng ở mức quy mô nhỏ lẻ. Duy nhất chỉ có sân bay Nội Bài là sân bay quốc tế được đầu tư ở quy mô lớn. Hiện tại, Tổng công ty Hàng không Việt Nam đang triển khai công tác giải phóng mặt bằng cho dự án Nhà ga hành khách T2 Nội Bài.

e. Về vận tải hành khách công cộng:

Mạng lưới xe buýt hiện có 73 tuyến, trong đó 60 tuyến có trợ giá và 13 tuyến xe buýt kế cận không trợ giá với tổng số 1.200 xe hoạt động. Ngoài ra, còn có 5 tuyến xe buýt chuyên trách phục vụ cán bộ công chức đi làm hàng ngày. Năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009 đã vận chuyển được 604,5 triệu lượt hành khách.

Hiện có 464 tuyến xe khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe đi đến các tỉnh, thành trong cả nước. Năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009 vận chuyển trên 45 triệu lượt hành khách.

Trên địa bàn Thành phố có 104 doanh nghiệp vận tải hành khách bằng xe taxi hoạt động với trên 9.000 xe. Năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009 đã vận chuyển được trên 40 triệu lượt hành khách.

g. Về số lượng phương tiện giao thông trên địa bàn:

 Tính đến nay, trên địa bàn Thành phố có 255.384 ôtô các loại, 2,54 triệu xe máy, khoảng 1 triệu xe đạp và 300 xe xích lô (chưa kể các loại phương tiện đăng ký ngoại tỉnh hoạt động trên địa bàn Hà Nội). Tốc độ gia tăng ô tô, xe máy khá nhanh (khoảng 12 - 15%/năm).

h. Về hệ thống giao thông tĩnh và bến xe:

 Khu vực các quận nội thành có tổng số trên 150 điểm trông giữ xe công cộng với diện tích 272.370 m2 với công suất phục vụ trông giữ trên 9,5 triệu lượt xe/năm. Diện tích đất dành cho các bãi đỗ xe khu vực nội thành mới chỉ đạt 1,2% diện tích đất đô thị (đạt tiêu chuẩn là 5 - 6%). Điển hình như bài đỗ xe tĩnh quy mô lớn như Ngọc Khánh, Dịch Vọng đều quá tải.

Hà Nội hiện có 6 bến xe khách liên tỉnh, bao gồm: Giáp Bát, Nước Ngầm, Lương Yên, Mỹ Đình, Hà Đông, Xuân Mai. Hầu hết các bến xe này hoạt động đều không theo một mô hình quản lý thống nhất, vào dịp cuối năm các bến xe này đều vào tình trạng quá tải nên dẫn đến hiện tượng lộn xộn mất an ninh trật tự và an toàn giao thông.

5.2 Mạng lưới cấp điện

- Nguồn điện

Hiện tại Thủ đô Hà Nội được cung cấp điện chủ yếu từ các nhà máy điện Hòa Bình, Phả Lại... thông qua hệ thống điện miền Bắc và từ trạm 500 KV Thường Tín công suất 1x450 MVA mới đưa vào vận hành tháng 12/2005.

- Lưới điện 220 KV và 110 KV

Hiện nay Thành phố Hà Nội được cấp điện từ các trạm biến áp 220 kV là: Trạm 220 KV Hà Đông (2x250 MVA); Mai Động (2x250 MVA); Chèm (2x250 MVA); Sóc Sơn (2x125 MVA), Xuân Mai (1x125 MVA) và Phố Nối (2x125 MVA)...

Các trạm biến áp 220 kV này cấp điện cho 32 trạm biến áp 110 kV, trong đó có 21 trạm nằm trên địa bàn 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội cũ và 11 trạm trên địa bàn Hà Tây cũ. Tổng dung lượng các trạm biến áp 220 KV khoảng 3.000 MW.

Trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng nhu cầu phụ tải khu vực Hà Nội là khá cao. Tuy các trạm Sóc Sơn, Phố Nối mới được tăng công suất nhưng hiện đã vận hành ở mức đầy tải, dự báo trong thời gian tới, các trạm nguồn trên sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu công suất phụ tải. Do vậy việc sử dụng gam máy biến áp 125 MVA trên thực tế là không phù hợp với khu vực thành phố Hà Nội.

Nhìn chung các tuyến đường dây 220 KV từ Hòa Bình, Phả Lại cấp nguồn cho các trạm 220 KV đều vận hành ở tình trạng đầy tải, khi sự cố một tuyến đường dây dễ gây mất ổn định cung cấp điện cho Hà Nội. Ngoài ra, các tuyến đường dây trên đi qua nhiều địa hình phức tạp, mức mang tải cao, gây khó khăn cho công tác quản lý vận hành lưới điện. Tổng chiều dài đường dây 220 KV trên địa bàn thành phố là 557 km.

Đối với hệ thống các đường dây 110 KV Hà Nội, mặc dù các tuyến đường dây 110 KV đều là các tuyến mạch kép nhưng khả năng truyền tải công suất và đáp ứng sự tăng trưởng phụ tải là khó khăn do hầu hết chỉ có tiết diện AC - 185, vẫn còn nhiều tuyến còn có tiết diện AC - 120. Nhiều đường dây đã có thời gian vận hành khá lâu. Tổng chiều dài đường dây 110 KV trên địa bàn thành phố là 607 km. Tổng dung lượng các trạm biến áp 110 KV khoảng 2.468 MW

- Mạng lưới phân phối điện

Lưới điện phân phối còn tồn tại nhiều cấp điện áp cũng như còn tồn tại nhiều các trạm trung gian chưa phù hợp với tiêu chuẩn hoá. Mạng lưới phân phối tại khu vực nội thành chủ yếu đi nổi gây mất mỹ quan đô thị.

Tổng điện năng tiêu thụ của thành phố năm 2008 là 6,82 tỷ KWh. Tiêu thụ điện bình quân đầu người năm 2008 đạt 1.074 KWh.

5.3 Thông tin và truyền thông

Trong những năm gần đây, mạng thông tin di động đã phát triển rất nhanh, với nhiều loại hình, dịch vụ đa dạng tạo nên một thị trường sôi động và phong phú. Trên địa bàn Hà Nội có mạng chuyển mạch, truyền dẫn cáp quang có độ an toàn cao do được nối theo cấu hình mạng vòng, an ninh an toàn mạng cao. Đến cuối năm 2009, Hà Nội có 1.701.000 thuê bao điện thoại cố định, mật độ 26,8 máy/100 dân. Tổng số thuê bao di động (bao gồm cả trả trước và trả sau) khoảng 17 triệu thuê bao, đạt mật độ 274,7 máy/100 dân. Toàn thành phố có trên 891.372 thuê bao ADSL, xDSL, đại lý Internet, tăng 53,2% so với cùng kỳ năm 2008.

Mạng lưới bưu cục, điểm phục vụ bưu chính của Thành phố Hà Nội những năm gần đây đã có sự tiến bộ đáng kể, số lượng các điểm phục vụ ngày càng được mở rộng, hoàn thiện phù hợp với điều kiện mới và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Hiện nay đã có 345 điểm phục vụ, 378 điểm Bưu điện văn hóa xã. Các dịch vụ bưu chính được phát triển ngày càng đa dạng và thuận tiện cho người dân.

5.4 Cấp nước

- Khu vực Hà Nội trước đây

Nguồn nước hiện đang sử dụng để cấp nước cho Hà Nội là nguồn nước ngầm khai thác chủ yếu từ tầng chứa nước pleistocene hoặc tầng chứa nước dưới Qa trong lớp đệ tứ nằm dưới lòng đất thành phố.

Nguồn nước ở phía Nam nội thành Hà Nội có hàm lượng sắt, amôniắc rất cao. Tại các bãi giếng của nhà máy nước Pháp Vân, Tương Mai, Hạ Đình hàm lượng Fe trung bình vào khoảng 8,1-11,2 mg/l, còn hàm lượng NH4+ trung bình lên tới 10,4-19,7 mg/l, đồng thời nguồn nước có dấu hiệu bị nhiễm bẩn hữu cơ ở mức độ thấp. Một tỷ lệ nhất định các mẫu nước ở khu vực phía Nam có phát hiện thấy chỉ số vi trùng fecal coliform cao. Cùng với sự hiện diện của thành phần NH4+, điều này chứng tỏ nguồn nước ngầm ở phía Nam bị nhiễm bẩn bởi nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp vì thế cần thiết phải có một chương trình giám sát và bảo vệ nguồn nước nghiêm chỉnh mới mong duy trì được khả năng khai thác, sử dụng lâu dài nguồn nước ngầm ở khu vực phía Nam Hà Nội.

Khác với nguồn nước ngầm ở phía Nam, nguồn nước ngầm của các bãi giếng ở khu vực phía Bắc nội thành Hà Nội lại có hàm lượng mănggan cao hơn các bãi giếng phía Nam. Trong khi đó hàm lượng sắt và amôniắc tại khu vực này lại rất thấp. Các khu vực Gia Lâm, Sài Đồng, Cáo Đỉnh thường xuất hiện nguồn nước có sắt và mănggan tồn tại ở dạng keo của axit humic và keo silic. Các chỉ tiêu chất lượng còn lại đều nằm trong phạm vi cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh quy định.

Khu vực phía Nam sông Hồng thành phố Hà Nội có 10 nhà máy nước chính do Công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội quản lý và vận hành với tổng công suất khoảng 544 nghìn m3/ngày đêm.

Khu vực phía Bắc sông Hồng gồm 3 nhà máy nước (Gia Lâm, Sân bay Gia Lâm và Đông Anh) do Công ty kinh doanh nước sạch số 2 Hà Nội quản lý với tổng công suất khoảng 98 nghìn m3/ngày đêm.

Ngoài các nhà máy chính này còn có các trạm cấp nước nhỏ trong phạm vi thành phố do Công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội và một số trạm cấp nước nhỏ do các cơ sở tư nhân quản lý vận hành.

Hiện nay trên địa bàn thủ đô Hà Nội trước đây vẫn không cung cấp đủ lượng nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt của người dân thành phố, kể cả vùng nội đô. Tỷ lệ dân số được cấp nước sạch chỉ đạt khoảng 75-80%, tỷ lệ nước thất thoát và thất thu là khá lớn, khoảng trên 30%.

Hiện nay, áp dụng giá nước khác nhau cho các đối tượng sử dụng nước như: nước sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước, nước dịch vụ sản xuất kinh doanh, nước phục vụ trường học, bệnh viện, nước cho xây dựng... đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước và khả năng thanh toán của các đối tượng dùng nước. Tuy nhiên, một vấn đề còn tồn tại là tỷ lệ thất thoát, thất thu còn khá cao. Ngoài các nguyên nhân khách quan như thất thoát do đường ống cũ, chế độ dùng nước khoán, quá trình cải tạo sửa chữa đường ống, chưa có thiết bị phát hiện dò rỉ và còn có nguyên nhân chủ quan do chưa có biện pháp tích cực trong quản lý dẫn đến các hộ dân tự ý đục phá đường ống, chỉnh đồng hồ đo nước...

- Khu vực Hà Tây cũ

Hiện nay, trong số các đô thị của tỉnh Hà Tây, chỉ có Hà Đông, Sơn Tây và Hoà Lạc là có hệ thống cấp nước tập trung quy mô lớn. Các nguồn nước cấp cho Hà Đông, Sơn Tây và Hoà Lạc hiện nay là nguồn nước ngầm.

Tổng công suất thiết kế của 2 nhà máy ở Hà Đông là 36.000 m3/ngày đêm, tuy nhiên trên thực tế tổng công suất cấp nước của 2 nhà máy trên chỉ đạt 24.500 m3/ngày đêm. Nguyên nhân là cả 2 nhà máy đều sử dụng nguồn nước ngầm mà hiện nay nguồn nước ngầm đang bị suy giảm, thoái hoá nghiêm trọng. Mạng lưới đường ống hiện trạng chỉ có khả năng cấp nước cho các phường nội thị và một số xã liền kề. Tỷ lệ dân số được cấp nước chiếm khoảng 85% dân số thành phố. Bản thân vùng nội thị được cấp nước thì tỷ lệ nước thất thoát, thất thu đang ở mức rất cao, khoảng 35%.

Hệ thống cấp nước của thị xã Sơn Tây tương đối tốt. Hiện tại trên địa bàn thị xã có 2 nhà máy nước đang hoạt động. Nhà máy số 1 có công suất 10.000 m3/ngày đêm được xây dựng từ năm 1989. Nhà máy số 2 được xây dựng vào năm 2002 với công suất 10.000 m3/ngày đêm. Cùng với hệ thống giếng khoan, hiện tại công suất cấp nước của thành phố đạt 20.000 m3/ngày đêm; khoảng 70% số dân thị xã được dùng nước sạch. Hệ thống đường ống đã phủ kín nội thị và vùng ven. Tỷ lệ nước thất thoát hiện tại khoảng 20%. Đã xây dựng một số trạm chuyển tiếp cho những phường ở xa trung tâm như Xuân Khanh, Thanh Mỹ. Thực hiện theo chương trình cấp nước cho Thủ đô từ Hoà Bình, thị xã đã triển khai xây dựng hệ thống đường ống dọc QL 21 và QL 32 để tận dụng cấp nước cho những xã ở xa trung tâm bằng nguồn nước của Dự án cấp nước sông Đà.

- Huyện Mê Linh

Trên địa bàn huyện có Nhà máy nước được xây dựng năm 2004 công suất 4.000 m3/ngày đêm, sử dụng nguồn nước ngầm để cấp nước cho khu công nghiệp Quang Minh và khu đô thị Quang Minh, chủ yếu cấp cho các nhà máy sản xuất.

5.5 Thoát nước và xử lý nước thải

a. Hệ thống thoát nước

Việc thoát nước thải, nước tự nhiên và nước mưa của thành phố Hà Nội chủ yếu dựa vào các hệ thống sông chảy qua thành phố, bao gồm hệ thống sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ, sông Cà Lồ, sông Đáy, sông Hồng.

Thoát nước khu vực nội thành phía Nam Hà Nội qua sông Tô Lịch và sông Nhuệ là chủ yếu và thực hiện cả chức năng thoát nước thải và nước mưa. Khi Hà Nội có khả năng ngập úng thì chức năng thoát nước của sông Nhuệ được xẻ bớt cho sông Hồng qua trạm bơm Yên Sở.

Sau khi thực hiện Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn 1, các sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu và một số hồ trên địa bàn thành phố được cải tạo, xây dựng, cải tạo các cống thoát nước và hoàn thành trạm bơm Yên Sở với công suất 45 m3/s thoát nước ra sông Hồng, hiện nay đang mở rộng trạm bơm Yên Sở lên 90 m3/s.

Nhìn chung hệ thống thoát nước của thành phố hiện nay rất yếu, làm hạn chế đến khả năng thu gom nước mưa, nước thải. Tính bình quân trên địa bàn toàn thành phố, mật độ cống vào khoảng 62 m/ha; còn tỉ lệ đường cống so với đầu người ở Hà Nội thì quá thấp so với các đô thị trên thế giới. Ngoài ra, đường cống thoát nước cũng chỉ chiếm khoảng 70% chiều dài của đường phố, tập trung chủ yếu trong khu vực phố cũ. Nhiều tuyến phố và khu vực chưa có cống như đường Phạm Văn Đồng, Giảng Võ, Lĩnh Nam, Ngô Văn Sở... Hệ thống cống rãnh trong các khu vực ngõ xóm, khu vực đô thị hoá (đặc biệt là khu vực từ xã chuyển lên phường) khá manh mún, khớp nối thiếu đồng bộ với hệ thống chính. Đối với các tuyến mương hở của thành phố, khả năng tiêu thoát cũng không khả dĩ hơn, nhiều mương nông nghiệp phải thực hiện chức năng thoát nước.

b. Xử lý nước thải

- Nước thải công nghiệp:

Thành phố hiện có 26 khu công nghiệp, có khoảng 40 cụm và trên 50 điểm công nghiệp làng nghề đã và đang được xây dựng.

Tổng khối lượng nước thải công nghiệp khoảng từ 100.000 đến 120.000 m3/ngày đêm, lượng nước thải của các cơ sở công nghiệp cũ nằm phân tán mới được xử lý 20-30%. Chỉ có 3 khu công nghiệp tập trung mới (KCN Bắc Thăng Long, Phú Nghĩa và Quang Minh I), 2 cụm công nghiệp (Ngọc Hồi và Phùng Xá) có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tập trung còn phần lớn các cơ sở sản xuất đều không có trạm xử lý nước thải.

- Nước thải sinh hoạt:

Tổng lượng nước thải sinh hoạt của khu vực nội thành, nội thị khoảng 700.000 m3/ngày đêm. Nước thải sinh hoạt phần lớn chỉ được xử lý sơ bộ tại các bể tự hoại trước khi xả vào các tuyến cống chung hoặc kênh mương, ao, hồ. Hiện tại trên địa bàn thành phố có 4 trạm xử lý nước thải công nghiệp tập trung với công suất thiết kế đạt 48.500 m3/ngày đêm chiếm 6,9% là: Kim Liên, Trúc Bạch, Bắc Thăng Long - Vân Trì, Khu đô thị mới Mỹ Đình.

- Nước thải bệnh viện:

Trong số 48 bệnh viện và trung tâm y tế do Thành phố quản lý mới chỉ có 8 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải đang hoạt động, một số bệnh viện đang trong giai đoạn xây dựng hệ thống xử lý, còn lại lượng nước thải bệnh viện không được xử lý, thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung.

- Nước thải từ các làng nghề, khu vực nông thôn:

Thành phố Hà Nội hiện có 1.310 làng nghề trong đó 310 làng đã được công nhận theo tiêu chí làng nghề, lượng nước thải làng nghề đều không qua xử lý. Lượng nước thải không nhỏ từ sản xuất nông nghiệp (hoạt động chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại...) cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường cần được quan tâm giải quyết.

5.6 Thu gom và xử lý chất thải rắn

a. Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của Thành phố Hà Nội hiện nay ước khoảng 5.000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 3.500 tấn là chất thải sinh hoạt đô thị và khoảng 1.500 tấn chất thải sinh hoạt nông thôn.

Hiện tại, Công ty TNHHNN một thành viên Môi trường đô thị (URENCO) chịu trách nhiệm thu gom vận chuyển, xử lý phần lớn lượng chất thải sinh hoạt nội thành. Các doanh nghiệp khác chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển tại các huyện ngoại thành Hà Nội. Tại khu vực nông thôn ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn thành lập tổ thu gom rác, trong đó có 148 xã đã chuyển rác đi xử lý (chiếm tỷ lệ 34%).

Công tác xử lý, tiêu huỷ, tái chế chất thải rắn hiện tại chủ yếu vẫn dựa vào chôn lấp hợp vệ sinh tại các bãi: Nam Sơn (Sóc Sơn) với khối lượng trung bình khoảng 3.000 tấn/ngày, Kiêu Kỵ (Gia Lâm), Xuân Sơn (Sơn Tây), Núi Thoong (Chương Mỹ) và nhà máy xử lý rác thải Cầu Diễn, Seraphin Sơn Tây.

Các tồn tại chủ yếu hiện nay:

- Phế thải xây dựng trên 1000 tấn/ngày chưa được thu gom triệt để.

- Do chưa có quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải rắn tại khu vực nông thôn, nên đã hình thành các bãi rác tự phát với quy mô diện tích từ vài chục đến vài trăm m2. Các bãi rác loại này phần lớn tận dụng các vùng trũng, ao hồ ở địa phương, không thực hiện phân loại chất thải, không lót đáy, không có hệ thống thu gom nước rỉ rác, không xây dựng tường bao ngăn cách.

- Công cụ, phương tiện, nhân lực, phương thức thu gom còn hạn chế về số lượng, chưa đáp ứng được về khối lượng chất thải ngày càng tăng; nhất là khu vực nông thôn, dẫn đến tình trạng chất thải rắn tồn đọng tại khu tập kết, trung chuyển cũng như ở các điểm tự phát đã gây ô nhiễm môi trường.

- Các bãi chôn lấp chất thải rắn của thành phố sắp đầy.

Hiện trong số 5 khu xử lý chất thải rắn tập trung của thành phố đang hoạt động thì có tới 3/5 khu sắp lấp đầy, cụ thể là:

+ Bãi chôn lấp chất thải rắn tại Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn sẽ được lấp đầy vào năm 2011 nếu vẫn tiếp tục duy trì khối lượng chất thải chôn lấp như hiện tại trung bình là 3.000 tấn/ngày và có thể sẽ tăng lên trung bình 4.000 tấn/ngày trong 1-2 năm tiếp theo (hiện tại, Nam Sơn đã lấp đầy 6,5/9 ô chôn lấp).

+ Bãi chôn lấp chất thải tại Khu xử lý chất thải Xuân Sơn (Sơn Tây) hiện lấp đầy 10/11 ô chôn lấp, hiện nay vẫn tiếp nhận xử lý trung bình 100 tấn/ngày, cuối năm 2009 sẽ lấp đầy bãi.

+ Bãi chôn lấp rác thải tại Núi Thoong, huyện Chương Mỹ hiện do Công ty Môi trường đô thị Xuân Mai quản lý đã được lấp đầy ô số 1 và ô số 2.

b. Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn công nghiệp

Hiện nay, chất thải rắn công nghiệp khoảng 750 tấn/ngày, mới thu gom được 637-710 tấn /ngày (chiếm 85-95%) và xử lý được khoảng 382-405 tấn/ngày (chiếm khoảng 60% lượng chất thải công nghiệp thu gom được). Trong số đó, chất thải công nghiệp nguy hại khoảng 97-112 tấn/ngày (chiếm 13-15%), mới thu gom khoảng 58-78,4 tấn/ngày (chiếm 60-70%).

Chất thải rắn công nghiệp phần lớn được thu gom, vận chuyển về bãi rác Nam Sơn để xử lý, tiêu huỷ.

c. Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế nguy hại:

Hiện tại chất thải rắn y tế nguy hại của một số bệnh viện đã được thu gom và xử lý tập trung tại lò đốt chất thải rắn y tế Cầu Diễn với công suất 5 tấn/ngày, phần tro xỉ được đóng rắn và chôn lấp.

Hiện có 1 bệnh viện ở Hà Đông và 13 bệnh viện tuyến huyện đã có hệ thống lò đốt chất thải rắn y tế nhưng đến nay các lò đốt này đều hoạt động cầm chừng do không có chất thải, có lò phải dừng hẳn chờ bảo dưỡng, thay thế.

5.7 Nghĩa trang

Sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, trên địa bàn Thủ đô hiện nay có 7 nghĩa trang cấp Thành phố, bao gồm: Văn Điển, Yên Kỳ, Mai Dịch, Thanh Tước, Sài Đồng, nghĩa trang liệt sĩ Nhổn và nghĩa trang liệt sĩ Ngọc Hồi.

Nghĩa trang Văn Điển, có diện tích 18 ha đã tiếp nhận hung táng và quản lý 10.500 mộ 3 năm cải táng và 1.500 mộ cán bộ cao cấp, quản lý 15.500 bình tro cốt. Bình quân mỗi ngày nghĩa trang Văn Điển có từ 12-15 người đến chôn cất và 10- 12 người mất đến hoả tảng. Mới đây, nghĩa trang đã được đầu tư xây dựng thêm 4 đài hỏa táng gas thế hệ mới và 2 đài hỏa táng cũ. Tổng công suất hỏa táng tại Văn Điển đạt 2.820 ca/tháng (chiếm tỷ lệ 70% so với hung táng). Dự kiến nghĩa trang Văn Điển đóng cửa việc hung táng vào tháng 7/2010,  chuyển hướng sang mô hình nghĩa trang công viên, phục vụ hoả táng, lưu giữ bình tro.

Tại nghĩa trang Yên Kỳ có diện tích 36 ha, tiếp nhận tiểu cốt cải táng từ Văn Điển và phục vụ giải phóng mặt bằng của các công trình Thành phố. Hiện tại, nghĩa trang có trên 4 vạn ngôi mộ. Nghĩa trang này có thể sử dụng đến hết năm 2015.

Nghĩa trang Mai Dịch có diện tích 5,9 ha dành cho cán bộ lãnh đạo cao cấp Trung ương gồm 394 mộ và 1.228 mộ liệt sỹ, bình quân mỗi năm số người chôn cất mới tại nghĩa trang này rất ít, các mộ ở đây hầu hết không cải táng, nghĩa trang này có khả năng phục vụ đến năm 2015.

Nghĩa trang Thanh Tước có diện tích 7,4 ha, đang quản lý 18.593 mộ nhân dân và 1.481 mộ cán bộ trung cao cấp, dự kiến dùng để mai táng, không cải táng đến cuối năm 2009, cải táng từ Văn Điển đến hết năm 2011.

Nghĩa trang Sài Đồng, nghĩa trang liệt sĩ Nhổn và nghĩa trang liệt sĩ Ngọc Hồi chủ yếu là các mộ của các liệt sĩ tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ được chôn cất từ rất lâu. Cả 3 nghĩa trang này có khoảng gần 5.000 ngôi mộ.

Ở khu vực Hà Tây cũ chỉ có hai nghĩa trang tập trung lớn là nghĩa trang ở Hà Đông và Sơn Tây. Ngoài ra, có một Công viên - Nghĩa trang Vĩnh Hằng mới được xây dựng qua hình thức xã hội hóa.

Các quận, huyện được giao quản lý các nghĩa trang trên địa bàn, nhưng trên thực tế, do thiếu cán bộ, nên không nắm được tình hình cụ thể các nghĩa trang. Ở khu vực ngoại thành, người dân chủ yếu sử dụng đất nông nghiệp để làm nghĩa trang, vừa lãng phí, vừa manh mún, lộn xộn.

Nhìn chung, Hà Nội với quy mô dân số lớn, các nghĩa trang chính đang dần chật chỗ và không đáp ứng được yêu cầu yên nghỉ cũng như môi trường sinh thái, cảnh quan. Số người mất trên địa bàn Thành phố bình quân mỗi năm trong giai đoạn năm 2006-2008 có khoảng 13.000 người. Số người mất này được chôn cất tại các nghĩa trang của Thành phố và tại nghĩa trang quê nhà. Vì các nghĩa trang đều gần khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường đối với khu vực xung quanh.

 

6. Hiện trạng môi trường

6.1 Ô nhiễm các sông trên địa bàn thành phố

Hà Nội có nhiều sông chảy qua, môi trường nước mặt đang chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế-xã hội như: sự ra đời của hàng loạt các khu đô thị, các khu công nghiệp trong thành phố cùng với hoạt động tiểu thủ công nghiệp, các doanh nghiệp quốc phòng và các chất thải bệnh viện, các khu vực dân cư đông đúc, các làng nghề... đã làm cho chất lượng môi trường nước biến đổi nhanh theo chiều hướng tiêu cực. Chất lượng các dòng sông đang dần bị ô nhiễm, mức độ ô nhiễm ít là sông Hồng, sông Đuống, ô nhiễm nặng nhất là 4 con sông thoát nước trong nội thành (Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lừ).

Cụ thể, nước sông Tô Lịch vào mùa khô: hàm lượng ôxi hoà tan (DO) thấp hơn 2,31 lần so với tiêu chuẩn, nhu cầu ôxi sinh học (BOD5) vượt tiêu chuẩn cho phép 7,13 lần, nhu cầu ôxi hoá học (COD) cao vượt quá 9,86 lần, tổng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt 2,11 lần, hàm lượng nitorat (NO3) vượt quá 1,64 lần.

Các con sông: Nhuệ, Đáy, Bùi, Tích, Cà Lồ, Cầu Bây... đều bị ô nhiễm, nặng nhất là sông Nhuệ. Tất cả các chỉ tiêu phân tích trên đoạn sông Nhuệ nơi tiếp nhận nước thải từ sông Tô Lịch đều vượt quy chuẩn 08:2008/BTNMT về chất lượng nước mặt: BOD5 vượt 1,28 lần; tổng Coliform vượt 6,47 lần. Nước sông đã bị ô nhiễm nặng, không đủ tiêu chuẩn để phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp. Nhiều đoạn sông Nhuệ nước bốc mùi hôi thối ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của dân cư hai bên bờ sông.

6.2 Ô nhiễm các hồ

Tổng số hồ trên địa bàn Thành phố là 156 hồ (theo thống kê của dự án HAIDEP), nội thành có 35 hồ đã kè bờ, trong đó hồ Trúc Bạch đã được xử lý một phần nước thải chảy vào hồ, 9 hồ có hệ thống tách nước thải không cho chảy vào hồ.

Kết quả quan sát và phân tích chất lượng nước mặt 18 hồ trong khu vực nội thành cho thấy các hồ này đều bị ô nhiễm. Trong hồ có rất nhiều tảo xanh (đặc biệt là hồ Ba Mẫu) và đều có hiện tượng bị phú dưỡng. Các hồ gần khu vực dân cư như hồ Đống Đa, hồ Giảng Võ, hồ Thành Công, hồ Thanh Nhàn có lượng coliform rất lớn vượt tiêu chuẩn cho phép từ 100 đến 200 lần, vào mùa khô vượt tới hơn 700 lần.

6.3 Ô nhiễm không khí

Môi trường không khí ở Hà Nội chịu tác động chủ yếu của các hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề thủ công, giao thông vận tải, xây dựng và sinh hoạt của người dân. Chất lượng môi trường không khí của Thành phố đã có biểu hiện suy thoái, đặc biệt là cửa ngõ vào nội thành: nồng độ bụi và các chất khí gây ô nhiễm tăng dần và nhiều khu vực đã vượt tiêu chuẩn cho phép nhất là các khu vực có mật độ giao thông cao. Hai nguồn ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọng hiện nay là do bụi và khí thải giao thông trên các tuyến giao thông chính của Thành phố.

- Ô nhiễm không khí do bụi:

Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá, nhiều khu đô thị mới được hình thành, nhiều dự án cải tạo, xây dựng mới được triển khai nhưng ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của nhiều nhà đầu tư, chủ công trình chưa cao, thời gian thi công kéo dài và đây là nguồn bụi chủ yếu gây ra ô nhiễm không khí hiện nay.

Các phương tiện vận chuyển đất thải, phế thải, vật liệu xây dựng không được che chắn theo đúng quy định, làm rơi vãi vật liệu trên đường; các xe chở cát, sỏi, phế liệu không được rửa sạch trước khi rời khỏi khu vực bãi tập kết vật liệu và công trường xây dựng đã gây bụi và mất mỹ quan đường phố.

Theo kết quả quan trắc 6 tháng đầu năm 2009 cho thấy tại 250 điểm đo kiểm có 180 điểm đo có hàm lượng bụi lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5937-2005) (chiếm 72%). Cụ thể: đường Nguyễn Trãi có vị trí vượt TCCP 11 lần, đường Nguyễn Văn Linh vượt TCCP 5,2 lần; đường Phạm Văn Đồng nồng độ bụi vượt TCCP 3,6 lần; giao của đường 71 và đường 32 (huyện Đan Phượng) nồng độ bụi vượt TCCP 6,3 lần; giao của đường Láng - Hoà Lạc và đường 21 (huyện Thạch Thất) nồng độ bụi vượt TCCP 4 lần; giao của đường 428 - Pháp Vân tại ngã ba Guột nồng độ bụi vượt TCCP 4,4 lần.

- Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông

Trong những năm gần đây tốc độ phát triển các phương tiện giao thông có giới ở Hà Nội tăng mạnh, trung bình lượng ô tô hàng năm tăng 10%, xe máy tăng xấp xỉ 15%. Sự gia tăng về số lượng các phương tiện tham gia giao thông, đặc biệt là các phương tiện chuyên chở vật liệu, đất đá phục vụ cho việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng là nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm khí thải giao thông. Chất lượng các phương tiện (xét về nồng độ khí thải) đang tham gia giao thông ở Hà Nội chưa cao, ý thức bảo vệ môi trường của các chủ phương tiện trong việc sử dụng, bảo dưỡng xe cơ giới còn nhiều hạn chế.

Theo kết quả quan trắc năm 2008 có 6/34 ngã tư nồng độ khí CO trung bình vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,03 - 1,55 lần, có tới 30/34 ngã tư có nồng độ SO2 vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,02-2 lần, có 32/34 ngã tư có nồng độ C6H6 vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,1 - 3 lần.

            Ngoài các ô nhiễm tại các hồ, sông, ô nhiễm không khí, việc không có hệ thống thoát nước thải và nước mưa riêng biệt, quá trình bê tông hóa đô thị, khai thác nước ngầm quá mức... dẫn đến suy thoái môi trường đất, nước ngầm trên địa bàn thành phố.

 

PHỤ LỤC II

TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH QUỐC TẾ, TRONG NƯỚC ĐỐI VỚI          QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

 

I. TÁC ĐỘNG BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC

            1. Bối cảnh quốc tế

Trong giai đoạn tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế chủ đạo của thế giới. Nguy cơ chiến tranh thế giới khó có khả năng xảy ra nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột về sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ, tranh giành tài nguyên, khủng bố có thể sẽ gia tăng.

Đồng thời các các quốc gia phải đối phó và tích cực phối hợp hành động cùng nhau giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu (tăng nhiệt độ, nước biển dâng, thiên tai...), đói nghèo, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nước, các đại dịch và các thảm họa thiên nhiên khác.

Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ; tự do hóa kinh tế và tài chính tiếp tục gia tăng, nhiều hình thức liên kết kinh tế mới xuất hiện. Khoa học và công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Kinh tế tri thức phát triển mạnh và theo đó, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành lợi thế chủ yếu của mỗi quốc gia. Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế. Các tập đoàn và công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn. Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi nhanh. Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước đang trở thành phổ biến với các mặt tích cực, tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen nhau rất phức tạp. Sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế điều tiết kinh tế - tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học và công nghệ, sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên; phát huy lợi thế cạnh tranh động và sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ... sẽ mở ra những cơ hội và thách thức mới cho sự phát triển. Sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào giai đoạn phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng.

Trong bối cảnh nêu trên, các quốc gia đều khẩn trương điều chỉnh chiến lược và chính sách phát triển của mình. Bối cảnh mới đặt ra cho nước ta nói chung, Thủ đô Hà Nội nói riêng nhiều thời cơ thuận lợi và khó khăn thách thức đều lớn và đan xen nhau rất phức tạp. Tận dụng tốt các thời cơ, thuận lợi, đối mặt và vượt qua các thách thức, khó khăn, huy động và sử dụng tốt nhất mọi nguồn lực, kết hợp tốt sức mạnh của dân tộc và sức mạnh thời đại, phấn đấu đạt được những bước phát triển mới, nhanh và bền vững để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước.

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đem lại cho Hà Nội nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn, toàn diện và hiệu quả cao. Những sự kiện lớn mang tính quốc tế và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội diễn ra trên địa bàn là những cơ hội tốt để nâng cao vị thế của Thủ đô và quảng bá môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh.

Sau gần 25 năm đổi mới, Hà Nội đã đạt được những thành tựu và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm; hệ thống cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, thị trường ngày càng phát triển đa dạng. Trên địa bàn tập trung đông đảo lực lượng lao động đã qua đào tạo, có chuyên môn kỹ thuật vào loại cao nhất trong cả nước. Đây là điều kiện thuận lợi cho Hà Nội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Tuy nhiên, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, nhất là các cơ chế để phát huy vị thế đặc thù của Thủ đô cho phát triển và hội nhập, năng lực quản lý, điều hành của các cấp chính quyền thành phố còn những mặt hạn chế. Quy mô, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, đầu vào của sản xuất không ổn định; trình độ khoa học công nghệ, trình độ quản lý của doanh nghiệp chưa theo kịp yêu cầu phát triển và có nguy cơ bị tụt hậu. Nhận thức và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế, các doanh nghiệp phải đối phó với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và các quy định khắt khe hơn của luật pháp và thông lệ quốc tế.

Hà Nội xác định chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh phát triển kinh tế với mức tăng trưởng cao và ổn định trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, bền vững, phát triển hài hoà kinh tế - xã hội - môi trường. Xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế có trình độ phát triển cao của vùng và cả nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức, hoàn thành cơ bản mục tiêu công nghiệp hóa Thủ đô.

Ứng phó với biến đổi khí hậu, trong quy hoạch phát triển Hà Nội cần chú trọng việc nghiên cứu chỉnh trị sông Hồng, "làm sống lại" sông Đáy, nâng cấp hệ thống đê và các công trình thủy lợi; đầu tư thoả đáng cho hệ thống thoát nước và các biện pháp phòng chống giảm nhẹ thiên tai.

2. Bối cảnh khu vực

- Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như: tranh chấp ảnh hưởng và quyền lực, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên.

Các nước ASEAN bước vào thời kỳ hợp tác mới, cùng nhau xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: chính trị - an ninh; kinh tế; văn hóa - xã hội. Hợp tác ASEAN với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. Các hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Ôxtrâylia... đã được ký kết và chuẩn bị đưa vào thực hiện.

- Hợp tác 2 hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc

Hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS) với các hành lang xuyên Á có xu thế phát triển từ hành lang giao thông thành các hành lang kinh tế. Trong đó qua Hà Nội có các hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng. Thông qua việc hình thành các hành lang kinh tế sẽ mở rộng hơn hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trên cơ sở một mặt tận dụng những lợi thế so sánh đã có, mặt khác hình thành thêm các lợi thế so sánh mới, thúc đẩy nền kinh tế phát triển trên toàn tuyến hành lang.

Với sự hợp tác theo 2 hành lang kinh tế, các tuyến đường bộ cao tốc, đường sắt sẽ được xây dựng mới, nâng cấp; sự giao lưu, trao đổi về thương mại, đầu tư, du lịch... sẽ được mở rộng.

3. Vai trò của các đô thị lớn ngày càng tăng trong thế giới hiện đại

- Xu hướng đô thị quyết định sự phân chia trật tự kinh tế thế giới trong thế kỷ 21

Trong thế kỷ 21 các đô thị lớn quyết định trật tự kinh tế của thế giới, số lượng đô thị lớn tăng lên rất nhanh và tập trung nhiều ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Theo một số dự báo của Liên hợp quốc, đến năm 2015 thế giới có khoảng 28 thành phố trên 10 triệu dân. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong danh sách các thành phố khổng lồ có các thành phố như: Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Seoul, Tôkyô, Osaka, Jakarta, Manila, Bangkok.            

Tiềm lực kinh tế chủ yếu tập trung ở các đô thị. Sự phát triển của các đô thị, đặc biệt là các ngành tạo thị (công nghiệp và dịch vụ) đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế. Theo ước tính của Ngân hàng thế giới (WB), 80% thành tựu tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển sẽ diễn ra tại các thành phố và các vùng đô thị lớn. Tại các đô thị lớn cũng là nơi có các công ty xuyên quốc gia đặt trụ sở, mà vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong thế kỷ 21 ngày càng cao, khi mà doanh thu của một công ty cao hơn GDP của một nước đang phát triển trung bình.   

Các hiệp hội, diễn đàn đô thị được thành lập ở nhiều khu vực và trên phạm vi toàn cầu, có tiếng nói ngày càng quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Như hiện nay đã thành lập Diễn đàn các đô thị lớn châu Á mà Hà Nội có tham gia.

- Các đô thị quyết định trình độ văn minh, trình độ phát triển của từng vùng

Các đô thị là nơi tiếp nhận văn minh của nhân loại, thực hiện các nghiên cứu khoa học, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, trao đổi thông tin và tư vấn ở trình độ cao cũng như kinh nghiệm tổ chức và quản trị tiên tiến quyết định tăng trưởng kinh tế của cả vùng. Đô thị giữ vai trò đi trước và kéo theo cả vùng phát triển.

- Đô thị là nơi tích lũy vốn, kỹ thuật, tài sản, cần sử dụng hiệu quả và phát huy các tiềm lực kinh tế của các đô thị

Không kể một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Hồng Kông, Singapore là các đô thị, toàn bộ nền kinh tế tập trung trong khu vực đô thị; tại Thái Lan, Hàn Quốc các vùng đô thị Băng Cốc, Seoul chiếm 1/4-1/3 tiềm lực kinh tế của cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội chiếm hơn 1/3 tiềm lực kinh tế của Việt Nam.

 

II. TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH TRONG NƯỚC

1. Bối cảnh trong nước

Những thành tựu to lớn của gần 25 năm đổi mới đã làm cho sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên đáng kể. Nhờ đó nước ta có thể chủ động trong việc thực hiện các mục tiêu và định hướng phát triển; chủ động lựa chọn được những phương án tối ưu phù hợp với tình hình và điều kiện của đất nước. Sự ổn định về chính trị - xã hội của đất nước là cơ sở vững chắc cho sự phát triển. Tuy nhiên, những yếu kém của nền kinh tế chậm được khắc phục, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm được giải quyết. Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá quyết liệt, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định chính trị - xã hội. Mặt khác, thiên tai, dịch bệnh đang diễn biến rất phức tạp, tình trạng biến đổi khí hậu tác động ngày càng tiêu cực đến sản xuất, đời sống nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.  

Dự kiến tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2011-2020 khoảng 7,5-8%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt trên 3.000 USD, cơ cấu kinh tế hiện đại, hiệu quả; tỷ trọng nông nghiệp dưới 15% trong GDP, tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 30-32%, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm trên 70% tổng lao động xã hội. Giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 45-50% trong tổng GDP. 

Đến năm 2020, hầu hết dân cư thành thị và 85% dân cư ở nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh; 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường; hầu hết các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.

Đối với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, để tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật của hai thành phố, Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng đô thị tại Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhanh chóng đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt trên cao và tàu điện ngầm tại các thành phố để đạt tỷ lệ đảm nhận vận chuyển hành khách công cộng 35-45%. Kiểm soát sự phát triển của xe máy, xe ô tô cá nhân, đầu tư hoàn chỉnh các cảng hàng không quốc tế.

 2. Bối cảnh trong vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và vùng Kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Bắc Bộ

Trong giai đoạn tới, định hướng xây dựng vùng ĐBSH và vùng KTTĐ Bắc Bộ trở thành đầu tàu phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, lôi kéo các vùng khác cùng phát triển; đồng thời đi đầu trong lĩnh vực hợp tác quốc tế (cầu nối giữa khu vực ASEAN và khu vực Đông Bắc Á), thể hiện vai trò to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mang thương hiệu Việt Nam, tiêu biểu trong các lĩnh vực: tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, du lịch - khách sạn - nhà hàng, vận tải, đào tạo, và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao; cơ khí chế tạo, điện tử, vật liệu, chế biến dược phẩm và thực phẩm; lúa gạo, sản phẩm thịt, trái cây....

Xây dựng một số đô thị hiện đại làm đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của toàn vùng, đạt các tiêu chuẩn hiện đại trên thế giới, trước hết là thủ đô Hà Nội cùng các thành phố lớn trong vùng như Hải Phòng, Hạ Long, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Nam Định, Hải Dương...

Hoàn thành những công trình trọng điểm để làm tiền đề để phát triển nhanh, bền vững, trước hết là hệ thống đường cao tốc, đường kết nối giữa các tỉnh, tuyến đường ven biển, hoàn thành xây dựng 2 sân bay lớn: Nội Bài và Vân Đồn, hệ thống cảng biển.

Để phát triển bền vững và hiệu quả, Hà Nội và các địa phương trong vùng cần phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng các công trình quy mô vùng như mạng lưới đường cao tốc, quốc lộ, các công trình xử lý chất thải rắn, hệ thống cấp nước, cấp điện, phối hợp phát triển các tour du lịch, cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng, đào tạo, y tế chất lượng cao... Đồng thời các địa phương cần phối hợp xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch... và xây dựng các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư nhằm hạn chế sự cạnh tranh không cần thiết trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.

 

PHỤ LỤC III

CÁC PHƯƠNG ÁN TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

 

I. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

Việc dự báo tăng trưởng kinh tế cho một giai đoạn dài là công việc khó khăn. Ở cấp độ quốc gia, cách phổ biến ở các nước là dùng các mô hình toán kinh tế như mô hình kinh tế lượng, mô hình cân bằng tổng thể. Tuy nhiên các mô hình này cũng thường cho các kết quả không chính xác[5]. Một trong những nguyên nhân chính là do vấn đề số liệu (thiếu, không chính xác) và việc ước lượng các hệ số gặp khó khăn. Một nguyên nhân nữa là các mô hình thường không tính được thay đổi động và không tính được ảnh hưởng của các biến không đo lường được (như thể chế, luật pháp, chính trị, văn hóa, cơ chế chính sách...). Ở cấp độ như TP. Hà Nội, việc sử dụng các mô hình này càng trở nên khó khăn vì vấn đề số liệu và tính chất mở của nền kinh tế Thủ đô[6]. Trước đây, Chúng ta cũng đã sử dụng mô hình I/O vào dự báo tăng trưởng đến năm 2010, nhưng kết quả không chính xác. Do đó, phương pháp chủ yếu sử dụng trong báo cáo Quy hoạch này để dự báo tăng trưởng là dựa vào thực trạng phát triển (định lượng) kết hợp với định tính và ý kiến chuyên gia, gắn với lý thuyết về tăng trưởng.

Các lý thuyết kinh tế phân biệt giữa tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn. Ở đây, chúng ta dự báo đến năm 2020, tầm nhìn 2030 nên chủ yếu bàn về tăng trưởng dài hạn. Các lý thuyết tăng trưởng từ Solow (Tân cổ điển) ở những năm 1950 đến tăng trưởng nội sinh những năm 1980 khẳng định những nhân tố quan trọng nhất của tăng trưởng là đầu tư, lao động và tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, khung phân tích tăng trưởng ngày nay được mở rộng rất nhiều. Đối với các nước đang phát triển, các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng liên quan nhiều đến khung thể chế, chính trị, cơ chế chính sách. Chính các nhân tố này sẽ ảnh hưởng đến đầu tư, tích lũy vốn con người và tiến bộ kỹ thuật của một quốc gia, một địa phương. Trong những năm qua, có rất nhiều nghiên cứu kiểm nghiệm các yếu tố tác động lên tăng trưởng. Mặc dù các kết quả còn khác nhau và các nhà kinh tế không hoàn toàn thống nhất, tuy nhiên các nhân tố quan trọng nhất thường được tìm thấy bao gồm: (1) Đầu tư (tỉ lệ đầu tư trên GDP), (2) Xuất khẩu (tốc độ tăng xuất khẩu), (3) Nguồn nhân lực, (4) Chất lượng thể chế (hay môi trường kinh doanh). Cùng mức thu nhập trên đầu người (cùng trình độ phát triển), khi các nền kinh tế đảm bảo được các yếu tố này thì thường có tốc độ tăng trưởng cao so với các nền kinh tế khác[7]. Môi trường quốc tế, trong nước và các yếu tố nội tại đều tác động đến các nhân tố trên và sau cùng là hiệu quả kinh tế.

 Dựa vào việc phân tích các nhân tố cơ bản nêu trên, dự báo lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế thành phố giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2030 được xem xét, luận chứng ở 4 yếu tố chủ yếu cấu thành tăng trưởng, đó là:

(1) Về đầu tư: Tỉ lệ đầu tư trên GDP của Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010 đang ở mức 55-60% (trên mức bình quân cả nước), dự báo tỷ lệ này vẫn duy trì trong giai đoạn tới và đây là hoàn toàn khả thi (nhiều nước Đông Á duy trì được tỉ lệ đầu tư này và thành phố thủ đô của họ còn có tỉ lệ cao hơn). Xét về cơ cấu, đầu tư tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sau khi nền kinh tế toàn cầu phục hồi, vốn đầu tư nước ngoài (trực tiếp và gián tiếp) sẽ đổ vào nhiều hơn. Thủ đô Hà Nội sẽ là nơi hưởng lợi lớn, đặc biệt là đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ, công nghệ cao và đầu tư gián tiếp. Đối với đầu tư từ ngân sách cũng sẽ gia tăng do việc gia tăng và đa dạng hóa các nguồn thu của ngân sách địa phương để đầu tư lại phục vụ cho các nhu cầu cấp bách của Thành phố về phát triển hạ tầng, mở rộng không gian đô thị và phát triển con người. Trong các nguồn vốn, chỉ có DNNN là giảm xuống, tuy nhiên, phần giảm này sẽ được bù đắp bằng sự gia tăng nhanh chóng các nguồn đầu tư khác (đầu tư tư nhân tăng rất mạnh). Nhìn tổng thể, khả năng đầu tư phát triển của Thủ đô Hà Nội sẽ tiếp tục tăng.

(2) Về xuất khẩu: Ở đây bao gồm xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Đối với nền kinh tế Thủ đô Hà Nội thì khái niệm này bao gồm cả quan hệ với các tỉnh, thành khác. Khi gia nhập WTO, thị trường xuất khẩu sẽ trở nên thuận lợi, các nước không còn có thể tùy tiện áp đặt các rào cản thương mại với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu dịch vụ cũng trở nên thuận lợi. Các dịch vụ giá trị gia tăng khác cho nước ngoài cũng có điều kiện phát triển nhanh. Du lịch Hà Nội sẽ phát triển rất mạnh, đặc biệt trong Đại lễ “Nghìn năm Thăng Long”. Đối với các tỉnh, thành khác thì Hà Nội là nơi cung cấp dịch vụ ngày càng thuận lợi hơn. Phát triển mạnh mẽ công nghiệp, dịch vụ và gắn kết hai hành lang kinh tế với Trung Quốc, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước kéo theo nhu cầu lớn về dịch vụ - du lịch và đó cũng là thế mạnh của Thủ đô.

(3) Về nguồn nhân lực: Thủ đô Hà Nội là nơi tập trung khoảng 1/3 nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước (Trên địa bàn Hà Nội hiện có 50 trường Đại học, 29 trường Cao đẳng, 45 trường Trung cấp chuyên nghiệp và một số trường trường, gần 50 Viện và Học viện của ngành quân đội, công an, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh). Do đó, rất thuận lợi trong việc phát triển các ngành dịch vụ cao cấp và công nghiệp công nghệ cao. Dự báo nguồn nhân lực cao cấp sẽ tiếp tục đến Hà Nội khi Thành phố đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang dịch vụ cao cấp và công nghiệp công nghệ cao. Mặt khác, Hà Nội đang có chủ trương phát triển con người và đào tạo nguồn nhân lực vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, phát triển đội ngũ trí thức để nguồn nhân lực Thủ đô ngang tầm với các nước công nghiệp phát triển. Trong thực tế nếu nhìn cục bộ tại thời điểm hiện nay thì nguồn nhân lực này có thể thiếu hụt, nhưng nếu nhìn tổng thể dài hạn thì nhân lực cho phát triển Thành phố có thể đáp ứng. Vấn đề là Thủ đô Hà Nội cần phát triển hơn nữa hệ thống đào tạo trình độ cao, đẳng cấp quốc tế, để đảm bảo đủ lao động theo cơ cấu ngành nghề tương lai đặt ra.

(4) Xét về khung chính sách, thể chế: Với việc đẩy mạnh đổi mới, cải cách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, dự báo khung chính sách, thể chế ở tầm vĩ mô ngày càng hoàn thiện và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Môi trường kinh doanh sẽ ngày càng thuận lợi cho phát triển. Hiện tại Hà Nội vẫn còn xếp sau khá nhiều tỉnh về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh. Nếu Thủ đô Hà Nội khắc phục được vấn đề này thì tiềm lực phát triển sẽ được khơi dậy ở mức cao hơn trong thời gian tới.

(5) Yếu tố khoa học công nghệ: Mặc dù trình độ công nghệ - kỹ thuật tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn thành phố chưa cao, ngoài một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có điều kiện trang bị công nghệ tiên tiến còn phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp đều chỉ được trang bị công nghệ có trình độ trung bình và thấp, các loại công nghệ mang tính mũi nhọn như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới chưa được phát triển mạnh nhưng với lợi thế về con người, nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học - công nghệ, trong giai đoạn tới khoa học công nghệ dự báo sẽ có mức đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng kinh tế cũng như nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trên địa bàn Thủ đô. Cùng với định hướng phát triển kinh tế tri thức, các ngành có giá trị gia tăng lớn, các dịch vụ chất lượng cao, các lợi thế của Hà Nội là nơi tập trung nhiều cơ sở đào tạo, nhiều cán bộ khoa học và quản lý có bằng cấp cao, tiềm lực khoa học kỹ thuật lớn mạnh nhất trong cả nước (khoảng 85% tổng số các viện nghiên cứu trong cả nước) sẽ tiếp tục được phát huy, khai thác.

Bên cạnh các yếu tố nêu trên, nền kinh tế Việt Nam nói chung có xuất phát điểm thấp hơn so với Hà Nội, nên tiềm năng tăng trưởng GDP cao và nhanh của Hà Nội trong thời gian tới là khả thi.

 

II. YÊU CẦU ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG CỦA HÀ NỘI

1. Tạo việc làm

Theo số liệu hàng năm, thất nghiệp của Hà Nội luôn ở mức cao nhất cả nước và trong thời kỳ khủng hoảng, tình trạng thất nghiệp có thể là một mối đe doạ đến sự ổn định trong nhiều năm về phát triển kinh tế. Hơn thế nữa, lao động bên ngoài cũng thường xuyên lao động theo mùa vụ tại Hà Nội càng làm trầm trọng thêm sức ép về việc làm đối với Hà Nội.

Theo tính toán với cả nước, để thất nghiệp dưới 5% thì tăng trưởng phải trên 6,8%, dưới 4% thì phải tốc độ tăng trưởng phải tăng trên 8%. Do đó, Hà Nội cần đảm bảo tăng trưởng trên 9% thì tỷ lệ thất nghiệp trong thời gian khoảng 10 năm sẽ nằm trong khoảng 4,5-5,2%. Nếu con số này là 7% thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ là 5,6%-6,7% và nếu tốc độ khoảng 11% thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ khoảng 4%.

2. Đảm bảo là đầu tàu tăng trưởng

Theo dự báo tăng trưởng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước giai đoạn 2011-2020 (dự thảo cho nhóm soạn thảo Chiến lược phục vụ Văn kiện Đại hội Đảng XI) cả nước là 7,0-8,0% và của vùng ĐBSH (dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2020) là 6,9-8,1% trong thời kỳ 2011-2020 (trong đó thời kỳ 2011-2015: 6,0-7,6% và thời kỳ 2016-2020: 7,9-8,7%). Để đảm bảo được điều này thì tăng trưởng của Hà Nội ít nhất phải bằng với tốc độ tăng của toàn vùng. Đối với Hà Nội sau khi mở rộng thì có "dư địa" nhiều hơn đối với tăng trưởng đặc biệt là các huyện, thị thuộc Hà Tây (trước đây) có nhiều nguồn lực để phát triển.

3. Các yếu tố khác

- Tính đến các yếu tố thuận lợi và hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác theo 2 hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc.

- Xét yếu tố về lao động, với các mức dự báo về dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp và yếu tố năng suất lao động trong khu vực phi nông nghiệp tăng lên, tác động trực tiếp đến tăng trưởng.

- Với xu thế khu vực doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài tăng trưởng ngày càng nhanh trong thời gian qua, có thể thấy rằng môi trường đầu tư ở Hà Nội đang thuận lợi.

- Dự báo tình hình kinh tế thế giới, sau khi tái cấu trúc các nền kinh tế lớn, diễn ra thuận lợi sẽ không có nhiều các cuộc khủng hoảng toàn diện như năm 2008 vừa qua.

 

III. CÁC PHƯƠNG ÁN TĂNG TRƯỞNG

 Dự kiến 3 kịch bản tăng trưởng cho thành phố Hà Nội tương ứng với 3 phương án tăng trưởng kinh tế của cả nước.

1. Phương án 1

Với phương án này, tốc độ tăng trưởng của thành phố Hà Nội bằng 1,3-1,4 lần mức tăng trưởng theo phương án cao của cả nước và vùng ĐBSH trong thời kỳ 2011-2020. GDP của năm 2015 dự kiến đạt 28,5 tỷ USD và 2020 là 52,2 tỷ USD. GDP/người năm 2020 đạt khoảng 6.600 USD và năm 2030 khoảng 14.0500 USD. Để đảm bảo mức tăng trưởng này, cần một mức vốn đầu tư bằng khoảng 169,2 tỷ USD cho thời kỳ 2011-2020 (trong đó thời kỳ 2011-2015 là 67,2 tỷ USD).

Biểu 28. Các chỉ tiêu chủ yếu theo Phương án 01

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2010

2015

2020

2030

Tốc độ tăng trưởng (%)

2011-2015

2016-2020

2021-2030

1. Tổng GDP, giá 1994

72.913

122.863

197.872

468.435

11,0

10,0

9,0

Dịch vụ

37.377

63.221

103.201

250.858

11,1

10,3

9,3

Công nghiệp, xây dựng

31.001

54.635

89.197

211.162

12,0

10,3

9,0

Nông lâm thuỷ sản

4.535

5.007

5.474

6.415

2,0

1,8

1,6

2. Tổng GDP, giá HH

249.100

596.409

1.230.434

4.109.916

 

 

 

Dịch vụ

130.778

322.498

686.079

2.410.253

 

 

 

Công nghiệp, xây dựng

103.127

249.216

510.041

1.641.604

 

 

 

Nông lâm thuỷ sản

15.195

24.695

34.314

58.060

 

 

 

3. Cơ cấu

100,0

100,0

100,0

100,0

 

 

 

Dịch vụ

52,5

54,1

55,8

58,6

 

 

 

Công nghiệp, xây dựng

41,4

41,8

41,5

39,9

 

 

 

Nông lâm thuỷ sản

6,1

4,1

2,8

1,4

 

 

 

4. GDP HH theo USD

13,3

28,5

52,2

132,2

 

 

 

GDP/ng theo USD

2.021

3.912

6.556

14.038469

 

 

 

5. Nhu cầu vốn đầu tư*, tỷ USD

 

67,2

102

337

 

 

 

Ghi chú: Vốn đầu tư theo các giai đoạn 2011-2015, 2016-2020 và 2021-2030.

 

2. Phương án 2

Với phương án này, tốc độ tăng trưởng của thành phố Hà Nội sẽ gấp 1,4-1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước. GDP thành phố năm 2015 dự kiến đạt 29,7 tỷ USD và năm 2020 là 56,8 tỷ USD. GDP/người năm 2020 đạt khoảng 7.100 USD và năm 2030 khoảng 16.0500 USD. Để đảm bảo mức tăng trưởng này, cần một mức vốn đầu tư khoảng 179,4 tỷ USD cho thời kỳ 2011-2020 (trong đó thời kỳ 2011-2015 là 69,4 tỷ USD). Đây là phương án đòi hỏi có sự phấn đấu cao của thành phố và là phương án lựa chọn để định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực.

Biểu 29. Các chỉ tiêu chủ yếu theo Phương án 02

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2010

2015

2020

2030

Tốc độ tăng trưởng (%)

2011-2015

2016-2020

2021-2030

1. Tổng GDP, giá 1994

72.913

128.498

216.527

536.602

12,0

11,0

9,5

Dịch vụ

37.377

66.446

112.777

286.611

12,2

11,2

9,8

Công nghiệp, xây dựng

31.001

57.118

98.435

243.944

13,0

11,5

9,5

Nông lâm thuỷ sản

4.535

4.934

5.315

6.048

1,7

1,5

1,3

2. Tổng GDP, giá HH

249.100

621.932

1.338.936

4.673.109

 

 

 

Dịch vụ

130.778

337.733

745.550

2.733.991

 

 

 

Công nghiệp, xây dựng

103.127

259.838

560.009

1.884.232

 

 

 

Nông lâm thuỷ sản

15.195

24.361

33.376

54.887

 

 

 

3. Cơ cấu

100,0

100,0

100,0

100,0

 

 

 

Dịch vụ

52,5

54,3

55,7

58,5

 

 

 

Công nghiệp, xây dựng

41,4

41,8

41,8

40,3

 

 

 

Nông lâm thuỷ sản

6,1

3,9

2,5

1,2

 

 

 

4. GDP HH theo USD

13,3

29,7

56,8

150,3

 

 

 

GDP/người (USD)

2.021

4.079

7.135

15.966.452

 

 

 

5. Nhu cầu vốn đầu tư*, tỷ USD

 

69,4

110

379

 

 

 

Ghi chú: Vốn đầu tư theo các giai đoạn 2011-2015, 2016-2020 và 2021-2030.

 

3. Phương án 3

Đây là phương án đòi hỏi nhiều nỗ lực cao của thành phố do lúc này tốc độ tăng trưởng GDP của Hà Nội đã cao hơn 1,5-1,6 lần tốc độ tăng trưởng của cả nước. GDP thành phố năm 2015 là 31 tỷ USD và năm 2020 là 61,8 tỷ USD. GDP/người năm 2020 đạt khoảng 7.800 USD và năm 2030 khoảng 18.0700 USD. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu tăng trưởng theo phương án 3, nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2020 khoảng 190,4 tỷ USD. Đây là phương án phấn đấu của thành phố khi các điều kiện về môi trường quốc tế, trong nước có nhiều thuận lợi so với phương án 01 và 02.

Biểu 30. Các chỉ tiêu chủ yếu theo Phương án 03

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2010

2015

2020

2030

Tốc độ tăng trưởng (%)

2011-2015

2016-2020

2021-2030

Tổng GDP, giá 1994

72.913

134.338

236.749

614.067

13,0

12,0

10,0

Dịch vụ

37.377

70.519

125.801

334.016

13,5

12,3

10,3

Công nghiệp, xây dựng

31.001

58.909

105.686

274.121

13,7

12,4

10,0

Nông lâm thuỷ sản

4.535

4.909

5.263

5.929

1,6

1,4

1,2

Tổng GDP, giá HH

249.100

648.648

1.458.173

5.320.290

 

 

 

Dịch vụ

130.778

356.912

826.016

3.159.636

 

 

 

Công nghiệp, xây dựng

103.127

267.486

599.087

2.106.788

 

 

 

Nông lâm thuỷ sản

15.195

24.250

33.069

53.866

 

 

 

Cơ cấu

100,0

100,0

100,0

100,0

 

 

 

Dịch vụ

52,5

55,0

56,6

59,4

 

 

 

Công nghiệp, xây dựng

41,4

41,2

41,1

39,6

 

 

 

Nông lâm thuỷ sản

6,1

3,7

2,3

1,0

 

 

 

GDP HH theo USD

13,3

31,0

61,8

171,1

 

 

 

GDP/ng theo USD

2.021

4.255

7.770

18.172731

 

 

 

5. Nhu cầu vốn đầu tư*, tỷ USD

 

71,7

119

427

 

 

 

Ghi chú: Vốn đầu tư theo các giai đoạn 2011-2015, 2016-2020 và 2021-2030.

 

 

 

PHỤ LỤC IV

CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ

 

 

I. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG

1. Giao thông

            a) Xây dựng, hoàn chỉnh các tuyến đường vành đai

            - Vành đai 1 (trục Đông - Tây)

            - Vành đai 2 (bao gồm cầu Nhật Tân, cầu Đông Trù)

- Vành đai 3 (bao gồm cầu Phù Đổng 2)

- Vành đai 4 (bao gồm cầu Hồng Hà, cầu Đuống)

- Vành đai 5

            b) Nâng cấp, xây dựng các quốc lộ và cao tốc hướng tâm

- Cải tạo, mở rộng quốc lộ 1A đoạn Hà Nội - Thường Tín và Cầu Đuống - Bắc Ninh

- Cải tạo, mở rộng quốc lộ 6 (đoạn Hà Nội - Hoà Bình)

- Cải tạo, mở rộng quốc lộ 3 (đoạn từ thị trấn Đông Anh)

- Xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng

- Xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Việt Trì

- Xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên

- Xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long

c) Các tuyến đường quan trọng khác:

- Xây dựng cầu Vĩnh Thịnh, Quốc lộ 2C

- Xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn Hoà Lạc - Cầu Cời theo tiêu chuẩn tiền cao tốc.

- Xây dựng đoạn Sơn Tây - Xuân Mai quốc lộ 21 đạt cấp 1 đường đô thị.

- Nâng cấp đường 70.

- Đường Hoàng Quốc Việt kéo dài đoạn qua địa phận các huyện Đan Phượng, Phúc Thọ, Sơn Tây.

- Trục phát triển Sơn Tây - Thạch Thất - Quốc Oai - Xuân Mai - Miếu Môn.

- Đường Tế Tiêu - Yến Vĩ.

- Đường Đỗ Xá - Quan Sơn.

d) Xây dựng mạng lưới đường sắt đô thị

- Tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên, Như Quỳnh)

- Tuyến số 3 (Nhổn - ga Hà Nội - Hoàng Mai)

- Tuyến số 2 (Nội Bài - trung tâm thành phố - Thượng Đình)

- Tuyến số 4 (Đông Anh - Sài Đồng - Vĩnh Tuy/Hoàng Mai - Thanh Xuân - Từ Liêm - Thượng Cát - Mê Linh)

- Tuyến số 5 (Nam Hồ Tây - Ngọc Khánh - Láng - Hòa Lạc)

e) Nâng cấp các tuyến đường sắt quốc gia

- Tuyến Yên Viên - Lạng Sơn;

- Tuyến Yên Viên - Bãi Cháy;

- Tuyến Cổ Bi - Hải Phòng;

- Tuyến Ngọc Hồi - thành phố Hồ Chí Minh;

- Tuyến Bắc Hồng - Lào Cai;

- Tuyến Đông Anh - Thái Nguyên;

- Tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam.

- Xây dựng mới đoạn phía Đông (Đông Anh - Cổ Loa - Yên Viên - Trung Mầu - Như Quỳnh - Tân Quang - Văn Giang - Ngọc Hồi) của tuyến đường sắt vành đai.

- Tuyến đường sắt xuyên tâm: Yên Viên - Long Biên - ga Hà Nội - Văn Điển - Ngọc Hồi.

g) Hàng không

- Mở rộng cảng hàng không quốc tế Nội Bài

h) Đường thủy

- Chỉnh trị, cải tạo tuyến sông Hồng

- Chỉnh trị, cải tạo tuyến đường thuỷ sông Đáy

- Chỉnh trị, cải tạo tuyến đường thuỷ sông Nhuệ.

- Phát triển giao thông đường thuỷ trên sông Đuống

2. Cấp điện

- Xây dựng, lắp đặt thêm máy trạm 500 KV Hiệp Hoà, trạm 500 KV Thường Tín, trạm 500 KV Hoài Đức, trạm 500 KV Đông Anh

- Xây dựng đường dây 500 KV Quảng Ninh - Hiệp Hoà, Hiệp Hoà - Phố Nối.

- Xây dựng, lắp đặt thêm máy 2 tại trạm 220 KV Vân Trì, An Dương, Long Biên, Sơn Tây, Xuân Mai, Thường Tín; trạm 220 KV Đông Anh, Hoài Đức, Chương Mỹ, Văn Điển, Sóc Sơn 2, Đông Anh 2.

- Xây dựng các đường dây 220 KV Hiệp Hòa (Sóc Sơn) - Đông Anh, Long Biên - Đông Anh, An Dương - Mai Động, Hoài Đức (Hà Tây) - Đông Anh.

- Ngầm hóa mạng lưới điện tại khu vực nội thành

- Phát triển mạng lưới cấp điện cho các khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu du lịch

- Cải tạo mạng lưới điện nông thôn.

3. Thông tin - truyền thông

- Xây dựng các khu công nghiệp công nghệ thông tin

- Chương trình xây dựng công nghiệp phần mềm và nội dung số

- Ngầm hóa mạng lưới cáp viễn thông tại khu vực nội thành

- Đổi mới phương thức cung cấp thông tin và dịch vụ công (trực tuyến)

- Chương trình xây dựng nền hành chính điện tử

- Khu Trung tâm Báo chí quốc gia (khu vực Mỹ Đình)

- Trường Đại học Thông tin và Truyền thông quốc gia

- Trung tâm quản lý Tần số khu vực I.

4. Cấp nước

            - Mở rộng Nhà máy nước mặt sông Đà

            - Xây dựng Nhà máy nước mặt sông Đuống

            - Xây dựng Nhà máy nước mặt sông Hồng 1 và 2

            - Cải tạo mạng lưới phân phối

            - Đầu tư hệ thống cấp nước cho một số khu vực phía Tây thành phố, phía Bắc sông Hồng, các khu đô thị mới, các đô thị vệ tinh.

5. Thủy lợi, thoát nước và xử lý nước thải

            - Dự án 2 - Dự án thoát nước nhằm cải thiện môi trường Hà Nội

            - Dự án thoát nước lưu vực sông Nhuệ

            - Dự án thoát nước cho khu vực phát triển đô thị nằm giữa lưu vực Hữu Nhuệ và Tả Đáy

            - Xây dựng các hệ thống tưới và tiêu cho các vùng chuyên canh

            - Đầu tư hệ thống thoát nước mưa khu vực quận Long Biên và Bắc Thăng Long - Vân Trì thuộc huyện Đông Anh

            - Dự án nhà máy xử lý nước thải Yên Sở

            - Dự án nhà máy xử lý nước thải Yên Xá

            - Dự án nhà máy xử lý nước thải Phú Đô

6. Xử lý chất thải rắn

- Khu xử lý chất thải rắn Phù Đổng (Gia Lâm),

- Khu XLCTR Kiêu Kỵ,

- Nhà máy phân Hữu Bằng,

- Nhà máy XLCTR Cầu Diễn,

- Nhà máy phân hữu cơ Núi Thoong,

- Nhà máy phân hữu cơ Cao Dương,

- Khu XLCTR An Phú,

- Nhà máy XLCTR Tiến Sơn,

- Khu XLCTR Đồng Ké,

- Khu XLCTR Xuân Sơn (Sơn Tây).

7. Nghĩa trang

- Đầu tư một số cơ sở hỏa táng.

- Mở rộng nghĩa trang Yên Kỳ.

- Mở rộng nghĩa trang Thanh Tước

- Mở rộng nghĩa trang Sóc Sơn

- Xây dựng mới nghĩa trang Mai Dịch II.

 

II. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VÀ NHÀ Ở

1. Chương trình phát triển các khu đô thị mới

2. Chương trình cải tạo các chung cư cũ

3. Chương trình phát triển các đô thị vệ tinh

4. Thực hiện Dự án Quy hoạch cơ bản sông Hồng khu vực Hà Nội

5. Chương trình phát triển nhà ở, nhà tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng

III. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

1. Du lịch

- Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng hồ Suối Hai - núi Ba Vì

- Khu du lịch văn hoá, môi trường Hương Sơn

- Khu du lịch sinh thái văn hoá Sóc Sơn

- Khu di tích - du lịch Cổ Loa

- Hệ thống các khu du lịch, điểm du lịch sinh thái ven sông Hồng

- Phát triển du lịch làng nghề

2. Thương mại - dịch vụ

- Trung tâm thương mại - tài chính tại khu đô thị mới Tây Hồ Tây

- Trung tâm hội chợ - triển lãm - thương mại quốc tế ở khu vực Từ Liêm

- Mở rộng, xây dựng mới các trung tâm thương mại

- Mở rộng, xây dựng mới các siêu thị

- Xây dựng, nâng cấp các chợ đầu mối

 

IV. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI

1. Giáo dục - đào tạo

- Dự án kiên cố hóa, tiến dần hiện đại hóa các trường mầm non và phổ thông

- Xây dựng các trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia

- Xây dựng đô thị đại học tại Hòa Lạc

- Xây dựng cụm các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề tại các đô thị vệ tinh

- Đầu tư xây dựng các trường đại học trọng điểm

- Xây dựng trường đào tạo nghề mới ở các huyện chưa có trường dạy nghề

- Xây dựng các trường trung cấp chuyên nghiệp ngang tầm khu vực

- Xây dựng một số trung tâm đào tạo nghề kỹ thuật cao

- Xây dựng các trung tâm đào tạo ngoại ngữ, tin học đạt tiêu chuẩn quốc tế

2. Y tế

- Xây dựng khu khám chữa bệnh đạt trình độ quốc tế tại khu đô thị mới

- Xây dựng Bệnh viện đa khoa Hoà Lạc (tại huyện Thạch Thất)

- Xây dựng Bệnh viện đa khoa khu vực tại các huyện Ba Vì, Mỹ Đức, Phú Xuyên

- Nâng cấp các bệnh viện loại 3 lên loại 2 và loại 1

- Xây dựng xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế

- Đầu tư xây dựng cụm Trung tâm y tế chuyên sâu (tổ hợp nghiên cứu, khám chữa bệnh) tại huyện Gia Lâm

- Đầu tư xây dựng cụm Trung tâm y tế chuyên sâu (tổ hợp nghiên cứu, khám chữa bệnh) tại khu vực huyện Đan Phượng - Quốc Oai

- Đầu tư xây dựng cụm Trung tâm y tế chuyên sâu (tổ hợp nghiên cứu, khám chữa bệnh) tại khu vực huyện Thường Tín - Phú Xuyên

- Đầu tư xây dựng cụm Trung tâm y tế chuyên sâu (tổ hợp nghiên cứu, khám chữa bệnh) tại huyện Chương Mỹ

- Đầu tư xây dựng cụm Trung tâm y tế chuyên sâu (tổ hợp nghiên cứu, khám chữa bệnh) tại khu vực huyện Sóc Sơn - Mê Linh

3. Văn hóa

- Dự án bảo tồn, tôn tạo Khu Hoàng thành Thăng Long

- Khu di tích Thành cổ Hà Nội

- Khu di tích thành Cổ Loa (Đông Anh)

- Bảo tồn, cải tạo khu phố cổ

- Khu di tích đền Sóc (Sóc Sơn)

- Thành cổ Sơn Tây

- Hình thành hệ thống các cửa ô mới

- Xây dựng mới Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Việt Nam, Bảo tàng Quân đội

- Nâng cấp Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Công an nhân dân, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

4. Thể dục - thể thao

- Hoàn thiện Khu liên hợp thể dục thể thao Quốc gia tại Mỹ Đình

- Hoàn thiện Khu liên hợp thể dục thể thao của Thành phố tại Nhổn

- Xây dựng, nâng cấp Trung tâm TDTT các quận, huyện

- Đầu tư phát triển mạng lưới sân golf

- Xây dựng Trung tâm thể thao phục vụ ASIAD

5. Khoa học - công nghệ

- Đầu tư xây dựng Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm.

- Đầu tư xây dựng Trung tâm tư vấn và giám định công nghệ.

- Dự án đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện của Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng.

- Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội.

- Trung tâm giao dịch công nghệ thường xuyên.

- Xây dựng khu công nghệ cao của thành phố Hà Nội.

V. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP, TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

            1. Các khu công nghiệp dự kiến phát triển giai đoạn đến năm 2015

- KCN Bắc Thường Tín (Huyện Thường Tín)

- KCN Phụng Hiệp (Huyện Thường Tín)

- KCN Quang Minh II (Huyện Mê Linh)

- KCN sạch Sóc Sơn (Huyện Sóc Sơn)

- KCN Nam Phú Cát (Huyện Quốc Oai)

- Khu công viên công nghệ thông tin Hà Nội (Quận Long Biên)

- Khu công nghệ cao sinh học (Huyện Từ Liêm)

- KCN Đông Anh (Huyện Đông Anh)

- KCN Kim Hoa (Phần diện tích thuộc Mê Linh)

2. Các khu công nghiệp xây dựng mới và mở rộng giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến 2030

- KCN Phú Xuyên (huyện Phú Xuyên)

- KCN Thanh Oai I (huyện Thanh Oai)

- KCN Thanh Mỹ - Xuân Sơn (TX Sơn Tây)

- KCN Phúc Thọ (huyện Phúc Thọ)

- KCN Khu Cháy (huyện Ứng Hòa)

- KCN Sóc Sơn II (huyện Sóc Sơn)

- KCN Thanh Oai II (huyện Thanh Oai)

- KCN hỗ trợ Nam Hà Nội

- KCN Sóc Sơn III (huyện Sóc Sơn)

- KCN Sóc Sơn IV (huyện Sóc Sơn)

- KCN Sóc Sơn V (huyện Sóc Sơn)

- KCN Habeco (huyện Thường Tín)

- KCN sạch Bình Phú - Phùng Xá (huyện Thạch Thất)

- KCN Nam Tiến Xuân (huyện Chương Mỹ)

- KCN Tiến Thắng (huyện Mê Linh)

- Mở rộng KCN Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ)

 

VI. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

            1. Nông lâm thủy sản

            - Xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao

            - Xây dựng các vùng rau an toàn, rau cao cấp

            - Xây dựng các vùng hoa, cây cảnh tập trung

            - Phát triển các vùng cây ăn quả đặc sản

            - Xây dựng các vành đai xanh và hành lang xanh cho khu vực nội thành

            - Xây dựng các khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư

            - Nâng cấp, xây dựng các trung tâm công nghệ sinh học phục vụ sản xuất, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi và bảo tồn các loại gien quý hiếm

            - Khai thác diện tích đất bằng và đồi núi chưa sử dụng.

2. Chương trình xây dựng nông thôn mới

- Quy hoạch xây dựng các xã, trung tâm cụm xã

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn

- Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất khu vực nông thôn

- Phát triển văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường khu vực nông thôn

 

 


[1] (PPP - Public Private Partnership: Hợp tác Công - Tư; TOT: Transfer - Operate - Transper: Chuyển giao - Kinh doanh - Chuyển giao);

[2] Các lần: năm 1961, 1978, 1991 và 2008.

[3] 05 tuyến hướng tâm: HN-HCM, HN-Lạng Sơn, HN-Lào Cai, HN-Hải Phòng, HN-Thái Nguyên.

[4] Các tuyến QL số 5, 18: HN - Hải Phòng, Quảng Ninh; tuyến 1A: HN -  Lạng Sơn và đi phía Nam; tuyến 6: HN -  Tây Bắc; tuyến số 32: HN -  Sơn Tây; tuyến số 3: HN  - Thái Nguyên; tuyến số 2: HN  - Việt Trỡ

[5] Điển hình là các dự báo của WB, IMF (sử dụng các mô hình này) thường có kết quả sai biệt lớn với thực tế diễn ra sau đó.

[6] Ngoài các quan hệ kinh tế như ở cấp quốc gia, nền kinh tế địa phương còn phải tính đến quan hệ kinh tế với các tỉnh, thành khác.

[7] Ngòai ra, còn có các yếu tố như địa lý, lịch sử, và văn hóa cũng được cho là có tác động quan trọng đến tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, ở đây chúng ta không có các điều kiện đề cập các nhân tố này.

Theo dõi chúng tôi